Tóm tắt Luận văn Đấu tranh phòng, chống tội phạm buôn lậu ở nước ta - Thực trạng và giải pháp

Chương 2

Thực trạng tình hình tội phạm buôn lậu

ở nước ta trong 5 năm (từ 1998 ư 2002)

(Từ trang 28 đến trang 66)

2.1. Thực trạng tình hình tội phạm buôn lậu ở nước ta trong 5 năm (từ 1998 đến 2002)

2.1.1. Tình hình tội phạm buôn lậu

- Trong 5 năm (1998ư2002), cơ quan công an nước ta đã phát hiện 34.358 vụ buôn lậu

(chiếm 54,9% tổng số các tội phạm kinh tế bị phát hiện). Trong đó, có 369 vụ buôn lậu được

toà án đưa ra xét xử với 1.224 bị cáo (chiếm 1,39% số vụ buôn lậu bị cơ quan công an phát

hiện).11

- Qua nghiên cứu thực tế và phân tích các số liệu thống kê về tình hình tội phạm buôn

lậu ở nước ta trong 5 năm (1998ư2002), tác giả rút ra những nhận xét sơ bộ sau đây:

Thứ nhất, các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế có xu hướng giảm dần theo từng năm

thì tội phạm buôn lậu lại có xu hướng tăng lên nhanh chóng. Điều này cho thấy đấu tranh phòng

chống tội phạm buôn lậu là một trong những vấn đề cấp bách trong tình hình hiện nay để bảo vệ

nền kinh tế đất nước.

Thứ hai, số lượng tội phạm ẩn trong tội phạm buôn lậu chiếm tỷ lệ lớn. Theo kết quả

nghiên cứu của Bộ Công an, số lượng tội phạm buôn lậu bị phát hiện trong những năm qua chỉ

chiếm 10%, còn lại 90% tội phạm buôn lậu chưa bị phát hiện vì các lý do khác nhau. Theo

chúng tôi những khó khăn trong bảo vệ đường biên giới trên bộ và trên biển là lý do cơ bản để

cho tội phạm này xảy ra nhưng rất khó có thể bị phát hiện.

Thứ ba, quan điểm xử lý đối với tội phạm buôn lậu tại nhiều địa phương chưa nhất

quán. Các vụ buôn lậu bị phát hiện nhiều nhưng chủ yếu là xử lý hành chính, xử lý hình sự chỉ

chiếm tỷ lệ rất nhỏ (1,39%). Đây là những khó khăn gặp phải trong cuộc đấu tranh phòng

chống tội phạm buôn lậu tình hình hiện nay.

 

pdf26 trang | Chia sẻ: lavie11 | Lượt xem: 335 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Tóm tắt Luận văn Đấu tranh phòng, chống tội phạm buôn lậu ở nước ta - Thực trạng và giải pháp, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
hau về chủ thể và mặt chủ quan của tội phạm và giống nhau về khách thể loại là trật tự quản lý kinh tế của Nhà n-ớc Việt Nam, nh-ng khác nhau về khách thể trực tiếp của chúng (tội phạm sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm lại xâm hại đến chế độ quản lý một số loại hàng hoá đặc biệt theo danh mục của Nhà n-ớc). Đối t-ợng tác động của tội phạm buôn lậu rộng hơn đối t-ợng tác động của tội phạm sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm. Yếu tố qua biên giới là yếu tố rất quan trọng để phân định tội phạm buôn lậu các loại hàng cấm với tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm (hành vi buôn bán hàng cấm là hành vi đ-ợc thực hiện ngay trong phạm vi lãnh thổ n-ớc ta). 8 Hình phạt: tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm có 3 khung hình phạt và mức hình phạt cao nhất là 10 năm tù. 4. Phân biệt hành vi buôn lậu và hành vi gian lận th-ơng mại Hành vi buôn lậu và hành vi gian lận th-ơng mại có một điểm chung quan trọng nhất là chúng cùng đ-ợc thực hiện nhằm mục đích kiếm lời bất chính. Sự tồn tại của chúng trong xã hội đều gây ra những ảnh h-ởng tiêu cực tới sự vận động và phát triển bình th-ờng của nền kinh tế quốc dân. Tuy nhiên, giữa hành vi buôn lậu và hành vi gian lận th-ơng mại cũng có những điểm khác nhau nhất định: Thứ nhất, hành vi buôn lậu là hành vi buôn bán trái phép các loại hàng hoá qua biên giới; còn gian lận th-ơng mại là hành vi gian dối trong hoạt động th-ơng mại. Hành vi này có thể liên quan đến hoạt động ngoại th-ơng nh-ng cũng có thể chỉ là hoạt động sản xuất, mua bán, trao đổi sản phẩm, dịch vụ trong nội địa; thứ hai, hành vi buôn lậu chỉ đơn thuần là hành vi mua đi, bán lại (các loại hàng hoá, tiền tệ, kim khí quý, đá quý; vật phẩm thuộc di tích lịch sử, văn hoá; hàng cấm) trái phép qua biên giới nhằm thu lợi nhuận từ sự chênh lệch về giá trị hàng. Còn gian lận th-ơng mại thì bao gồm nhiều loại hành vi đa dạng hơn, từ sản xuất và tiêu thụ hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất l-ợng cho đến việc quảng bá sai sự thật về sản phẩm, dịch vụ làm cho ng-ời mua bị nhầm lẫn...; thứ ba, hành vi buôn lậu là một loại tội phạm đ-ợc quy định trong Bộ luật Hình sự Việt Nam; còn gian lận th-ơng mại thì mặc dù có nhiều loại hành vi nh-ng chỉ có một số hành vi bị coi là tội phạm, đ-ợc quy định trong Bộ luật Hình sự nh-: Tội sản xuất và buôn bán hàng giả, tội trốn thuế... 1.2. Nhận thức chung về đấu tranh phòng, chống tội phạm buôn lậu 1.2.1. Khái niệm đấu tranh phòng, chống tội phạm buôn lậu Đấu tranh với tội phạm chứa đựng hai nội dung cơ bản: Thứ nhất, phát hiện, điều tra, khám phá kịp thời khi tội phạm xảy ra, đảm bảo không tội phạm nào không bị phát hiện và xử lý, không một ng-ời phạm tội nào có thể tránh khỏi hình phạt của pháp luật. Thứ hai, bằng mọi biện pháp không để cho tội phạm xảy ra, ngăn chặn kịp thời mọi hậu quả của tội phạm, đảm bảo sự ổn định về chính trị, kinh tế - xã hội, đảm bảo cho cuộc sống của ng-ời dân đ-ợc an toàn. Trong hai nội dung của cuộc đấu tranh này không thể coi nhẹ nội dung nào nh-ng phòng ngừa tội phạm chiếm vị trí quan trọng hơn. Phòng ngừa tội phạm buôn lậu là hoạt động 9 của các cơ quan nhà n-ớc, tổ chức xã hội và cá nhân công dân tác động lên những yếu tố là nguyên nhân, điều kiện thực hiện tội phạm hoặc có nguy cơ làm phát sinh những nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm buôn lậu nhằm làm giảm thiểu tội phạm và hạn chế những tác hại, hậu quả do tội phạm buôn lậu gây ra. Đấu tranh chống tội phạm buôn lậu là hoạt động đồng bộ, có hệ thống, có sự phối hợp chặt chẽ của tất cả các cơ quan nhà n-ớc, các tổ chức xã hội, các tập thể và cá nhân. Nh- vậy, đấu tranh phòng, chống tội phạm buôn lậu là những hoạt động đồng bộ, có hệ thống, có sự phối hợp t-ơng trợ chặt chẽ giữa các biện pháp và các chủ thể d-ới sự lãnh đạo thống nhất của Đảng và Nhà n-ớc nhằm khắc phục, tiến tới loại bỏ những nguyên nhân và điều kiện của tình trạng phạm tội buôn lậu và phát hiện kịp thời, xử lý nghiêm minh tội phạm buôn lậu. 1.2.2. Các biện pháp đấu tranh phòng, chống tội phạm buôn lậu Thứ nhất là biện pháp kinh tế. Để đấu tranh phòng, chống tội phạm buôn lậu có hiệu quả, tr-ớc hết là phải chú ý phát triển kinh tế về mọi mặt, trong đó tập trung giải quyết các vấn đề về việc làm, công bằng xã hội và sự phân hoá giàu - nghèo. Đồng thời, quan tâm hơn nữa đến việc nâng cao năng suất, năng lực cạnh tranh của hàng hoá đ-ợc sản xuất trong n-ớc. Nâng cao khả năng thu hút đầu t-, có chính sách hợp lý trong phát triển kinh tế vùng, miền. Biện pháp kinh tế phải đ-ợc coi là biện pháp hàng đầu trong đấu tranh phòng, chống buôn lậu. Thứ hai là biện pháp pháp luật. Biện pháp này đòi hỏi chúng ta phải có một hệ thống pháp luật hoàn thiện và đồng bộ, đặc biệt là các quy định của pháp luật về quản lý kinh tế, chính sách thuế, xuất khẩu, nhập khẩu hợp lý... Đồng thời, xác định rõ quyền hạn và trách nhiệm, sự phối kết hợp của các cơ quan Nhà n-ớc, tổ chức xã hội, các lực l-ợng chức năng và công dân trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm buôn lậu. Thứ ba là biện pháp tuyên truyền giáo dục. Tuyên truyền giáo dục giữ một vai trò rất quan trọng trong việc hình thành ở mỗi cá nhân, công dân ý thức tuân theo pháp luật, phát huy các giá trị xã hội tích cực. Điều này đòi hỏi chúng ta phải th-ờng xuyên tuyên truyền, cập nhật các thông tin về tác hại của buôn lậu đối với nền kinh tế, các quy định pháp luật liên quan đến công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm buôn lậu. nhằm nâng cao ý thức tự giác đấu tranh phòng, chống tội phạm buôn lậu trong nhân dân. 10 Thứ t- là biện pháp hoàn thiện cơ chế quản lý nhà n-ớc, quản lý kinh tế và quản lý xã hội. Biện pháp về cơ chế quản lý bao gồm các nội dung d-ới đây: - Nhà n-ớc thống nhất và tăng c-ờng quản lý xã hội bằng pháp luật; - Đảm bảo về cơ cấu tổ chức Bộ máy Nhà n-ớc tinh giản, gọn nhẹ, vận hành đồng bộ và thông suốt trong mọi lĩnh vực, nhất là trong lĩnh vực quản lý kinh tế; - Khắc phục mọi sơ hở thiếu sót trong quản lý kinh tế; làm tốt công tác quản lý thị tr-ờng, l-u thông hàng hoá; - Hoàn thiện công tác tổ chức cán bộ, không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, rèn luyện đạo đức, phẩm chất đối với đội ngũ cán bộ, công chức nhà n-ớc; - Quản lý tốt mọi lĩnh vực xã hội, trong đó có sự quản lý chặt chẽ về con ng-ời, nhân khẩu ở từng địa ph-ơng, nhất là trên các địa bàn trọng điểm về buôn lậu và đấu tranh phòng, chống buôn lậu. Thứ năm là biện pháp tổ chức điều tra, khám phá, xử lý tội phạm buôn lậu đ-ợc thực hiện bởi các cơ quan t- pháp hình sự, các lực l-ợng có chức năng đấu tranh phòng, chống tội phạm buôn lậu. Nội dung của biện pháp này bao gồm: các cơ quan t- pháp cũng nh- các lực l-ợng chức năng đ-ợc tổ chức thống nhất, tạo nên sức mạnh trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm buôn lậu; có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan t- pháp, các lực l-ợng chức năng trong đấu tranh phòng, chống tội phạm buôn lậu trên các tuyến biên giới; xây dựng đội ngũ cán bộ t- pháp lành nghề, trong sạch và vững mạnh, kiên quyết trong công tác phát hiện và xử lý tội phạm. Gắn đấu tranh chống tội phạm buôn lậu với đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng, nạn hối lộ và nhận hối lộ... Ch-ơng 2 Thực trạng tình hình tội phạm buôn lậu ở n-ớc ta trong 5 năm (từ 1998 - 2002) (Từ trang 28 đến trang 66) 2.1. Thực trạng tình hình tội phạm buôn lậu ở n-ớc ta trong 5 năm (từ 1998 đến 2002) 2.1.1. Tình hình tội phạm buôn lậu - Trong 5 năm (1998-2002), cơ quan công an n-ớc ta đã phát hiện 34.358 vụ buôn lậu (chiếm 54,9% tổng số các tội phạm kinh tế bị phát hiện). Trong đó, có 369 vụ buôn lậu đ-ợc toà án đ-a ra xét xử với 1.224 bị cáo (chiếm 1,39% số vụ buôn lậu bị cơ quan công an phát hiện). 11 - Qua nghiên cứu thực tế và phân tích các số liệu thống kê về tình hình tội phạm buôn lậu ở n-ớc ta trong 5 năm (1998-2002), tác giả rút ra những nhận xét sơ bộ sau đây: Thứ nhất, các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế có xu h-ớng giảm dần theo từng năm thì tội phạm buôn lậu lại có xu h-ớng tăng lên nhanh chóng. Điều này cho thấy đấu tranh phòng chống tội phạm buôn lậu là một trong những vấn đề cấp bách trong tình hình hiện nay để bảo vệ nền kinh tế đất n-ớc. Thứ hai, số l-ợng tội phạm ẩn trong tội phạm buôn lậu chiếm tỷ lệ lớn. Theo kết quả nghiên cứu của Bộ Công an, số l-ợng tội phạm buôn lậu bị phát hiện trong những năm qua chỉ chiếm 10%, còn lại 90% tội phạm buôn lậu ch-a bị phát hiện vì các lý do khác nhau. Theo chúng tôi những khó khăn trong bảo vệ đ-ờng biên giới trên bộ và trên biển là lý do cơ bản để cho tội phạm này xảy ra nh-ng rất khó có thể bị phát hiện. Thứ ba, quan điểm xử lý đối với tội phạm buôn lậu tại nhiều địa ph-ơng ch-a nhất quán. Các vụ buôn lậu bị phát hiện nhiều nh-ng chủ yếu là xử lý hành chính, xử lý hình sự chỉ chiếm tỷ lệ rất nhỏ (1,39%). Đây là những khó khăn gặp phải trong cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm buôn lậu tình hình hiện nay. 2.1.2. Những đặc điểm tội phạm học của tội phạm buôn lậu Nghiên cứu đặc điểm tội phạm học của tội phạm buôn lậu góp phần quan trọng trong việc dự báo diễn biến của tình hình tội phạm buôn lậu trong thời gian tới, trên cơ sở đó xây dựng các biện pháp đấu tranh phòng, chống tội phạm buôn lậu có hiệu quả. 1. Đối t-ợng buôn lậu Việc phân tích đối t-ợng phạm tội buôn lậu theo nhiều tiêu chí khác nhau có thể cho phép chúng ta đánh giá một khách quan hơn về thực trạng và dự báo sự phát triển của loại tội phạm này trong thời gian tới. Thứ nhất, số bị cáo phạm tội buôn lậu xét theo giới tính: mặc dù số bị cáo bị xét xử về tội buôn lậu có giảm song tỷ lệ bị cáo là nam giới trong 5 năm 1998-2002 luôn cao hơn nữ giới nhiều lần. Tỷ lệ nam giới bị toà án xét xử về tội buôn lậu chiếm 86,9% tổng số các bị cáo. Khuynh h-ớng nam giới phạm tội buôn lậu ngày càng tăng do những đặc điểm về tâm sinh lý nam giới dễ hình thành trạng thái tâm lý tiêu cực hơn so với nữ giới; nam giới lại là trụ cột, lao 12 động chính, có trách nhiệm nuôi sống các thành viên trong gia đình, có nhiều thuận lợi hơn nữ giới trong tìm việc làm ở các địa ph-ơng khác. Chính vì vậy, nam giới rất dễ bị lôi kéo, dụ dỗ tham gia vào hoạt động buôn lậu. Thứ hai, về phân loại tội phạm buôn lậu theo độ tuổi: phân tích số liệu bị cáo bị Toà án đ-a ra xét xử về tội buôn lậu cho thấy có sự biến đổi rõ rệt về cơ cấu tội phạm buôn lậu xét theo độ tuổi. Sự gia tăng về tỷ trọng của số bị cáo trên 30 tuổi ngày càng tiệm cận đến số tuyệt đối. Năm 1998, cả n-ớc chỉ có 126 bị cáo trên 30 tuổi phạm tội buôn lậu (chiếm 56,7%), năm 2002, 72 bị cáo (chiếm 92,3%). Điều này cho thấy sự thay đổi về chất của tội phạm buôn lậu bởi vì những ng-ời trên 30 tuổi là ng-ời có hoạt động kinh tế độc lập, có gia đình riêng và họ phải gánh trách nhiệm nuôi sống gia đình. Thứ ba, về phân loại tội phạm theo thành phần xã hội. Trong 5 năm 1998-2002, trong tổng số 1.224 bị cáo bị đ-a ra xét xử về tội buôn lậu có 115 bị cáo thuộc thành phần cán bộ, công chức nhà n-ớc (chiếm 12,7%), các thành phần xã hội khác là 1.069 bị cáo (chiếm 87,3%). Do đó, cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm buôn lậu phải gắn liền với việc củng cố bộ máy nhà n-ớc, xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là những cơ quan có liên quan trực tiếp đến công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm này. Ngoài ra, chúng ta cũng có thể phân loại đối t-ợng buôn lậu theo các tiêu chí khác: (*) Về thành phần dân tộc: Trong 5 năm (1998-2002), toà án các cấp trong cả n-ớc đã xét xử 1.154 bị cáo là dân tộc Kinh về tội buôn lậu (chiếm 94,2%), còn lại các dân tộc thiểu số chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ trong tổng số bị cáo (5,7%). (*) Về phân loại đối t-ợng theo quốc tịch (ng-ời Việt Nam - ng-ời n-ớc ngoài): Số bị cáo trong các vụ án buôn lậu là ng-ời n-ớc ngoài chỉ chiếm tỷ lệ rất nhỏ (0,7%). 2. Hàng hoá buôn lậu a) Hàng từ n-ớc ngoài nhập lậu vào Việt Nam: Hàng hoá từ n-ớc ngoài nhập lậu vào Việt Nam th-ờng có nguồn gốc xuất xứ từ các n-ớc trong khu vực có trình độ sản xuất cao nh- Nhật Bản, Hàn Quốc, Sin-ga-po và Trung quốc, Thái-lan. Trong những năm gần đây, ta thấy các mặt hàng buôn lậu có sự chuyển biến theo h-ớng những mặt hàng gia dụng, hàng điện tử mới, hàng có công nghệ cao ngày càng nhiều còn những mặt hàng tiêu dùng nh- ti vi, tủ lạnh cũ, bia, phích n-ớc, quạt điện... lại lắng 13 xuống. Sự đa dạng và những chuyển biến của hàng hoá buôn lậu phụ thuộc vào khả năng sản xuất, thị hiếu và nhu cầu sử dụng ở trong n-ớc (nhập lậu) cũng nh- phía n-ớc ngoài (xuất lậu). b) Hàng từ Việt Nam xuất lậu đi các n-ớc: Hàng hoá từ Việt Nam xuất lậu đi các n-ớc chủ yếu là khoáng sản, các loại d-ợc liệu quý hiếm, nguyên liệu thô, các loại động vật quý hiếm... Thời gian gần đây, hoạt động xuất lậu các cổ vật lại có chiều h-ớng tăng cao do nhu cầu s-u tầm đồ cổ ở một số n-ớc ph-ơng Tây cũng nh- trong khu vực. 3. Tuyến, địa bàn buôn lậu trọng điểm và ph-ơng tiện vận chuyển hàng lậu a) Trên bộ: Trên bộ, chúng ta có đ-ờng biên giới giáp với các n-ớc Trung Quốc, Lào, Campuchia. Các tỉnh giáp biên đều có cửa khẩu tiểu ngạch, đ-ờng mòn biên giới thuận lợi cho giao l-u th-ơng mại, góp phần thúc đẩy kinh tế phát triển. Một số tỉnh còn có cửa khẩu quốc tế, cửa khẩu quốc gia, khu kinh tế cửa khẩu. Đồng thời đó cũng chính là những "cửa ngõ" để bọn tội phạm buôn lậu đ-a hàng vào hoặc tuồn hàng ra khỏi n-ớc ta. Nổi lên về buôn lậu ở tuyến biên giới Việt Nam - Trung Quốc là Quảng Ninh, Lạng Sơn; biên giới Việt Nam - Lào có Cầu Treo, Lao Bảo; biên giới Việt Nam - Camphuchia là Mộc Bài, Mộc Hoá, Châu Đốc... - Ph-ơng tiện vận chuyển hàng lậu trên tuyến biên giới đất liền chủ yếu là các ph-ơng tiện giao thông đ-ờng bộ. Còn trên sông vào mùa lũ có ghe, xuồng máy, ca nô công suất cao... b) Trên biển: N-ớc ta có đ-ờng bờ biển trải dài 3.260. Hàng lậu đ-ợc chuyển từ tàu trọng tải lớn sang những tàu, bè, mảng để chuyển vào các bãi ngang rồi đ-a lên bờ cất giấu trong các nhà dân. Nổi lên về tình hình buôn lậu trên tuyến biển có các điểm nóng sau: Móng Cái, Hải Phòng, Diêm Điền, Quỳnh L-u, Cửa Lò, Cửa Sót, Bãi Ngang... c) Đ-ờng hàng không: Nạn buôn lậu bằng đ-ờng hàng không thời gian gần đây cũng có sự gia tăng. Trong số các vụ buôn lậu qua đ-ờng hàng không, đa số các đối t-ợng buôn lậu bị cơ quan chức năng phát hiện đều là tiếp viên hàng không trên chính các chuyến bay do lợi dụng đặc thù công việc. 4. Ph-ơng thức và thủ đoạn buôn lậu a) Về ph-ơng thức buôn lậu Ph-ơng thức lén lút, bí mật: Tội phạm buôn lậu hoạt động theo ph-ơng thức này th-ờng là các đối t-ợng buôn lậu chuyên nghiệp có tổ chức lớn, có sự phối hợp nhịp nhàng, ăn 14 khớp giữa các công đoạn. Hàng hoá buôn lậu ở đây chủ yếu là hàng cấm, có giá trị kinh tế cao, thuế suất cao... Bọn chúng phân công hoạt động theo hình thức đơn tuyến - một ng-ời không thể biết toàn bộ những ng-ời tham gia và hoạt động của đ-ờng dây. Ph-ơng thức vừa lén lút, vừa công khai: Theo các chuyên gia thì đây là ph-ơng thức chủ yếu và phổ biến. Các đối t-ợng buôn lậu sử dụng ph-ơng thức này nhìn chung có thể chia thành hai nhóm: 1) Nhóm các đối t-ợng buôn lậu chuyên nghiệp móc nối với một số phần tử thoát hoá biến chất trong các lực l-ợng có chức năng chống buôn lậu; 2) Nhóm các doanh nghiệp, tổ chức, các nhân lợi dụng các kẽ hở của pháp luật về chính sách xuất nhập khẩu, cơ chế quản lý kinh tế để buôn lậu. Ph-ơng thức công khai: Đây là ph-ơng thức hoạt động buôn lậu một cách trắng trợn, coi th-ờng pháp luật. Ph-ơng thức này đ-ợc các băng nhóm buôn lậu lớn và cả các đối t-ợng buôn bán nhỏ lẻ qua đ-ờng tiểu ngạch sử dụng. Giá trị hàng hoá từng chuyến th-ờng d-ới mức truy cứu trách nhiệm hình sự. b) Về thủ đoạn buôn lậu - Khai thác triệt để những lợi thế về địa hình, địa bàn cũng nh- sự sơ hở, yếu kém của các cơ quan chức năng trong việc quản lý, bảo vệ biên giới để lén lút hoạt động buôn lậu. - Lợi dụng những sơ hở trong cơ chế quản lý kinh tế, các chính sách về quản lý xuất nhập khẩu của Nhà n-ớc để buôn lậu. - Làm giấy tờ giả, sử dụng các loại giấy tờ không hợp lệ để buôn lậu nh- các hợp đồng kinh tế, các giấy tờ chứng minh đã hoàn tất thủ tục hải quan, giấy phép xuất khẩu, nhập khẩu giả để buôn lậu. - Chia nhỏ hàng hoá buôn lậu nhằm tránh sự chú ý của các cơ quan chức năng, đồng thời để phân chia rủi ro nếu bị phát hiện; gắn trách nhiệm bảo vệ hàng cho lực l-ợng cửu vạn, buộc những ng-ời làm cửu vạn phải đặt cọc một khoản tiền mới đ-ợc vận chuyển hàng thuê cho chúng nhằm buộc họ đối đầu với các lực l-ợng chống buôn lậu, gây khó khăn, áp lực lớn cho các lực l-ợng chức năng trong thi hành nhiệm vụ. - Dùng tình cảm, vật chất mua chuộc một số cán bộ thoái hoá, biến chất trong các lực l-ợng có chức năng đấu tranh phòng, chống tội phạm buôn lậu. 5. Hậu quả, tác hại của buôn lậu 15 Tr-ớc hết, buôn lậu có ảnh h-ởng đặc biệt đến nền kinh tế. Buôn lậu là nguyên nhân làm cho cạnh tranh th-ơng mại lành mạnh giữa hàng nội và hàng ngoại mất đi tính cân bằng và dần bị triệt tiêu. Điều này dễ làm cho các doanh nghiệp sản xuất lâm vào tình trạng phá sản, làm gia tăng tình trạng thất nghiệp; hàng hoá nhập lậu vào n-ớc ta kìm hãm sản xuất trong n-ớc, gây mất cân đối giữa sản xuất và tiêu dùng, còn hoạt động xuất lậu hàng hoá ra n-ớc ngoài sẽ khiến cho tài lực của đất n-ớc cạn kiệt. Mặt khác, buôn lậu còn gây thất thu về thuế, đặc biệt là thuế xuất - nhập khẩu, ảnh h-ởng đến quá trình cân đối thu - chi của Ngân sách Nhà n-ớc. Hoạt động buôn lậu không chỉ gây tác động tiêu cực đến nền kinh tế đất n-ớc mà còn có ảnh h-ởng đến văn hoá - xã hội. Có thể nói, tội phạm buôn lậu là một trong những tác nhân chính làm suy thoái đạo đức xã hội, ảnh h-ởng xấu đến truyền thống văn hoá dân tộc, kéo theo đó là sự nảy sinh của hàng loạt tệ nạn xã hội khác nh- cờ bạc, nghiện hút... Ngoài ra, buôn lậu còn có ảnh h-ởng rất lớn đối với tình hình an ninh, chính trị. Buôn lậu đã kéo một lực l-ợng lao động đông đảo tham gia và th-ờng xuyên di chuyển, thay đổi nơi ở khiến cho công tác quản lý về nhân khẩu gặp nhiều khó khăn. Đó là ch-a kể đến hiện t-ợng các đối t-ợng là tội phạm hình sự lợi dụng sự khó khăn, sơ hở trong quản lý nhân khẩu để trà trộn vào lực l-ợng cửu vạn này nhằm trốn tránh sự truy nã của các cơ quan pháp luật. Hoạt động buôn lậu cũng có nhiều tác động tiêu cực tới hiệu lực của pháp luật và hiệu quả quản lý của Nhà n-ớc. Nó làm cho các cơ quan quản lý Nhà n-ớc không kiểm soát đ-ợc tình hình hoạt động xuất nhập khẩu khiến cho công tác điều hành của các cơ quan chức năng gặp nhiều khó khăn và kém hiệu quả. 2.2. Nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm buôn lậu 2.2.1. Nguyên nhân và điều kiện về kinh tế - xã hội Nguyên nhân và điều kiện về kinh tế - xã hội là động lực chính thúc đẩy hoạt động buôn lậu của bọn tội phạm buôn lậu, bao gồm các yếu tố sau: - Năng lực sản xuất, cạnh tranh của n-ớc ta còn kém, công nghệ sản xuất lạc hậu làm cho giá thành sản phẩm cao tạo ra sự chênh lệch lớn về giá giữa hàng hoá trong n-ớc và hàng sản xuất từ n-ớc ngoài. - Sự phân hoá giàu nghèo, mất cân đối vùng miền ngày càng gia tăng. - Tình trạng thiếu việc làm ở nông thôn vẫn diễn ra phổ biến. - Các quốc gia láng giềng với n-ớc ta thực thi những chính sách kinh tế, quản lý kinh 16 tế không có lợi cho kinh tế n-ớc ta cũng nh- công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm buôn lậu. 2.2.2. Nguyên nhân và điều kiện về tâm lý - xã hội Nguyên nhân và điều kiện làm phát sinh tình hình tội phạm buôn lậu còn đ-ợc xem xét ngay bên trong ng-ời phạm tội thể hiện bằng những đặc điểm tâm lý - xã hội tiêu cực sau đây: - Do những tàn d- của xã hội cũ mà nhiều ng-ời vẫn chứa đựng trong mình thói quen coi th-ờng pháp luật. - Công tác giáo dục t- t-ởng, quản lý văn nghệ... cũng có nhiều bất cập làm nảy sinh những đặc điểm tâm lý - xã hội tiêu cực nh-: thói quen vô tổ chức kỷ luật, thói vị kỷ, vụ lợi... - Trong xã hội có một bộ phậm cán bộ, Đảng viên và quần chúng nhân dân mang tâm lý mong muốn làm giàu bằng mọi cách, bất chấp pháp luật mà buôn lậu là một trong những cách làm giàu nhanh nhất. 2.2.3. Nguyên nhân và điều kiện về cơ chế quản lý Cơ chế quản lý của n-ớc ta hiện nay vẫn còn bộc lộ nhiều yếu kém, sơ hở mà tội phạm buôn lậu luôn tìm mọi cách lợi dụng để thực hiện hành vi phạm tội nhằm trục lợi: - Về tổ chức đội ngũ cán bộ: Có thời gian chúng ta ch-a thực sự chú trọng đến việc tổ chức một đội ngũ cán bộ vững mạnh. Việc xử lý cán bộ sai phạm còn mang tính hữu khuynh dẫn đến hình thức kỷ luật không có tác dụng ngăn ngừa chung. Hơn nữa, nhũng yếu kém trong quản lý kinh tế đã kích thích sự ham muốn vật chất trong một bộ phận cán bộ, công chức nhà n-ớc. - Các quy định của pháp luật còn thiếu hoặc không phù hợp với thực tiễn gây nên những khó khăn nhất định cho công tác quản lý nhà n-ớc, quản lý kinh tế và quản lý xã hội. - Việc quản lý nhân khẩu, các đối t-ợng tạm trú, tạm vắng trên địa bàn, đặc biệt là các vùng giáp biên ch-a thực sự đ-ợc quan tâm. 2.2.4. Nguyên nhân và điều kiện về đấu tranh phòng, chống tội phạm buôn lậu a) Nguyên nhân và điều kiện về pháp luật Hệ thống pháp luật còn nhiều yếu kém và bất cập, tạo ra những kẽ hở, dễ bị bọn tội 17 phạm lợi dụng, thể hiện ở các điểm: - Các văn bản pháp luật, nhất là văn bản pháp luật về quản lý kinh tế ch-a đồng bộ, hiệu lực còn thấp, nhiều quy định chồng chéo nhau, thậm chí mâu thuẫn với nhau. - Chính sách nhập khẩu và thuế nhập khẩu ch-a hợp lý, ch-a đ-ợc thông suốt giữa các cấp, các ngành; cơ chế, chính sách về thuế suất ch-a đ-ợc quy định rõ ràng, th-ờng xuyên có sự thay đổi; các quy định về miễn kiểm hàng hoá, tạm nhập, tái xuất ch-a thực sự phù hợp. - Các cơ quan có chức năng đấu tranh phòng, chống buôn lậu khi phát hiện vi phạm về buôn bán hàng hoá qua biên giới lại không có điều kiện xác minh ng-ời vi phạm đã bị xử lý hành chính cũng về hành vi này hay ch-a... b) Nguyên nhân và điều kiện về phát hiện và xử lý tội phạm buôn lậu. Thống kê cho thấy số tội phạm buôn lậu đ-ợc phát hiện trong 5 năm vừa qua chỉ đạt khoảng d-ới 10%, còn lại là tội phạm ẩn ch-a bị phát hiện và xử lý. Tình trạng xử lý tội phạm buôn lậu cũng ch-a thực sự thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật. Thêm vào đó là sự hạn chế và thiếu nhạy bén trong công tác phát hiện và xử lý tội phạm buôn lậu. Việc phối hợp hoạt động giữa các cơ quan bảo vệ pháp luật, các lực l-ợng có chức năng đấu tranh phòng, chống buôn lậu trong công tác theo dõi, phát hiện và xử lý tội phạm buôn lậu còn ch-a đồng bộ, ch-a phát huy đ-ợc sức mạnh tổng hợp. Thủ đoạn, ph-ơng thức hoạt động của tội phạm buôn lậu ngày càng tinh vi hơn, trong khi đó chất l-ợng, năng lực nghiệp vụ của các lực l-ợng chức năng còn nhiều hạn chế. c) Nguyên nhân và điều kiện về các lực l-ợng có chức năng đấu tranh phòng, chống tội phạm buôn lậu. - Các lực l-ợng có chức năng đấu tranh phòng, chống buôn lậu, các cơ quan t- pháp có nhiệm vụ trực tiếp đấu tranh phòng, chống tội phạm còn đang lúng túng về tổ chức bộ máy, đội ngũ cán bộ thiếu về số l-ợng, yếu về chất l-ợng. - Trang thiết bị phục vụ cho công tác phòng, chống buôn lậu của các lực l-ợng chức năng ch-a đ-ợc quan tâm đầu t- đúng mức. - Đời sống của các cán bộ, công chức Nhà n-ớc làm công tác đấu tranh chống buôn lậu và gian lận th-ơng mại nhìn chung còn nhiều khó khăn. 18 Ch-ơng 3 Nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống tội phạm buôn lậu ở n-ớc ta (Từ trang 67 đến trang 89) 3.1. Dự báo tình hình kinh tế-xã hội và hoạt động buôn lậu, tội phạm buôn lậu trong thời gian tới 3.1.1. Dự báo về tình hình kinh tế - xã hội có ảnh h-ởng đến tội phạm buôn lậu - Xu thế hội nhập khiến cho hàng hoá sản xuất trong n-ớc sẽ phải chịu sức ép cạnh tranh gay gắt với hàng hoá của n-ớc ngoài. - Khoảng cách phân hoá giàu - nghèo trong xã hội sẽ tiếp tục phát triển cả về chiều rộng và chiều sâu; tình trạng thất nghiệp trong xã hội ngày càng tăng. - Nhiều cơ chế, chính sách mới sẽ đ-ợc Nhà n-ớc ban hành thông thoáng hơn nh-ng không tránh khỏi những sơ hở, thiếu sót để bọn buôn lậu lợi dụng hoạt động. 3.1.2. Dự báo tình hình buôn lậu và tội phạm buôn lậu a) Về đối t-ợng buôn lậu - Các đối t-ợng buôn lậu chuyên nghiệp sẽ gia tăng (xu h-ớng chuyên nghiệp hoá). Đối t-ợng buôn lậu là nam giới có độ tuổi trên 30 tuổi vẫn tiếp tục chiếm -u thế. Các đối t-ợng buôn lậu tiếp tục móc nối với những cán bộ, công chức Nhà n-ớc tha hoá, biến chất trong cơ quan chức năng để lập ra các đ-ờng dây buôn lậu lớn, có sự chỉ huy chặt chẽ. - Bên cạnh những đ-ờng dây buôn lậu chuyên nghiệp là một đội ngũ cửu vạn đông đảo trực tiếp tham gia buôn lậu. Từ đó làm phát sinh các tệ nạn xã hội khác, gây mất an ninh, trật tự biên giới. - Một bộ phận không nhỏ khách du lịch n-ớc ngoài cũng sẽ góp phần đ-a hàng hoá n-ớc ngoài thẩm lậu vào Việt Nam. Ngoài ra, một số l-ợng không nhỏ ng-ời Việ

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfv_l0_00267_3669_2009968.pdf
Tài liệu liên quan