Tóm tắt Luận án Việc làm cho người lao động nông thôn ở tỉnh Hủa Phăn nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào

Chương 2

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VIỆC LÀM

CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG NÔNG THÔN

2.1. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM VÀ VAI TRÒ CỦA VIỆC LÀM CHO

NGƯỜI LAO ĐỘNG NÔNG THÔN

2.1.1. Khái niệm việc làm, việc làm cho người lao động nông thôn

2.1.1.1. Khái niệm việc làm

Từ các cách tiếp cận trên, tác giả luận án cho rằng: Việc làm là các hoạt

động không bị pháp luật cấm mà người lao động tiến hành để được nhận tiền

công, tiền lương hay thù lao lao động cho công việc đó, hoặc những công việc tự

làm mang lại lợi ích cho bản thân, tạo ra thu nhập cho gia đình, cho cộng đồng,

kể cả những công việc được trả công bằng hiện vật.

Như vậy, một hoạt động được coi là việc làm cần thỏa mãn hai điều kiện như sau:

Một là, hoạt động đó phải tạo ra thu nhập cho người lao động và đem lại lợi

ích cho gia đình hay cộng đồng. Điều kiện này chỉ rõ tính mục đích của việc làm.

Hai là, người lao động được tự do hành nghề, hoạt động đó không bị pháp

luật cấm. Điều này chỉ rõ tính pháp lý của việc làm.

Hai điều kiện trên có quan hệ chặt chẽ với nhau, là điều kiện cần và đủ của

một hoạt động được thừa nhận là việc làm, quan niệm này có cách nhìn về việc

làm rộng rãi hơn và tạo khả năng hiện thực hơn về việc làm, cho đa số người lao

động. Trái với những quan niệm cũ cho rằng, chỉ khi nào chen chân vào được các

doanh nghiệp hay cơ quan nhà nước mới coi là có việc làm.

Việc làm với tư cách là phạm trù của nền kinh tế thị trường hình thành trong

bối cảnh: Một bộ phận dân cư có sức lao động song không thể lao động do thiếu

các điều kiện cần thiết khác. Mục tiêu của việc làm là thu nhập.

pdf27 trang | Chia sẻ: lavie11 | Lượt xem: 450 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Tóm tắt Luận án Việc làm cho người lao động nông thôn ở tỉnh Hủa Phăn nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Đảng và Nhà nước CHDCND Lào đã hoạch định chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và ban hành, tổ chức triển khai thực hiện nhiều chính sách, chương trình, giải pháp. Trong đó, cụ thể và thiết thực nhất là: Các chính sách khuyến khích, tạo môi trường mới gọi các nhà đầu tư trong và ngoài nước đầu tư vào nông thôn, phát triển nông thôn, nâng cấp và xây dựng mới kết cấu hạ tầng, triển khai thực hiện chương trình tăng cường công tác đào tạo nghề và giới thiệu việc làm v.v... Do vậy, việc làm cho người lao động nông thôn cần đảm bảo các yêu cầu sau: 2.2.1.1. Tăng lượng cầu lao động nông thôn Lượng cầu về lao động nông thôn là số lượng lao động mà các tổ chức kinh tế - xã hội có nhu cầu sử dụng và có khả năng chi trả tiền công, tiền lương để được quyền sử dụng sức lao động đó trong thời gian nhất định. 2.2.1.2. Nâng cao chất lượng cung lao động nông thôn Một tất yếu xảy ra là tại khu vực nông thôn khi tiến hành đô thị hóa, CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn đặc biệt sau khi thu hồi đất sẽ tăng cung về lao động nông thôn. 2.2.1.3. Mở rộng các hình thức giải quyết việc làm cho người lao động nông thôn Vì việc làm cho lao động nông thôn có vai trò rất quan trọng đối với cuộc sống của bản thân người nông dân và góp phần đáng kể vào sự phát triển KT-XH của địa phương nên mở rộng các hình thức giải quyết việc làm cho lao động ở nông thôn là một yêu cầu cấp thiết. Nó dựa trên các hình thức cơ bản như sau: Một là, thông qua đào tạo nghề, các trung tâm giới thiệu việc làm. Hai là, thông qua xuất khẩu lao động. Ba là, thông qua các tổ chức chính trị - xã hội. Bốn là, thông qua các chương trình mục tiêu quốc gia. Năm là, thông qua sự phối hợp giữa nhà nước, người sử dụng lao động và người lao động nông thôn 2.2.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến việc làm cho người lao động nông thôn Có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến việc làm cho lao động nông thôn, trong đó có những nhân tố cơ bản như sau: Thứ nhất, ảnh hưởng của đô thị hóa, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đến việc làm cho người lao động nông thôn. Thứ hai, ảnh hưởng của quy mô và cơ cấu dân số đến việc làm cho người lao động nông thôn. Thứ ba, ảnh hưởng của các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đến việc làm cho người lao động nông thôn. Thứ tư, ảnh hưởng của giáo dục và đào tạo đến việc làm cho người lao động nông thôn. 9 Thứ năm, ảnh hưởng của công tác y tế, chăm sóc sức khỏe đến việc làm cho người lao động nông thôn. Thứ sáu, ảnh hưởng của thị trường sức lao động đến việc làm cho người lao động nông thôn. Thứ bảy, ảnh hưởng của sự phát triển của khoa học - công nghệ đến việc làm cho lao động nông thôn. Thứ tám, ảnh hưởng của chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động đến việc làm cho người lao động nông thôn. 2.3. KINH NGHIỆM GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG NÔNG THÔN CỦA MỘT SỐ TỈNH Ở VIỆT NAM VÀ LÀO 2.3.1. Kinh nghiệm của một số địa phương ở Việt Nam Luận án tập trung nghiên cứu kinh nghiệm đảm bảo cho việc làm cho người lao động nông thôn của một số địa phương ở Việt Nam như: Kinh nghiệm của tỉnh Sơn La, tỉnh Thanh Hóa và tỉnh Nghệ An. Những kinh nghiệm này là rất bổ ích, cho tỉnh Hủa Phăn cần nghiên cứu, sử dụng cho phù hợp với điều kiện thực tế của Tỉnh Hủa Phăn nói riêng và Lào nói chung. 2.3.2. Kinh nghiệm của một số địa phương của Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào Luận án tập trung nghiên cứu kinh nghiệm đảm bảo cho việc làm cho người lao động nông thôn của một số địa phương của CHDCND Lào như Kinh Nghiệm của tỉnh Luông Pra Bang, tỉnh Xiêng Khoảng và tỉnh Sa Văn Na Khệt. Những kinh nghiệm này là rất bổ ích, cho tỉnh Hủa Phăncần nghiên cứu, sử dụng cho phù hợp với điều kiện thực tế của Tỉnh Hủa Phăn nói riêng và Lào nói chung. 2.3.3. Bài học kinh nghiệm cho tỉnh Hủa Phăn về giải quyết việc làm cho người lao động nông thôn Thứ nhất, Nhà nước cần phải có chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và những chính sách ở tầm vĩ mô để thực thi có hiệu lực, hiệu quả vai trò quản lý nhà nước về phát triển kinh tế - xã hội, góp phần tích cực giải quyết việc làm cho người lao động nông thôn. Thứ hai, phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn một cách toàn diện phù hợp với tiềm năng, lợi thế của địa phương. Đẩy mạnh thâm canh tăng năng suất cây trồng, vật nuôi, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động làm cơ sở tạo tiền đề cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với sự phát triển đa dạng các ngành nghề; Thứ ba, đa dạng hóa các hình thức giải quyết việc làm cho lao động nông thôn, trên cơ sở phát triển kinh tế - xã hội nông thôn để tạo việc làm, khôi phục và 10 phát triển các ngành nghề truyền thống đẩy mạnh phát triển tiểu thủ công nghiệp, nâng cao đời sống của nông dân. Phát triển hệ thống dịch vụ và chất lượng hoạt động của các trung tâm môi giới việc làm. Thứ tư, đào tạo nghề và nâng cao trình độ nghề nghiệp cho lao động nông thôn đáp ứng nhu cầu thị trường sức lao động trong quá trình phát triển nông nghiệp vững chắc và lấy phát triển công nghiệp làm cơ sở tạo tiền đề cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Thứ năm, đẩy mạnh việc thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước để chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa; phát triển kinh tế, tạo nhiều việc làm cho người lao động nông thôn. Thứ sáu, sử dụng và quản lý tốt Quỹ quốc gia hỗ trợ việc làm cho người lao động ở nông thôn. Xây dựng các đề án thành lập trung tâm giới thiệu việc làm, sàn giao dịch việc làm hỗ trợ thanh niên nông thôn trong việc tìm kiếm, hỗ trợ, tư vấn pháp lý khi tham gia tìm việc làm trong các tổ chức, doanh nghiệp, hoặc tham gia xuất khẩu lao động. Chương 3 THỰC TRẠNG VIỆC LÀM CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG NÔNG THÔN Ở TỈNH HỦA PHĂN NƯỚCCỘNG HÒA DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO GIAI ĐOẠN 2010-2016 3.1. KHÁI QUÁT ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA TỈNH HỦA PHĂN TÁC ĐỘNG ĐẾN VIỆC LÀM CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG NÔNG THÔN 3.1.1. Đặc điểm tự nhiên của tỉnh Hủa Phăn, nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào Thứ nhất, về vị trí địa lý: Hủa Phăn là một tỉnh thuộc khu vực Đông Bắc nước Cộng hòa Dân chủ Nhân Lào: Phía Bắc, Đông Bắc và Đông Nam giáp tỉnh Sơn La, Thanh Hóa, Nghệ An (Việt Nam) phía Tây Nam giáp với tỉnh Xiêng Khoảng và tỉnh Luông Phạ Bang. có diện tích tự nhiên là: 16.500 km2, độ cao 960 m so với mặt nước biển. Thị xã Sầm Nưa cách Thủ đô Viêng Chăn 600 Km theo Quốc lộ 43 và Quốc lộ 13. Thứ hai, về địa hình, khí hậu, thổ nhưỡng: Hủa Phăn là tỉnh miền núi phía bắc cho nên có độ ẩm lớn, có nhiệt độ đồng đều, nhận được nhiều ánh sáng mặt trời và ít bị ảnh hưởng từ thiên tai như: hạn hán, lũ lụt, bão nhiệt độ bình quân trong năm 210c, số lượng trời nắng 9 tiếng 11 đồng hồ/ngày, số lượng nước mưa bình quân 1,437.5 mm/năm. Trong năm có hai mùa rõ rệt như: mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 10; trong giai đoạn này có mưa nhiều hơn là từ tháng 8-9, làm cho các địa phương bị lũ lụt. 3.1.2. Đặc điểm kinh tế - xã hội của tỉnh Hủa Phăn, nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào Thứ nhất, đặc điểm kinh tế. Sau 30 năm đổi mới, kinh tế nông thôn ở nước CHDCND Lào nói chung, ở tỉnh Hủa Phăn nói riêng có sự chuyển dịch tích cực, cơ cấu kinh tế của tỉnh đang chuyển dịch theo hướng tăng quy mô của tất cả các ngành, tăng dần tỷ trọng của các ngành công nghiệp, xây dựng và dịch vụ, giảm dần tỷ trọng ngành nông nghiệp trong cơ cấu GDP. Năm 2011-2012 tỷ trọng nông nghiệp chiếm 63,80%, công nghiệp chiếm 14,86%, dịch vụ chiếm 21,34%. năm 2013 lên 761 USD/người/năm vào năm 2014-2015 đạt được 2,074 tỷ kíp bình quân đầu người từ 864 USD/người/năm. Giai đoạn từ năm 2015-2016 kinh tế tỉnh Hủa Phăn tiếp tục tăng trưởng với tốc độ 8,20%, trong đó công nghiệp-xây dựng tăng 3,85% chiếm 17,85%, của GDP; dịch vụ tăng 11,05% chiếm 37,80% của GDP và ngành nông nghiệp tăng 5,76% chiếm 44,36% của GDP, GDP bình quân đầu người theo thực tế từ 2015- 2016 đạt được 2.206,75 tỷ kíp, bình quân đầu người đạt được 919,66 USD/năm. Thứ hai, đặc điểm về kết cấu hạ tầng. Trong thời gian qua quá trình xây dựng kết cấu hạ tầng cơ bản đã có bước phát triển mới, tạo điều kiện thuận lợi trực tiếp và gián tiếp cho lưu thông và vận chuyển hàng hóa. Hiện nay, toàn tỉnh cơ bản có đường giao thông đi lại tới các bản đến 100%. Trong thời gian vừa qua (2011- 2016) tỉnh đầu tư với tổng kinh phí 635,99 tỷ kíp tương đương trong đó vốn đầu tư trong nước 5.803,52 tỷ kíp, vốn đầu tư nước ngoài 31,49 tỷ kíp Thứ ba, đặc điểm về văn hóa, xã hội. Tỉnh Hủa Phăn có văn hóa truyền thống tốt đẹp của các bộ tộc được giữ gìn, bảo tồn và phát triển, các ban ngành quan tâm đến vấn đề phòng chống những văn hóa mê tín dị đoan làm thiệt hại đến truyền thống văn hóa tốt đẹp của các bộ tộc và văn hóa cộng đồng. Thúc đẩy phong trào văn hóa văn nghệ, bảo tồn và phát triển văn hóa truyền thống của các bộ tộc; trong 5 năm (2011- 2016) xây dựng bản văn hóa được 282 bản, có 25,683 hộ gia đình. Thứ tư, đặc điểm về y tế, giáo dục và đào tạo. Hiện nay tỉnh Hủa Phăn có 10 bệnh viện, cấp tỉnh 01 cấp huyện 09, có 395 giường và có 68 trạm y tế cấp khu vực, có 121 giường. Được xây dựng kiên cố, bác sĩ phục vụ tuyến cơ sở rất ít, đến nay mạng lưới y tế được mở rộng đến tận khu vực cùm bản, 100% trạm y tế được ngói hóa và cơ bản có 728 bác sĩ phục vụ, 12 cấp tỉnh có 227 bác sĩ, cấp huyện có 352 bác sĩ và cấp khu vực 149 bác sĩ. Tính bình quân 01 bác sĩ/250 người dân. Công tác chăm sóc, bảo vệ súc khỏe nhân dân có nhiều tiến bộ. Trong những năm qua giáo dục ở tỉnh Hủa Phăn đã có những tiến bộ đáng kể; thực hiện cải cách và phát triển mạng lưới giáo dục ở khắp tỉnh và địa phương dựa trên 3 dự án của Bộ giáo dục - Thể thao Lào. Gần 100% số giáo viên tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông đã qua đào tạo đạt tiêu chuẩn quốc gia; số trường học cũng đã tăng lên. 3.2. KẾT QUẢ, HẠN CHẾ VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA TRONG GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG NÔNG THÔN Ở TỈNH HỦA PHĂN 3.2.1. Tình hình lao động nông thôn ở tỉnh Hủa Phăn 3.2.1.1. Về quy mô lao động nông thôn ở tỉnh Hủa Phăn Ở tỉnh Hủa Phăn năm 2011, số lao động toàn tỉnh là 143.128 người, đến 2015 số lao động tăng lên 186.659 người (tăng 43.531 người). Đây là một lợi thế rất lớn về lao động trong tỉnh trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời cũng là thách thức để giải quyết việc làm cho lực lượng lao động này. Như vậy, bình quân hàng năm giai đoạn 2011-2015, số người bước vào tuổi lao động của tỉnh Hủa Phăn là 8.760 người - 10.000 người. Dân số biến động cơ học ảnh hưởng không lớn đến quy mô lao động, nhưng chủ yếu biến động do tăng tự nhiên về dân số. Bảng 3.1: Quy mô dân số và lực lượng lao động nông thôn ở tỉnh Hủa Phăn giai đoạn 2011- 2016 Đơn vị: Người Năm Nội dung 2011-2012 2012-2013 2013-2014 2014-2015 2015-2016 Dân số trung bình 290.241 291.473 294.907 297.179 296.851 Lực lượng lao động 143.128 152.359 169.210 176.668 186.659 % Lực lượng lao động 49,31 52,27 57,37 59,44 62,87 Lực lượng LĐ nông thôn 137.252 132.722 134.848 129.401 128.534 % LLLĐ nông thôn/tổng số LL lao động 95,8 87,1 79,6 73,2 68,8 Nguồn: Niên giám thống kê Hủa Phăn năm 2015 Bảng thống kê trên cho thấy, lực lượng lao động chiếm tỷ lệ cao tại khu vực nông thôn, năm 2011-2012 là 137.252 người, chiếm 95,8%, đến năm 2015-2016 tuy đã được chuyển đổi nhanh chóng nhưng lực lượng lao động nông thôn vẫn còn 128.534 người, chiếm 68,8% lực lượng lao động trong độ tuổi lao động của tỉnh. 3.2.1.2. Cơ cấu lực lượng lao động nông thôn ở tỉnh Hủa Phăn Luật Lao động của CHDCND Lào (2015), quy định giới hạn độ tuổi lao động với nam giới là 15- 60 tuổi tuổi, nữ là 15- 55-60 tuổi. Lực lượng lao động 13 nông thôn tỉnh Hủa Phăn năm 2014 có 129.401 người, chiếm 73,2% so với tổng số lực lượng trong độ tuổi lao động. Lực lượng lao động ở tỉnh Hủa Phăn nói chung, lực lượng lao động ở nông thôn tỉnh Hủa Phăn nói riêng phần lớn là lao động trẻ năm 2014 số lao động có độ tuổi từ 15 đến 24 bổ sung vào lực lượng lao động là 13,3%, số lao động có độ tuổi 25 đến 34 chiếm đến 29,8%. Đây là thế mạnh của lực lượng lao động nông thôn ở tỉnh Hủa Phăn; vì lực lượng lao động này có nhiều ưu thế về sức khỏe, trình độ văn hóa, dễ dàng tiếp thu những kiến thức và tiếp nhận chuyển giao khoa học công nghệ trong sản xuất hàng hóa và kinh doanh phát triển mạnh kinh tế ở khu vực nông thôn. Số người lao động ở độ tuổi 35 đến 44 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất 31,2%. Lực lượng lao động nông thôn chủ yếu của tỉnh là lực lượng tạo ra của cải vật chất trong các ngành kinh tế của tỉnh, đặc biệt trong lĩnh vực phát triển sản xuất nông nghiệp, bảo vệ an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội cho cộng đồng dân cư trong tỉnh. Theo báo cáo của Ban tổng kết thực hiện phát triển tay nghề tìm việc làm năm 2016 có khoảng 3.754.294 lao động, chiếm 55,67%, dân số cả nước. Trong đó khu vực nông thôn 2.895.179 người, do đó lực lượng lao động nông thôn chiếm 77,11% lực lượng lao động xã hội cả nước . 3.2.1.3. Chất lượng lao động nông thôn ở tỉnh Hủa Phăn Trình độ dân trí của nhân dân phần lớn còn thấp, phần lớn là lao động phổ thông. Sự phân công và ngành nghề chưa cụ thể, phương thức sản xuất còn lạc hậu chưa đáp ứng được nhu cầu sản xuất của việc phát triển kinh tế nông nghiệp. Bảng 3.2: Nguồn lao động theo trình độ đào tạo giai đoạn 2010-2016 ở tỉnh Hủa Phăn Đơn vị: Người Tỷ trọng (%) Năm Nội dung 2010-2011 2015-2016 2010-2011 2015-2016 Lực lượng lao động 143.128 184.659 100,00 100,00 1. Lao động chưa qua đào tạo 117.601 121.621 82,16 65,86 2. Lao động có CMKT 25.527 63.038 17,83 43,13 Trong đó: - CNKT không có bằng 8.102 9.002 5,66 4,87 - CNKT có bằng 3.110 6.005 2,17 3,25 - Sơ cấp 3.107 12.015 2,17 6,50 - Trung cấp 5.106 16.004 4,2 8,66 - Cao đẳng, đại học trở lên 6.105 20.012 4,26 10,83 Nguồn: Sở Lao động và Phúc lợi xã hội, Tỉnh Hủa Phăn Tổng kết thực hiện kế hoạch học tập từ năm 2010-2016. 14 Từ số liệu ở trên cho thấy, lao động có sự chuyển dịch tích cực đã hình thành bước đầu lao động có tay nghề, kỹ năng, kỹ xảo làm việc ở một số ngành kỹ thuật, dịch vụ như: điện tử, công nghệ thông tin, sản xuất, lắp ráp các sản phẩm ô tô, xe máy, điện, bảo hiểm, ngân hàng, tư vấn, đặc biệt là bước đầu có thể đáp ứng nhu cầu phát triển các ngành công nghiệp phụ trợ trên địa bản. Trong đó, đã có một bộ phận lao động được tiếp cận với trình độ tiên tiến của khu vực, phản ánh đúng và từng bước đáp ứng định hướng phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh theo hướng CNH, HĐH. Tuy đã có những chuyển biến tích cực ở chỗ số lượng lao động có trình độ đại học và cao đẳng có tỷ lệ tăng lên, nhưng số lượng lao động có chuyên môn sơ cấp và công nhân kỹ thuật có bằng lại giảm xuống, là một cơ cấu bất hợp lý. Cơ cấu đào tạo người lao động của tỉnh đang trong tình trạng thầy nhiều hơn thợ. Đây là hạn chế cần khắc phục trong tương lai cả về số lượng, chất lượng và cơ cấu đào tạo, là một thách thức rất lớn đối với tỉnh Hủa Phăn. 3.2.2. Thực trạng thất nghiệp, thiếu việc làm và lao động có việc làm 3.2.2.1. Tình hình thất nghiệp và thiếu việc làm Quy hoạch sử dụng đất theo hướng chuyển đổi mục đích sử dụng từ phục vụ sản xuất nông nghiệp sang phục vụ sản xuất công nghiệp, thương mại, dịch vụ và quy hoạch chỉnh trang đô thị trong quá trình đô thị hóa sẽ làm xuất hiện một bộ phận không nhỏ những người lao động diện thu hồi đất sản xuất (đất sản xuất nông nghiệp và mặt bằng sản xuất, kinh doanh các ngành nghề phi nông nghiệp), mất việc làm hoặc buộc phải chuyển đổi việc làm. Những vấn đề trên đây đã cản trở nhóm dân cư này trong việc tìm kiếm các cơ hội chuyển đổi việc làm mới, biến họ trở thành những người thất nghiệp. Bảng 3.3: Tình hình thiếu việc làm của lực lượng lao động giai đoạn 2012- 2016 ở tỉnh Hủa Phăn Đơn vị: Người Tiêu chí 2012-2013 2013-2014 2014-2015 2015-2016 Dân số trung bình 291.473 294.907 297.179 296.851 Lực lượng lao động 152.359 169.210 176.668 186.659 Lực lượng lao động có việc làm 139.868 155.157 156.232 169.128 Lực lượng lao động thiếu việc làm 12,491 14,053 20.436 17.531 Tỷ lệ thất nghiệp % 8,21 8,30 11,56 9,39 Nguồn: Sở Lao động và Phúc lợi xã hội tỉnh Hủa Phăn (2015). Qua bảng trên cho thấy tỷ lệ thất nghiệp giai đoạn 2012-2013 là 8,21%, tăng lên 11,56% giai đoạn 2014-2015 nhưng có xu hướng giảm mạnh vào năm 2015- 2016 là 9,39%. 15 3.2.2.2. Tình hình lao động có việc làm và thu nhập Thứ nhất, tình hình lao động có việc làm Trong thời gian qua, vấn đề việc làm ở tỉnh Hủa Phăn có nhiều chuyển biến tích cực. Hủa Phăn là một tỉnh miền núi có diện tích tự nhiên lớn nhưng dân số lại ít. Do đó, lực lượng lao động trong toàn tỉnh cũng ít hơn nhiều so với các tỉnh khác của Lào. Giai đoạn 2010-2011, lực lượng lao động nông thôn là 137.252 người, chiếm 95,8% lực lượng lao động cả nước. Đến giai đoạn 2015-2016 là 128.534 người, chiếm 68,8% Có thể nhận thấy, lực lượng lao động nông thôn tuy đã giảm nhưng vẫn chiếm tỷ lệ lớn trong cơ cấu lao động của tỉnh. Lực lượng lao động ở tỉnh Hủa Phăn nói chung, lực lương người lao động ở nông thôn tỉnh Hủa Phăn nói riêng phần lớn là lao động trẻ. Giai đoạn 2015-2016, tỷ lệ lao động có độ tuổi từ 15 đến 24 tuổi bổ sung vào lực lượng lao động chung của tỉnh là 13,3%, tỷ lệ lao động lao động có độ tuổi 25 đến 34 bổ sung vào lực lượng lao động 29,8% . Với nguồn lao động trẻ dồi dào, tỉnh Hủa Phăn đang có lợi thế lớn để để mở rộng sản xuất, phát triển kinh tế nông thôn. Nguồn lao động trẻ cũng gặp nhiều thuận lợi trong việc tiếp thu những tiến bộ của khoa học - công nghệ vào sản xuất của tỉnh. Bảng 3.4: Số lao động được tạo việc làm theo ngành và tỷ lệ lao động được tạo việc làm Đơn vị tính: người, % Năm Ngành 2013-204 2014-2015 2015-2016 I. Số lao động được tạo việc làm (lao động) 1.448 2.032 2.297 - Nông - lâm - ngư nghiệp 403 733 839 - Công nghiệp 175 277 288 - Dịch vụ 774 1.022 1.170 II. Phần trăm lao động được tạo việc làm (%) 100 100 100 - Nông - lâm - ngư nghiệp 27,8 36,07 36,81 - Công nghiệp 12,08 13,36 12,53 - Dịch vụ 32,73 50,29 50,93 Nguồn: Cục Thống kê tỉnh Hủa Phăn Qua bảng 3.8 cho thấy, tỷ trọng số lao động được tạo việc làm giữa các năm có sự biến đổi tăng giảm giữa các ngành trong kinh nền kinh tế. Từ khi có chính sách mở rộng sản xuất kinh doanh, chính sách hỗ trợ người dân vay vốn ưu đãi để đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh và các chương trình khuyến nông, khuyến ngư. Chính sách mở rộng các khu công nghiệp thu hút các nhà đầu tư vào đầu tư, đã thu hút không ít số lao động vào làm việc. Đây là lực lượng lao động chủ yếu của tỉnh, lực lượng tạo ra của cải vật chất trong các ngành kinh tế của tỉnh, đặc biệt trong lĩnh vực phát triển sản xuất nông 16 nghiệp bảo vệ an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội cho cộng đồng dân cư trong tỉnh. Thứ hai, tình hình thu nhập. Trong thời gian qua, nhờ có chính sách đổi mới, đời sống của nhân dân nói chung và người lao động nông thôn nói riêng đã thật sự có những tiến bộ đáng kể, song còn thấp xa so với yêu cầu để phát triển, nhất là đối với người lao động ở nông thôn. Nhìn chung thu nhập người lao động nông thôn ở tỉnh Hủa Phăn còn thấp. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến thu nhập của người lao động nông thôn thấp nhưng nguyên nhân đáng để nói là thu nhập chính từ nghề nông ở nông thôn tỉnh Hủa Phăn vấn còn chiếm tỉ trọng lớn, tình hình chuyển dịch cơ cấu sản xuất phát triển ngành nghề diễn ra quá chậm. Trên địa bàn tỉnh Hủa Phăn nông thôn có tới 80% số hộ có thu nhập chính từ nông nghiệp, còn tỉ lệ hộ có thu nhập từ ngành nghề chỉ đạt ở mức thấp 20%. Theo Báo cáo của Tổng Cục thống kê Lào, hiện nay bình quân thu nhập trên đầu người nói chung của Lào ở mức thấp nhất so với các nước trong khu vực Đông Nam Á (đạt khoảng 1.803 USD/năm, tương đương với 39,9 triệu đồng); trong đó, thu nhập bình quân trên đầu người của lao động nông thôn chỉ đạt khoảng 1.124 USD/năm, tương đương với 24,728 triệu đồng/năm. Đối với tỉnh Hủa Phăn, lao động nông thôn chiếm khoảng 80% tổng số lao động, trong đó thu nhập của lao động nông thôn chủ yếu từ các hoạt động sản xuất nông nghiệp. Bảng 3.5: Bình quân thu nhập của lao động nông thôn ở tỉnh Hủa Phăn trong những năm gần đây Đơn vị tính: triệu đồng/năm Năm 2013 Năm 2014 Năm 2015 Năm Thu nhập Tổng số Tỉ lệ (%) Tổng số Tỉ lệ (%) Tổng số Tỉ lệ (%) Tổng số thu nhập bình quân 22,519 100 24,423 100 24,728 100 Từ hoạt động nông nghiệp 18,541 82,35 20,019 81,97 19,769 79,94 Từ hoạt động phi nông nghiệp 3,978 17,65 4,404 18,03 4,959 20,06 Nguồn: Cục Thống kê tỉnh Hủa Phăn, năm 5015 Qua bảng số liệu trên, có thể nhận thấy, đa số thu nhập của lao động nông thôn ở tỉnh Hủa Phăn dựa vào các hoạt động sản xuất nông nghiệp (chiếm khoảng 80%), thu nhập từ các hoạt động sản xuất phi nông nghiệp chỉ chiếm khoảng 20%. Trong những năm gần đây, tỉ lệ thu nhập của lao động nông thôn ở hai khu vẹc này tuy có sự biến chuyển theo hướng tăng dần tỉ lệ thu nhập của lĩnh vực sản xuất phi nông nghiệp, giảm dần tỉ lệ thu nhập từ lĩnh vực sản xuất nông nghiệp nhưng su hướng này biến đổi còn chậm. Điều này phản ánh thực trạng là nền nông 17 nghiệp của tỉnh Hủa Phăn còn chậm phát triển, sản xuất hàng hóa, dịch vụ nông nghiệp chưa thực sự được đẩy mạnh nên thu nhập của người lao động nông thôn còn thấp, dựa chủ yếu vào các haotj động sản xuất nông nghiệp truyền thống. 3.2.3. Thực trạng các hình thức giải quyết việc làm cho người lao động nông thôn ở tỉnh Hủa Phăn Trong những năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng Nhân dân cách mạng Lào, các địa phương trên cả nước nói chung và tỉnh Hủa Phăn nói riêng đều quan tâm đến vấn đề giải quyết việc làm cho lao động ở nông thôn bởi đây là một trong những vấn đề quan trọng góp phần vào việc phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Hủa Phăn. 3.2.3.1. Thực trạng giải quyết việc làm thông qua đào tạo nghề Tỉnh đã chú trọng quan tâm đến việc đào tạo nghề cho thanh niên và nhân dân các bộ tộc. Toàn tỉnh hiện có 1 trường bổ túc, có 3 trung tâm dạy nghề và có 2 trường đại học, với số lượng học viên và giảng viên ngày càng tăng lên. Đây là nơi tạo điều kiện cho thanh niên, cán bộ và nhân dân các bộ tộc được tiếp cận kiến thức chuyên môn, nghề nghiệp, nâng cao trình độ tay nghề để phục vụ vào việc sản xuất và đời sống hàng ngày. Tạo việc làm cho 700 người, giới thiệu việc làm cho trên 800 người, trong đó 400 người được giới thiệu làm việc ở trong nước, 380 người giới thiệu đi nước ngoài. Giai đoạn 2015-2016 tỉnh đã chú trọng việc đào tạo nghề, bồi dưỡng tập huấn nghề nghiệp cho 1.035 người, trong đó nữ 615 người, nâng tỷ lệ lao động nông thôn qua đào tạo nghề đạt gần 34%, sử dụng thời gian lao động ở nông thôn đạt 60%. Đi đôi với việc tạo điều kiện cho người lao động có cơ hội học nghề và giải quyết việc làm, Tỉnh đã tăng cường chỉ đạo và triển khai thực hiện kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ. 3.2.3.2. Thực trạng giải quyết việc làm thông qua các chương trình mục tiêu quốc gia Trong thời gian vừa qua, tỉnh Hủa Phăn đã tập trung vào việc xóa đói giảm nghèo lồng ghép với việc phát triển nông thôn cũng như việc xây dựng bản và cụm bản phát triển. Tập trung đầu tư kinh phí và bố trí cán bộ với các công trình, dự án có liên quan đến việc xóa đói giảm nghèo như xây dựng bản văn hóa, bản 3 sạch, bản phổ cập giáo dục cơ bản năm 2010 cung cấp vốn hỗ trợ về trồng trọt, chăn nuôi và đầu tư kinh doanh cho 49 bản, với tổng kinh phí 3,79 tỷ kíp đến nay đã thu lãi suất được 430 triệu kíp. Kết quả 5 năm thực hiện (2010-2015), có 100 dự án với tổng chi phí 103,74 tỷ kíp, trong đó vốn đầu tư trong nước 69,58 tỷ kíp, vốn đầu tư nước ngoài 34,16 tỷ kíp: vốn trợ giúp từ tỉnh Sơn La và Công ty 705 của Việt Nam có 4 dự án với vốn đầu tư 1,8 tỷ kíp; đầu tư vào việc ổn định cư trú và xây dựng cơ sở có 4 dự án với vốn đầu tư 9,54 tỷ kíp; đầu tư vào việc xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn có 18 23 dự án với vốn đầu tư 11,44 tỷ kíp và đầu tư vào 3 cụm phát triển có 69 dự án với vốn đầu tư 80,96 tỷ kíp (trong đó vốn đầu tư trong nước 60% bằng 48,58 tỷ kíp, vốn đầu tư của Nhà nước Việt Nam 40% bằng 32,38 tỷ kíp). Nhờ sự quan tâm đầu tư rất lớn đó đã làm cho kết cấu hạ tầng nông thôn vùng sâu, vùng khó khăn có sự thay đổi tích cực, đời sống của nhân dân các bộ tộc ngày càng được cải thiện, tình hình chính trị ổn định, xã hội ngày càng công bằng hơn. 3.2.3.3. Thực trạng giải quyết việc làm cho người lao động nông thôn thông qua xuất khẩu lao động Công tác xuất khẩu lao động bước đầu được đẩy mạnh, thị trường xuất khẩu lao động được mở rộng hơn, chú trọng nhiều hơn đến những thị trường ổn định, có thu nhập khá cao. Tổ chức kinh tế tham gia tuyển dụng lao động đi xuất khẩu cũng được mở rộng hơn, nhiều đơn vị có năng lực đã tạo thuận lợi trong quá trình giáo dục định hướng cũng như b

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdftt_kham_phen_nop_qd_3859_2003243.pdf
Tài liệu liên quan