Tóm tắt Luận văn Giọng điệu giễu nhại trong một số tác phẩm gần đây của Hồ Anh Thái, Tạ Duy Anh, Châu Diên

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 3

1. Lý do chọn đề tài . 3

2. Lịch sử vấn đề . 4

2.1. Về giọng điệu giễu nhại của Hồ Anh Thái . 4

2.2. Về giọng điệu giễu nhại trong văn Châu Diên . . 9

2.3. Về giọng điệu giễu nhại trong văn Tạ Duy Anh . 11

3. Phạm vi nghiên cứu . . 15

4. Phương pháp nghiên cứu . . 15

5. Cấu trúc luận văn . . 16

Chƣơng 1: Giới thuyết về giọng điệu giễu nhại và giọng điệu giễu nhại

trong văn xuôi Việt Nam sau 197517

1.1. Giới thuyết về giọng điệu giễu nhại . 17

1.1.1. Giới thuyết về giọng điệu trần thuật . 17

1.1.2. Giới thuyết về giễu nhại . 20

1.1.3. Giọng điệu giễu nhại . 24

1.2. Giọng điệu giễu nhại trong văn xuôi Việt Nam sau 1975 . 25

1.2.1. Tiền đề xuất hiện cảm hứng và giọng điệu giễu nhại . 25

1.2.2. Giọng điệu giễu nhại trong văn xuôi Việt Nam sau 1975 27

Chƣơng 2: Giọng điệu giễu nhại - một phƣơng thức thể hiện cảm hứng

phê phán của nhà văn với hiện thực32

2.1.Thái độ giễu nhại đối với những vấn đề của đời sống, xã hội . 35

2.1.1. Lên án những nguy cơ làm biến dạng và tha hóa đối với con người . 352

2.1.2. Đau xót trước những chuẩn mực bị đánh tráo . 45

2.1.3. Phơi bày mặt khuất của đời sống trí thức . 48

2.1.4. Những góc tối trong các lĩnh vực khoa học, giáo dục, văn học nghệ thuật 53

2.2. Thái độ giễu nhại đối với con người có những mảnh tính cách bất bình thường 64

2.2.1. Giễu cợt nhưng đau xót, bất lực trước con người sùng ngoại, háo danh,

thực dụng . 65

2.2.2. Cảnh báo nỗi bất an trước con người phi nhân tính . 67

2.2.3. Vừa giận vừa thương con người tự nhiên bản năng . 69

Chƣơng 3: Giọng điệu giễu nhại và những vấn đề nghệ thuật liên quan 74

3.1. Điểm nhìn trần thuật và giọng điệu giễu nhại 74

3.1.1. Giới thuyết về điểm nhìn trần thuật . 74

3.1.2. Điểm nhìn linh hoạt tạo hiệu ứng cho giọng điệu giễu nhại thêm ấntượng . 76

3.2. Đặt tên nhân vật - một cách giễu nhại của giọng điệu . 82

3.2.1. Nhân vật được đặt tên theo cách thông thường . 83

3.2.2. Nhân vật được mã hóa . 85

3.3. Giọng điệu giễu nhại thể hiện qua lời văn giễu nhại . 87

3.4. Giọng điệu giễu nhại tạo nên nét cá tính riêng trong phong cách của nhàvăn . 94

KẾT LUẬN . 96

Danh mục Tài liệu tham khảo . 99

pdf21 trang | Chia sẻ: lavie11 | Ngày: 18/12/2020 | Lượt xem: 451 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Tóm tắt Luận văn Giọng điệu giễu nhại trong một số tác phẩm gần đây của Hồ Anh Thái, Tạ Duy Anh, Châu Diên, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
rong thể 4 loại này, nhiều học giả đã đặt ra câu hỏi về cái chết của tiểu thuyết. Do vậy, làm thế nào để tránh cái chán nản đáng muộn phiền đối với những thứ quen thuộc cho độc giả và cao hơn nữa là giữ được sức quyễn rũ của tiểu thuyết là điều khó, nhưng không phải là không thể làm được. Sự quá tải, mỏi mệt dường như đang hiện hữu đâu đây khi tiểu thuyết đang phải gánh những vấn đề mới chỉ bằng hình hài và sức vóc cũ. Rõ ràng, việc đổi mới quan niệm nghệ thuật, đổi mới cách chọn đề tài, chủ đề vẫn là chưa đủ cho một sự thay đổi toàn diện mang tính tích cực cho văn học. Nhu cầu đổi mới thể loại, vì thế, không chỉ mang ý nghĩa cách tân mà còn là nhu cầu sống còn nếu người cầm bút muốn tìm được chỗ đứng lâu bền trong lòng độc giả. 1.3. Trong số những nhà văn có ý thức tìm tòi những cách tân, mang thêm những mới lạ trong cách viết sau 1975, đặc biệt là sau 1986, Châu Diên, Hồ Anh Thái và Tạ Duy Anh là ba trong số những cái tên được nhắc đến khá nhiều. Những sáng tạo của họ không chỉ ở hướng lựa chọn đề tài, cảm hứng thể hiện mà còn rất mới lạ ở hình thức mang ý nghĩa cách tân thể loại. Họ gặp gỡ nhau khi cùng chọn dùng giọng điệu giễu nhại trong các tác phẩm của mình, đặc biệt là trong một số tiểu thuyết ra mắt gần đây (khoảng sau năm 2000) như Người sông Mê (Châu Diên), Cõi người rung chuông tận thế (Hồ Anh Thái), Thiên thần sám hối, Giã biệt bóng tối (Tạ Duy Anh). Khảo sát giọng điệu giễu nhại trong các tác phẩm ấy, luận văn mong muốn góp một tiếng nói khẳng định về sự phát triển theo chiều hướng ngày càng phong phú, đa dạng và hài hòa hơn của văn xuôi Việt Nam. 2. Lịch sử vấn đề 2.1. Về giọng điệu giễu nhại của Hồ Anh Thái Tuy không phải là cái tên mới nổi trên văn đàn, cũng không hẳn là một nhà văn trẻ nữa, nhưng cái tên Hồ Anh Thái đã trở thành một thương hiệu có sức hút đặc biệt tới độc giả đến với những sáng tác của anh. Giọng văn trào 5 lộng, hài hước của anh ngày càng đậm nét, nhất là trong những tác phẩm mới được công bố thời gian gần đây. Tác phẩm của Hồ Anh Thái là đối tượng nghiên cứu của không ít các bài viết, bài phê bình, các luận án, luận văn và khóa luận tốt nghiệp. Trong đó, chất hài hước, hóm hỉnh, đùa cợt, trào tiếu nhưng chua cay được nhắc đến khá nhiều và được coi như một đặc điểm nổi bật trong cảm hứng sáng tạo của nhà văn này. Sau một vài truyện ngắn có dư vị hài hước trong tập truyện ngắn Mảnh vỡ của đàn ông, dư luận đã bắt đầu chú ý nhiều hơn đến chất giọng hài hước, trào lộng của Hồ Anh Thái trong tập truyện ngắn Tự sự 265 ngày. Ngòi bút hài hước, châm biếm lần này hướng vào giới công chức, mà tập trung nhất ở những trí thức thời kỳ đổi mới. Trong bài Có ai chẳng muốn đùa, nhà văn Ngô Thị Kim Cúc nhận xét: “Thật thú vị khi được dẫn đường bởi một người hiểu chuyện, hóm hỉnh và biết đùa như thế. Ở đâu, với ai, trong chuyện gì, Hồ Anh Thái cũng tìm ra được bao nhiêu là cái hài hước, đáng cười, mà lại cười một cách rất đúng mực, chỉn chu, rất an toàn. Tưởng có thể cười mãi với Hồ Anh Thái cho đến lúc buông sách ra” [65, tr. 231]. Sau khi nhận xét khá sắc sảo về cái tôi cô đơn của Hồ Anh Thái, Lê Quang Toản trong bài Che giấu sự cô đơn cũng không quên nhắc đến cái chất cười cợt, trào tiếu của tập truyện: “Hồ Anh Thái cần có nơi để đùa cợt, để xả soupape hay là tác giả đã quá khéo léo che giấu sự cô đơn của mình trong những tiếng cười rất đời” [65, tr. 239]. Vân Long trong Một giọng văn khác đã viết: “Ở tập truyện ngắn này, nhà văn hình thành một giọng văn hoàn toàn khác thời kỳ đầu: Trào lộng, châm biếm, hóm hỉnh và sắc sảo những câu chuyện, những thói tật đáng cười trong xã hội. Đọc tập truyện này, người đọc nhiều chỗ phải bật cười thành tiếng như đọc Số đỏ của Vũ Trọng Phụng, truyện ngắn Nguyễn Công Hoan hay Azit Nêxin" [65, tr. 245]. Trên báo Nông 6 nghiệp Việt Nam ngày 05/10/2001, Trần Thị Nhường dẫn ý kiến của một người khác cho rằng trong “Tự sự 265 ngày có cái cười nửa miệng của thi hào Gôgôl, có cái giọng điệu hiện thực huyền ảo của Milan Kundera... Nếu muốn cười mà lòng vẫn đau đủ chín khúc thì hãy đọc Tự sự 265 ngày. Cười người hay cười mình lẫn lộn cả nhưng đọc rồi cũng thấy muốn cười một tí...” [65, tr. 247]. Bằng lập luận kiểu phản đề, Nguyễn Chí Hoan trong bài Nhà văn không cười đã viết: “()có lẽ nói cho đúng, nhà văn cười nhưng chỉ nhếch mép... Toàn bộ 11 truyện trong tập đều một lối hoạt kê, không thể không cười song 'ý tại ngôn ngoại' ở đây thì đều đắng đót” [65, tr. 249]. Từ Tự sự 265 ngày đến Bốn lối vào nhà cười, đối tượng giễu nhại đã mở rộng ra cả cõi nhân sinh bằng bốn lối Sinh - Lão - Bệnh - Tử. Giới thiệu tập truyện ngắn này, báo điện tử VietNamNet viết: “Cuộc đời theo Hồ Anh Thái như một cái nhà cười mà bốn con đường đi vào ngôi nhà ấy là Sinh - Lão - Bệnh - Tử", "Hồ Anh Thái viết như để giảm stress bởi bốn con đường dẫn vào nhà cười của anh đều lát đá hoạt kê. Cái giọng văn hài hước, ngôn ngữ đường phố, chợ búa đầu thế kỷ XXI đọc để giải sầu” [26]. Có điều đặc biệt là “ở lối vào nhà cười nào cũng có tiếng cười, nó biến giọng văn của Hồ Anh Thái thành giọng của một trí thức châm chọc, giọng hoạt kê, đả kích bằng thứ ngôn ngữ đáo để, hài hước” [26]. Báo Sài Gòn tiếp thị nêu nhận xét: “Ở Bốn lối vào nhà cười, tiếng cười thật chua chát, bật lên được ý thức tự trào của một người Việt tự trào. Từ những chuyện vặt nhưng khả năng phóng chiếu, châm biếm của nó thì không vặt chút nào, bởi nó chạm đến phần nhạy cảm trong tính cách con người ta. Nếu tự tri ngộ tức là tự cười mình để thoát ra tứ đại khổ, nhìn xuống nhân sinh có khi chợt thấy một nhà cười” [26]. Tạp chí Sức khỏe và đời sống cũng có những đánh giá khá thống nhất với những nhận định trên: “Nhà văn Hồ Anh Thái đã mang đến cho bạn đọc những giây phút sảng khoái cười. Ngòi bút trơn lướt, anh viết hấp dẫn, giọng 7 2.2. Về giọng điệu giễu nhại trong văn Châu Diên Trước đây, Châu Diên dành nhiều tâm huyết cho sự nghiệp nghiên cứu giáo dục. Sau hai tập truyện ngắn Mái nhà ấm (1959) và Con nhện vàng (1962), dường như vào thời đổi mới, ông mới lại tái xuất văn đàn. Ông là nhà văn rất chịu khó tìm tòi và có ý thức cách tân nghệ thuật tiểu thuyết. Sự độc đáo được thể hiện qua các sáng tác của ông, đặc biệt là trong tiểu thuyết Người sông Mê đã gây được thiện cảm và sự chú ý của nhiều người đọc, thu hút sự quan tâm đánh giá từ phía các nhà phê bình. Phạm Xuân Nguyên, trong Vị đắng của nụ cười, theo tuoitre.com.vn, 14/10/2005 nhận định: Chất giễu nhại trong văn Châu Diên được thể hiện qua nét văn nhẹ nhàng. Chính cái vẻ tưởng như "thật thà, chân chất" ấy tạo cho giọng văn ông màu sắc trào lộng, giễu nhại trong lành. “Cách viết của Châu Diên khiến độc giả tủm tỉm cười khi đọc truyện, nhưng đọc xong có thể khóc thầm lặng lẽ. Ý nghĩa thiên truyện cứ thế lắng sâu vào tâm trí” [49]. PGS. TS Nguyễn Thị Bình cũng xem Người sông Mê là một trong những tiểu thuyết có tính cách tân mạnh, thông qua “sử dụng phổ biến bút pháp nhại, bút pháp huyền thoại trào lộng” tạo nên cái nhịp điệu, ngữ điệu hành văn như “nhại cái nhịp điệu sống luẩn quẩn vô hướng của những con người nhỏ bé” [13, tr. 65]. Nhà nghiên cứu Mai Hải Oanh trong tiểu luận Nghệ thuật tổ chức điểm nhìn trong tiểu thuyết Việt Nam thời kỳ đổi mới đăng trên Tạp chí NCVH số 10/2007 cũng chỉ ra “hiện tượng nhòe nhập điểm nhìn của người kể và điểm nhìn nhân vật” đã xóa nhòa khoảng cách giữa người trần thuật và nhân vật, khiến cho hai điểm nhìn trùng khít, khiến cho “bước vào thế giới sông Mê, người kể chuyện cũng trở thành nhớ nhớ quên quên, mê mê tỉnh tỉnh như nhân vật” [52, tr. 116]. Phan Huy Đường khi khi giới thiệu Người sông Mê trên trang web amvc.free.fr cũng đánh giá cao kiểu tổ chức nghệ thuật của 8 Châu Diên với những lời lẽ hết sức trân trọng: “Khơi lên điều ấy là cưỡng lại bến Lú sông Mê, đòi hỏi tương lai tự do cho mọi người. Tự-do trong cơn đói làm người. Toàn diện. Dù cuối cùng ai cũng phải chết, ta không thể cho phép nhân cách của ta chết tốt. Qua văn phong độc đáo, nửa đùa nửa thật, nửa tỉnh nửa mơ, qua cấu trúc dựng truyện và nghệ thuật kể điêu luyện, Châu Diên đã gửi gấm được nỗi niềm của cả một thời đại vào tiếng Việt”[27]. Nguyễn Thị Thu Huệ cảm nhận văn chương Châu Diên nổi bật với sự “ám ảnh”. Khi gặp ông, nữ nhà văn nhận ra “vẫn là ông, không ngán gì khi mang chính mình ra giễu nhại - một chuyện hiếm người làm được trong văn chương mình” (Bài Lang thang trong chốn rất riêng, theo trang vnca.cand.com.vn) [35]. Nhà văn Phạm Ngọc Tiến ngưỡng mộ Châu Diên bởi: “Châu Diên quen mà lạ, cũ mà mới là bởi vì vẫn là Châu Diên với văn phong sắc sảo, lập dị, đôi khi “lẩm cẩm” và cấu trúc hỗn tạp, nhưng nếu ông viết dưới một bút danh khác thì sẽ nhiều người lầm tưởng đây là một nhà văn mới xuất hiện. Cuộc đời Châu Diên nhiều biến thiên, ông có cảm quan tích cực, tinh tế, bút lực dồi dào, lại am hiểu và nắm bắt thời cuộc nhanh nên tôi tin tác phẩm của ông sẽ được nhiều người tìm đến: người già tìm thấy ở đó sự sâu lắng, người trẻ tìm thấy ở đó nhiều dữ kiện sống. Châu Diên viết ngổn ngang, cố bứt phá và rất muốn trải nghiệm tìm tòi [35]. Nhà văn Trung Trung Đỉnh đánh giá “Châu Diên là một nhà văn trẻ về thủ pháp và lối tư duy. Ông chọn cho mình cách nhìn những điều nghiêm trọng trong cuộc sống bằng con mắt hồn nhiên, trong sáng (...) phục cái sự hồn nhiên của ông, phục cái cách ông tiếp thu những rối rắm của thời hiện đại và đưa vào trang viết” [35]; PGS. TS Nguyễn Bích Thu coi Người sông Mê cùng với Nỗi buồn chiến tranh (Bảo Ninh), Mảnh đất lắm người nhiều ma (Nguyễn Khắc Trường), Bến không chồng (Dương Hướng), Ngược dòng nước lũ (Ma Văn Kháng), Cơn giông (Lê Văn Thảo), Cõi người rung chuông tận thế, Mười lẻ một đêm (Hồ Anh 9 Thái), Người đi vắng, Thoạt kỳ thuỷ (Nguyễn Bình Phương), Đi tìm nhân vật, Thiên thần sám hối (Tạ Duy Anh), Giàn thiêu (Võ Thị Hảo), Mẫu thượng ngàn (Nguyễn Xuân Khánh), Lạc rừng (Trung Trung Đỉnh), là một trong “những tác phẩm mở đường cho thời kỳ đổi mới” của văn học [73]. 2.3. Về giọng điệu giễu nhại trong văn Tạ Duy Anh Tạ Duy Anh khởi nghiệp văn chương với tác phẩm trình làng: Bước qua lời nguyền tháng 4 năm 1989 “làm cháy báo Văn nghệ trên tất cả các sạp cả nước”. Motip Romeo - Juliet với mối thù của hai dòng họ trên vai và tình yêu trong tim trong bối cảnh nông thôn Việt Nam những năm 1950-1970 đầy máu và nước mắt cùng với cái tên Tạ Duy Anh càng trở nên nổi tiếng khi GS. Hoàng Ngọc Hiến mượn tên truyện của anh để khái quát: “Có một dòng văn học bước qua lời nguyền” [32]. Với 20 tập truyện trong đó có bốn tiểu thuyết, một tập tản văn trong khoảng 20 năm cầm bút, chừng đó đủ để nói lên sức lao động của một nhà văn. Mỗi thể loại, mỗi câu truyện, đều để lại một dấu ấn Tạ Duy Anh trong lòng độc giả. Tác giả Thụy Khuê trong bài Tạ Duy Anh, người đi tìm nhân vật nhận định: “Mười năm, kể từ Bước qua lời nguyền, đến truyện dài Lão Khổ (1992) rồi tiểu thuyết Đi tìm nhân vật (hoàn tất năm 1999), Tạ Duy Anh đã phát triển hai luận đề chính trong tiểu thuyết của mình: Lời nguyền và tội ác” [36]. Nếu trong Lão Khổ là một bút pháp hiện thực phê phán cổ điển với hình ảnh lão Khổ, bần cố nông chính hiệu, chính tự tay mình đắc lực xây dựng nên cái khổ của chính mình thì đến Đi tìm nhân vật, nhà văn họ Tạ đã thử nghiệm một lối viết đa âm với hình tượng nhân vật là những mảnh ghép của trò chơi xếp hình rải rác khắp trong tác phẩm. Chu Quý chỉ được hiểu thông qua thao tác của người đọc: nhặt nhạnh những mảnh vỡ của “tôi”, của nhà văn Bân đang đi tìm nhân vật của đời mình và lắp ghép. Thảo Miên, cũng như nhân 10 vật tiến sĩ N, người cha của Chu Quý cũng được xây dựng theo công thức lắp ghép ấy. Đề tài tội ác một lần nữa lại được soi chiếu trong tiểu thuyết này nhưng với sự dẫn đường của ký ức (đi tìm sự thật về cái chết của một cậu bé đánh giầy) luôn được đặt trong sự phân vân: có đúng thế không? Có thật thế không? Phải hay không phải? nên người đọc bị đưa vào một tình thế rất căng. Thủ phạm bị tìm ra nhưng cố cãi: “Tôi không là thủ phạm duy nhất. Tôi hoàn toàn không có ý định giết người () hắn, một kẻ vô hình nhưng có mặt ở khắp nơi, ở bất cứ chỗ nào con người có sự ganh ghét thù hận, đã biến tôi thành công cụ của hắn” [3, tr. 40, 41]. Dù rằng cẩn trọng đến mấy cũng không tránh khỏi những phen lạc đường trong những mê cung chữ ấy. Đến hai tiểu thuyết sau, người đọc nhận thấy rõ Tạ Duy Anh đang cố gắng bứt khỏi cái bóng khổng lồ của làng Đồng với những vấn đề của nông thôn trong ký ức một thời sai lầm để hướng tới vấn đề con người và cuộc sống đô thị hiện đại. Là một nhà văn thông minh, với lối viết độc đáo, cảm giác ráo riết trong từng con chữ, Tạ Duy Anh có nhiều nhân vật và chi tiết nghịch dị nhằm giễu nhại góc khuất đời sống, những mảng tối trong nhân tính con người. Ngay từ khi dám “bước qua lời nguyền”, Tạ Duy Anh đã ghi tên mình vào làng văn như một cây bút dám viết, và viết rất nghiêm túc, không nề hà. Ông không chú ý nhiều tới dư luận, khen hay chê đối với ông chỉ là sự tham khảo, là việc đã rồi, chứ không phải là những điều tác động quá lớn tới cách viết của mình. Bản tính thẳng băng ấy vận cả vào văn ông. Các cuốn sách ra đời lần lượt nhưng lại không được in bởi nhà xuất bản vườn nhà (Tạ Duy Anh hiện là biên tập viên tại nhà xuất bản Văn học). Song, chính vì những cái thẳng băng không giấu diếm, che đậy trong những con chữ mà tác phẩm của ông nhận được nhiều sự quan tâm vủa các nhà nghiên cứu. Dù có nhiều ý kiến trái chiều về những đứa con tinh thần của nhà văn, song số đông vẫn thống 11 nhất xem Tạ Duy Anh là một nhà văn có nhiều cố gắng cách tân trong nghệ thuật mà tiêu biểu là Thiên thần sám hối và Giã biệt bóng tối. Ngay khi Giã biệt bóng tối đến tay độc giả, viện Văn học đã tổ chức một buổi tọa đàm, bàn về vai trò, vị trí cuốn tiểu thuyết này trong bối cảnh tiểu thuyết Việt Nam đương đại đủ thấy ảnh hưởng của sáng tác này tới diện mạo vốn rất đa dạng của nền văn học nước nhà. Thiên thần sám hối là món quả thơm ngon trong năm mất mùa tiểu thuyết 2004, gặt hái thành công cho Tạ Duy Anh với gần 20.000 bản in. Tin tức trên mạng chỉ có giá trị làm tăng thêm sự tò mò cộng với hâm mộ những giá trị mà người ta đã mặc định sẵn. Theo lời tác giả Việt Hoài trong bài Tạ Duy Anh giữa lằn ranh thiện - ác, “Thiên thần sám hối vẫn bán chạy ngoài sạp cũng như trong siêu thị sách và hoàn toàn có thể sẽ được tái bản một lần nữa”. Với lối kết cấu chặt và gọn, có thêm sự uyển chuyển và linh hoạt, cuốn tiểu thuyết được viết như cuốn tự truyện của một hài nhi này “khiến ai đọc nó cũng có thể tìm thấy mình trong đó và hầu hết là giật mình, không tự vấn lương tâm thì cũng tự xấu hổ mà âm thầm đỏ mặt, nhưng nó cũng không quá nghiệt ngã, ráo riết mà vẫn mở đường cho nhân vật - người đọc một lối thoát lương tâm” [32]. Giã biệt bóng tối đến tay bạn đọc năm 2008 cũng là một hiện tượng mang tên Tạ Duy Anh thu hút không ít sự quan tâm của dư luận cũng như giới phê bình. Phùng Gia Thế trong bài Sự bế tắc của một lối viết nhận định trong Giã biệt bóng tối, “tác giả đã thể hiện khá rõ sự bế tắc, loanh quanh của mình trong việc đi tìm lối đi cho tiểu thuyết” ở những bình diện: chủ đề cũ, trong khi cái nhìn không mới; không có cái mới về chất trong sự gia tăng điểm nhìn trần thuật; về ngôn ngữ và giọng điệu thì việc để nhân vật nói tục quá nhiều một cách sống sít chính là điểm yếu của tác phẩm [70]. Ý kiến này nhận được sự đồng tình của nhà nghiên cứu Nguyễn Hòa. Ông viết trong phần 12 bình luận dưới bài của Phùng Gia Thế rằng: ông cũng cảm thấy những điều tương tự khi đọc Giã biệt bóng tối, nhưng không công bố văn bản bài phát biểu có nhan đề Bảy nỗi thất vọng [70]. Tuy vậy, cuốn tiểu thuyết mới nhất này của Tạ Duy Anh cũng nhận được những đánh giá khá cao của nhiều nhà nghiên cứu, phê bình khác. Nguyễn Thanh Tú trong Giã biệt bóng tối - và một cách kể của tiểu thuyết hôm nay coi đây là sự thành công của nhà văn, bởi nó đã phơi trần “một thế giới lộn trái” với những vấn đề nhức nhối của xã hội bằng một lối viết lạ với “giọng điệu chủ đạo của tiểu thuyết là giọng giễu nhại” [81]. Tác giả Đoàn Ánh Dương trong bài Lối viết tiểu thuyết Việt Nam trong bối cảnh hội nhập (Qua trường hợp Tạ Duy Anh), sau khi khảo sát sáng tác của nhà văn này theo trình tự thời gian ở phương diện lối viết, đã khẳng định Giã biệt bóng tối là kết quả “ra đời trong sự ngập ngừng, khi những ảnh hưởng của lối viết tiểu thuyết phương Tây vẫn hãy còn mà người ta cũng đã dần ý thức thấy cần thiết phải có một lối viết thực sự của mình” [21, tr. 92]. Tác phẩm ra đời trong bối cảnh ấy, dù vô thức hay hữu thức, đã được xây dựng như một thế giới nghệ thuật mà trong đó mọi yếu tố, mọi cấp độ đều sử dụng triệt để giọng điệu giễu nhại. “Bởi khi đã cười nhạo vào một hiện tượng thì chí ít trong tiếng cười đó cũng đã lấp ló một thuộc tính nhận thức, một ý thức phản tỉnh” [21, tr. 92]. Như vậy, càng về sau, tiểu thuyết Tạ Duy Anh càng thể hiện sự bứt phá, tìm tòi sáng tạo của nhà văn. Và một trong những sáng tạo ấy là mật độ đậm đặc của giọng điệu giễu nhại trong 262 trang viết. Ngoài ra, các sáng tác của cả ba tác giả nói trên đều có nhiều luận án, luận văn khảo sát. Tuy vậy, chưa có công trình nào nghiên cứu về giọng điệu giễu nhại của họ một cách hệ thống và đặt chúng trong tương quan so sánh. Do vậy, chúng tôi chọn đề tài này, một mặt tiếp thu thành tựu của người đi trước, mặt khác chúng tôi sẽ thử sức đi sâu hơn để nghiên cứu vấn đề trên một hướng nhìn tương đối mới: Đặt sáng tác của họ trong toàn cảnh của nền văn 13 học trong thời kỳ đổi mới nhằm khẳng định sự vận động, đổi mới và phát triển của nền văn học Việt Nam sau chiến tranh. 3. Phạm vi, đối tƣợng nghiên cứu Hồ Anh Thái, Tạ Duy Anh và Châu Diên là những nhà văn viết cả tiểu thuyết, truyện ngắn. Chúng tôi sẽ khảo sát giọng điệu giễu nhại chủ yếu qua 4 cuốn tiểu thuyết sau: Cõi người rung chuông tận thế (2003) Thiên thần sám hối (2000) Giã biệt bóng tối (2007) Người sông Mê (2003) Chọn bốn tác phẩm này bởi đây là 4 cuốn tiểu thuyết có thể coi là tiêu biểu, đặc sắc nhất nếu nhìn từ giọng điệu giễu nhại. Ngoài ra, luận văn còn đặt các tác phẩm này trong mối tương quan với các sáng tác khác trong quá trình sáng tạo của các nhà văn đó, cũng như trong mối tương liên với các tác phẩm khác, của các tác giả khác cùng dòng này trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại như Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Y Ban... để thấy được đóng góp của họ cũng như xu thế phát triển của văn xuôi thời kỳ đổi mới. 4. Phƣơng pháp nghiên cứu Để thực hiện đề tài này, chúng tôi sẽ sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau: - Phương pháp thống kê Chúng tôi tiến hành khảo sát và thống kê bốn cuốn tiểu thuyết trên ở các vấn đề: tên nhân vật, tần số nhại lặp của các câu, từ, đoạn, cấu trúc, mệnh đề nhằm phục vụ cho việc xác lập cơ sở cho việc phân tích, tổng hợp thành các luận điểm lớn của luận văn. - Phương pháp phân tích, tổng hợp 14 Thông qua việc phân tích các tác phẩm của Hồ Anh Thái, Châu Diên, Tạ Duy Anh, chúng tôi xác định các biểu hiện của giọng điệu giễu nhại trong từng sáng tác, từ đó, bằng thao tác tổng hợp khái quát những đặc điểm chung nhất của giọng điệu giễu nhại, mối quan hệ tương liên của giọng điệu giễu nhại với cảm hứng sáng tác, chủ đề, đề tài của cả ba tác giả, đồng thời xây dựng hệ thống luận điểm các chương của luận văn. - Phương pháp hệ thống Xem xét giọng điệu giễu nhại trong hệ thống các biểu hiện từ cảm hứng nghệ thuật, đề tài, chủ đề tới sự dịch chuyển điểm nhìn, cách đặt tên nhân vật, các cấp độ nhại lặp. Đồng thời cũng xem xét nó trong sự thống nhất và vận động của các sáng tác của cả ba tác giả, đặt trong tiến trình phát triển của dòng văn xuôi Việt Nam thời kì sau 1975. - Phương pháp đối chiếu, so sánh Chúng tôi sử dụng phương pháp đối chiếu so sánh nhằm làm rõ những nét đặc trưng riêng trong giọng điệu giễu nhại của ba tác giả trong tương quan đồng đại và lịch đại với một số nhà văn có cùng đặc điểm hài hước, trào lộng, giễu nhại trong sáng tác. 5. Cấu trúc luận văn: Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Mục lục và Danh mục tài liệu tham khảo, luận văn sẽ được triển khai trong 3 chương nội dung: Chương 1: Giọng điệu giễu nhại trong văn xuôi Việt Nam sau 1975 Chương 2: Giọng điệu giễu nhại - một phương thức thể hiện cảm hứng phê phán của nhà văn với hiện thực Chương 3: Giọng điệu giễu nhại và những vấn đề nghệ thuật liên quan 15 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Tạ Duy Anh (2006), Giã biệt bóng tối, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội 2. Tạ Duy Anh (2006), Thiên thần sám hối, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội 3. Tạ Duy Anh (2006), Trò đùa của số phận, Nxb Tổng hợp Đồng Nai, Đồng Nai 4. Tạ Duy Anh (2008), Truyện ngắn chọn lọc, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội 5. Hà Anh, Văn chương 8x nhìn từ Vũ điệu thân gầy, website Việt Báo Việt Nam, /105, 20-5-2009 6. Aristole (2007), Nghệ thuật thơ ca, Nxb Lao động - Trung tâm văn hóa ngôn ngữ Đông Tây, Hà Nội 7. Lại Nguyên Ân (chủ biên) (2003), 150 thuật ngữ văn học, Nxb ĐHQG HN, Hà Nội 8. Lê Huy Bắc (1998), Giọng và giọng điệu trong văn xuôi hiện đại, Tạp chí Văn học, số 9, tr. 56-62 9. Nguyễn Thị Bình (2001), Cảm hứng trào lộng trong văn xuôi sau 1975, Tạp chí Nghiên cứu văn học, số 3, tr. 39-44 10. Nguyễn Thị Bình (2003), Một vài nhận xét về quan niệm hiện thực trong văn xuôi nước ta sau 1975, Tạp chí Văn học, số 4, tr. 21-25 11. Nguyễn Thị Bình (1996), Những đổi mới của văn xuôi nghệ thuật Việt Nam sau 1975 (khảo sát trên những nét lớn), Luận án PTS KH Ngữ văn, ĐHSP Hà Nội, Hà Nội 12. Nguyễn Thị Bình (2007), Tiểu thuyết Việt Nam sau 1975-Một cái nhìn khái quát, Tạp chí Nghiên cứu Văn học, số 2, tr. 49-54 13. Nguyễn Thị Bình (2005), Về một hướng thể nghiệm của tiểu thuyết Việt Nam gần đây, Tạp chí Nghiên cứu văn học, số 11, tr. 61- 66 14. Nguyễn Minh Châu (1976), Dấu chân người lính, Nxb Văn học, Hà Nội 15. Nguyễn Minh Châu (2003), Truyện ngắn Nguyễn Minh Châu, Nxb Văn học, Hà Nội 16. Châu Diên (2006), 73 chiếc cối đá, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội 17. Châu Diên (2003), Người sông Mê, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội 18. Châu Diên (2005), Truyện ngắn Châu Diên, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội 19. Trương Đăng Dung (2004), Tác phẩm văn học như là quá trình, Nxb KHXH, Hà Nội 16 20. Cao Việt Dũng, Suy nghĩ về dịch thuật và ngôn ngữ văn chương (Phần 2) website Việt Báo Việt Nam, ngu-van-chuong-Phan-2/20528358/103/, 20-5-2009 21. Đoàn Ánh Dương (2009), Lối viết tiểu thuyết Việt Nam trong bối cảnh hội nhập (Qua trường hợp Tạ Duy Anh), Tạp chí Nghiên cứu Văn học, số 7, tr.85-95 22. Đảng Cộng sản Việt Nam (1987), Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, Nxb Sự thật, Hà Nội 23. Nguyễn Đăng Điệp (2003), Vọng từ con chữ, Nxb Văn học, Hà Nội 24. Hà Minh Đức (1991), Mấy vấn đề lý luận văn nghệ trong sự nghiệp đổi mới, Nxb Sự thật, Hà Nội 25. Nguyễn Thị Hồng Giang, Vũ Lê Lan Hương, Võ Thị Thanh Hà (2007), Thế giới nghệ thuật Tạ Duy Anh, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội 26. Giới thiệu sách: Bốn lối vào nhà cười - Hồ Anh Thái, website Hoa và cỏ dại, 30/8/2006 27. Giới thiệu sách: Người sông Mê, website Ăn mày văn chương, 11/4/2004 28. Lê Bá Hán (chủ biên) (2002), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Giáo dục, Hà Nội 29. Xuân Hạo, Có “bốn lối” để vào “nhà cười”, website Mỗi ngày một cuốn sách, 23/10/2006 30. Phạm Ngọc Hiền, Giọng điệu anh hùng ca trong tiểu thuyết “người người lớp lớp” của Trần Dần, website Văn học & Nghệ thuật, viet.org/vietnamese/vanhoc_tacpham.asp?TPID=8459&LOAIID=33&TGID=1587, 06/02/2009 31. Lưu Hiệp (2007), Văn Tâm Điêu Long, Nxb Lao động - Trung tâm văn hóa ngôn ngữ Đông Tây, Hà Nội 32. Việt Hoài, Tạ Duy Anh giữa lằn ranh thiện - ác, website Việt Báo Việt Nam, 19/9/2004 33. Tô Hoài (2006), Ba người khác, Nxb Đà Nẵng, Đà Nẵng 34. Nguyễn Thị Thu Huệ, Hồ Anh Thái với Sắp đặt và diễn, website eVan, 12/11/2005 17 35. Nguyễn Thị Thu Huệ, Lang thang trong chốn rất riêng, website Báo Công An Nhân Dân, Chuyên đề An Ninh Thế giới và Văn nghệ Công An, 04/01/2007 36. Thụy Khuê, Tạ Duy Anh, người đi tìm nhân vật, website Văn tuyển, 10/10/2003 37. Tôn Phương Lan, Một cách nhìn về đổi mới tiểu thuyết chiến tranh, website Viện Văn học, 119&me nu =106, 10-2-2009 38. Tôn Phương Lan (2001), Một vài suy nghĩ về con người trong văn xuôi thời kỳ đổi mới, Tạp chí Văn học, số 9, tr. 43-48 39. Tôn Phương Lan (2005), Văn học và cảm nhận, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội 40. Phong Lê (2005), Tiểu thuyết mở đầu thế kỷ XXI trong tiến trình văn học Việt Nam từ tháng Tám - 1945, Tạp chí Nghiên cứu văn học, số 9, tr. 13-28 41. Lê Nguyên Long (2006), Về khái niệm cái kì ảo và văn học kì ảo trong nghiên cứu văn học, Tạp chí Nghiên cứu văn học, số 9, tr. 40-54 42. Nguyễn Văn Long (2003), Văn học Việt

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfv_l2_01732_8442_2008131.pdf
Tài liệu liên quan