Báo cáo Việc làm và giải quyết việc làm trong kế hoạch phát triển kinh tế xã hội

MỤC LỤC

 

 

Lời mở đầu.Trang 1

Chương 1. Việc làm và kế hoạch giải quyết việc làm trong kế hoạch

phát triển kinh tế xã hội.Trang 2

- Một số khái niệm cơ bản về lao động và việc làm.Trang 2

- Kế hoạch giải quyết việc làm trong kế hoạch

phát triển kinh tế xã hội

Chương 2.Tình hình thực hiện việc làm trong thời kì 1996 - 2000

- Mục tiêu, phương hướng cơ bản của kế hoạch giải quyết việc làm trong thời kì 1996 - 2002

- Thực trạng việc thực hiện kế hoạch giải quyết việc làm

thời kì 1996 - 2000. Trang 10

Chương 3. Những giải pháp thực hiện mục tiêu giải quyết việc làm trong kế hoạch 2001 - 2005. Trang 19

- Quan điểm, chủ trương của Đảng về vấn đề giải quyết việc làm trong thời kì kế hoạch 2001 - 2005. Trang 19

- Những giải pháp để thực hiện mục tiêu giải quyết việc làm. Trang 21

 

 

 

doc34 trang | Chia sẻ: oanh_nt | Ngày: 02/07/2013 | Lượt xem: 1487 | Lượt tải: 3download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Báo cáo Việc làm và giải quyết việc làm trong kế hoạch phát triển kinh tế xã hội, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ng tài chính tiền tệ như các nước khác trong khu vực và năm 2000 Chính phủ đã có những giải pháp điều chỉnh mạnh mẽ cho nên nền kinh tế lại được phục hồi và phát triển, dự báo trong những năm tiếp theo với đà tăng trưởng ổn định tỷ lệ thất nghiệp tiếp tục có xu hướng giảm. Tỷ lệ thời gian lao động ở nông thôn có xu hướng tăng ổn định từ 72.11%(năm 1996) lên 73.86%(năm 2000) bình quân mỗi năm tăng 0.44%, duy chỉ có năm 1998 là bị giảm xuống còn 71.13% . Với những dấu hiệu trên cho thấy mức tăng là không ổn định , có sự tăng giảm thất thường trong khi đó mức tăng chậm chỉ giao động ở mức 1% , không có những đột biến trong mức tăng hàng năm, điều đó phản ánh mức độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế, lao động ở trong nông thôn còn diễn ra chậm, mức đầu tư trong việc giải quyết việc làm trong nông thôn chưa được quan tâm chú trọng và đạt hiệu quả thấp. Để thực hiện mục tiêu tăng quỹ thời gian lao động ở nông thôn đến năm 2005 là khoảng 80-85% thì đây là việc làm khó đòi hỏi Đảng và Nhà nước cần tập trung chỉ đạo việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn một cách mạnh mẽ đầu tư đồng bộ vào các ngành nghề,nhất là hệ thống cơ sở hạ tầng đặc biệt là giao thông nông thôn , tiếp tục thực hiện việc đô thị hoá nông nghiệp nông nhằm tạo ra những bước đột phá trong thời gian tới thì mới có thể đạt được mục tiêu đã đề ra.... + Về quy mô của lực lượng lao động: tiếp tục gia tăng với tốc độ cao . Tính đến 1/7/2000 tổng số lực lượng lao động cả nước 38.643.089người so với kết quả tại thời điểm điều tra năm 1996 thì hàng năm mức tăng bình quân là 975.645người với tốc độ tăng 2.7%/năm, trong khi tốc độ tăng dân số bình quân hàng năm là 1.15%/năm . Năm 1996 tỷ lệ lượng lao động chiếm trong tổng dân số nói chung chiếm 0.48%và năm 2000 thì tỷ lệ này chiếm 0.5%, bình quân mỗi năm tỷ lệ này gia tăng 0.4%, Dự kiến giai đoạn 2001-2005 thì hàng năm gia tăng ở mức 0.35%, đến năm 2005 tỷ lệ lao động chiếm trong tổng dân số là 51.75% tương với 42.689.900người. Như vậy sau 5 năm lực lượng lao động sẽ tăng 4.046.800người cộng thêm số lao động thất nghiệp cuối năm 2000 chuyển xang khoảng 800.000 người và số thiếu việc làm khoảng 1triệu người thì số thuộc lực lượng lao động có nhu cầu về việc làm sẽ lên tới khoảng gần 20triệu người . Nếu phấn đấu mỗi năm giải quyết khoảng 1.4 triệu lao dộng thì số lao động đến cuối năm 2005 có nhu cầu việc làm còn rất lớn và mục tiêu giảm tỷ lệ thất nghiệp xuống dưới 5% là khó thực hiện . Vì vậy trong những năm tiếp theo Chính phủ cần phải thực hiện chính sách đối với các vấn đề về dân số, lao động, việc làm...,nhằm giảm mức cung về lao động và các sức ép đối với vấn đề việc làm. + Mức cầu về lao động trong thời gian qua: (Đơnvị:nghìn người) Các tiêu chí 1996 1997 1998 1999 2000 Tổng số 33.978 34.352 34.801 35.679 36.205 Trong đó Theo nhóm ngành. Nông –Lâm- Ngư nghiệp 23.431 22.589 23.018 22.861 22.670 Công nghiệp – Xây dựng 3.698 4.170 4.049 4.435 4.744 Dịch vụ 6.849 7.593 7.734 8.382 8.791 (Theo số liệu điều tra 2000 – Bộ lao động thương binh -xã hội) Theo các số liệu trong biểu trên chúng ta thấy số người có việc làm thường xuyên tăng liên tục trong thời kỳ 1996-2000, mỗi năm tăng trung bình gần 740 nghìn người trong đó năm tăng nhiều nhất là năm 2000 so với năm 1999 là 347 nghìn người. Xu hướng thay đổi trên phần nào được phản ánh qua sự thay đổi cơ cấu việc làm • Với lao động trong nông –lâm –ngư nghiệp trong thời kỳ này không thay đổi nhiều có xu hướng giảm ít nhưng không đều, từ 23431nghìn người (năm 1996) giảm xuống còn 22670 (năm 2000), bình quân hàng năm giảm 190 nghìn người • Với lao động trong ngành công nghiệp – xây dựng đã có những xu hướng thay đổi tích cực số việc làm đã tăng liên tục từ 3698 nghìn người (năm 1996) lên 4744 nghìn người (năm 2000), bình quân mỗi năm tăng 264 nghìn người . • Đối với lao động trong ngành dịch vụ cũng đã có những xu hướng tăng tích cực như ngành công nghiệp số lao động trong ngành ngày càng gia tăng, từ 6849 nghìn người (năm1996) lên đến 8791 nghìn người (năm2000), trung bình mỗi năm khoảng 486 nghìn người. Nhìn chung trong thời kỳ 1996- 2000 nhu cầu về lao động trong các ngành kinh tế của đất nước đã có những dấu hiệu biến chuyển tích cực, nhu cầu về lao động trong các ngành đều được thay đổi theo xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế đã đặt ra là tăng tỷ trọng lao động trong công nghiệp và dịch vụ, giảm tỷ trọng lao động trong nông nghiệp ,với mức thay đổi từ 33798 nghìn lao động (năm1996) lên 36205 nghìn lao động, hàng năm nhu cầu về lao động trong các ngành đã tạo ra khoảng 557 nghìn chỗ làm việc, nhưng xét một cách tổng quát về nhu cầu lao động trong thời gian qua ở nước ta vẫn còn nhiều bất cập, việc nhu cầu trong các ngành đều tăng nhưng mức tăng lại không ổn địnhcụ thể trong giai đoạn 1997- 1998, với ngành nông nghiệp sự tăng giảm thể hiện ở chỗ 22589nghìn người (năm 1997) lên 23018 nghìn người (năm 1998), với ngành công nghiệp thì nhu cầu đó lại giảm từ 4170 (năm 1997) xuống 4049 (năm 1998), điều đó phản ánh cơ cấu, trình độ kinh tế đất nước ta vẫn còn mang nặng tính chất nông nghiệp , các ngành công nghiệp, dịch vụ vẫn chưa đủ lớn để có thể thúc đẩy nền kinh tế phát triển, sức cạnh tranh nền kinh tế còn yếu cho nên dễ bị ảnh hưởng, tác động xấu khi có khủng hoảng kinh tế diễn ra trong khu vực, như trong cuộc khủng hoảng tài chính khu vực diễn ra trong giai đoạn 1997- 1998 đã làm ảnh hưởng đến nhu cầu lao động trong các ngành kinh tế của đất nước, trong những năm tiếp theo dự báo kinh tế đất nước sẽ phát triển ổn định và không có những biến động lớn, đó sẽ là điều kiện để ta tiếp tục chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động theo hướng hợp lí ,tăng khả năng cạnh tranh của nền kinh tế trong giai đoạn hội nhập. + Về cơ cấu lao động trong các ngành: Chỉ tiêu Năm 1996 Năm1999 Số người (ngàn người) Tỷ lệ (%) Số người (ngànngười) Tỷ lệ (%) Nông-lâm-ngư 24366.7 69.8 22725.6 63.6 Công nghiệp 3682.1 12.45 4450.2 12.45 Dịch vụ 6858.8 19.65 855.3 22.93 Về cơ cấu lao động trong các ngành có xu hướng sau : . Với lao động nông nghiệp có mức giảm từ 2366.7 nghìn người (năm 1996) xuống 22725.6 nghìn người (năm 1999) như vậy trong 4 năm đã gỉam được 1641.1 nghìn người tương đương với mức giảm là 6.2% từ 69.8% xuống 63.6% . . Với lao động trong công nghiệp đã có xu hướng tăng từ 3682.1 nghìn người (năm1996) lên 4450.2 nghìn người (năm 1999) và trong 4năm đã tăng 768.1 nghìn người và mức tăng về tỷ lệ % lại không có sự thay đổi vì tốc độ tăng trưởng lao động trong ngành công nghiệp chỉ tương đương với tốc độ tằng trưởng lực lượng lao động. . Với lao động trong ngành dịch vụ trong 4 năm qua đã tăng khoảng 1696.5 nghìn người từ 6858.8 nghìn người (năm1996 ) lên 8555.3 nghìn người trong năm 1999 tương đương với mức tăng là 3.28% từ 19.65% lên 22.93% . Trong kế hoạch 1996- 2000 nói chung về cơ cấu lao động đã có những thay đổi đáng kể, lao động trong nông nghiệp có xu hướng giảm mạnh, lao động trong khu vực công nghiệp có xu hướng tăng nhưng tốc độ tăng không cao , đối với ngành dịch vụ lao động lại có xu hướng tăng nhanh hơn tốc độ tăng trưởng lao động trong ngành công nghiệp . Tuy trong thời kỳ kế hoạch 1996-2000 do nền kinh tế bị ảnh hưởng của khủng hoảng cho nên một số mục tiêu đặt ra đã không đạt được , trong chuyển dịch cơ cấu lao động với đà tăng trưởng ổn định của nền kinh tế đã được lấy lại từ năm 2000 thì cơ cấu lao động của đất nước vẫn tiếp tục được chuyển dịch mạnh mẽ, dự báo trong những năm tới đối với lao động trong nông nghiệp do được Đảng và Nhà nước quan tâm bằng các chính sách phát triển về khôi phục làng nghề, ngành nghề, phát triển trang trại...trong nông thôn, thì bộ phận này sẽ giảm mạnh và chuyển dần xang các hoạt động phi nông nghiệp ở nông thôn, do đó cơ cấu của lao động trong nông nghiệp sẽ có khả năng được giảm xuống còn 56 – 57% trong mục tiêu kế hoạch đã đề ra đến năm 2005. Đối với lao động trong công nghiệp thì xu hướnglao động ở khu vực này cũng sẽ tăng, với những phương án, định hướng phát triển các ngành công nghiệp mũi nhọn, các ngành công nghiệp mới, các chính sách phát triển các khu công nghiệp ,khu chế xuất và các chính sách phát triển khu vực tư nhân, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài thì tốc độ tăng trưởng lao động trong công nghiệp sẽ có xu hứơng tăng cao và cơ cấu lao động sẽ được chuyển dịch một cách mạnh mẽ, để đạt mục tiêu cơ cấu lao động trong công nghiệp từ 20 –21% vào năm 2005, đòi hỏi phải tiếp tục quan tâm phát triển các ngành công nghiệp, một mặt vừa quan tâm phát triển các ngành mà ta có thể sử dụng được các lợi thế về lao động, một mặt cần quan tâm phát triển các ngành có hàm lượng khoa học kĩ thuật cao để thúc đẩy lôi kéo các ngành khác, trong thời gian tới khi đất nước tham gia qúa trình hội nhập kinh tế trong khu vực đây nó cũng vừa là cơ hội vừa là khó khăn đối với các ngành công nghiệp, vì vậy đòi hỏi các ngành cần có những chiến lược và bước đi hợp lí để có thể cạnh tranh được với các ngành công nghiệp của các nước trong khu vực . Đối với lao động trong ngành dịch vụ, trong những năm qua do sự phát triển mạnh mẽ của ngành với tốc độ tăng trưởng bình quân khoảng 6.2%/năm, tuy là ngành có từ lâu nhưng lại mới được quan tâm phát triển trong những năm gần đây, mặc dù vậy hàng năm ngành đã giải quyết được số lượng lớn lao động ,hoạt động dịch vụ ở nước ta trong thời gian qua chủ yếu là hoạt động du lịch ,khách sạn ,nhà hàng...., vì vậy chưa phát huy hết tiềm năng của ngành , trong thời gian tới được dự báo là rất khả quan trong phát triển kinh tế và sự ổn định về tình hình chính trị đối với đất nước ta, ngành sẽ có cơ hội để tiếp tục phát triển. Để thực hiện được mục tiêu đến năm 2005 tỷ trọng lao động trong ngành dịch vụ sẽ là 22- 23% thì ngành cần phải tận dụng những cơ hội để phát triển bằng cách đa dạng hoá các hình thức du lịch ,vận tải, đầu tư xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng ,nhằm tận dụng những lợi thế về các hình thức dịch vụ mà chúng ta đang có. +Tỷ lệ lực lượng lao động qua đào tạo Chỉ tiêu 1996 2000 Tăng giảm bình quân hàng năm Tuyệt đối (người) Tương đối (%) Lao động không có trình độ 30.636.419 32.650.666 503.562 1.6 Đào tạo sơ cấp/họcnghề 1.955.440 2.618.746 165.835 7.58 Trung học chuyên nghiệp 1.342.515 1.870.136 131.905 8.64 Cao đẳng /đại học 806.171 1.503.541 174.313 16.86 . Với lao động không có trình độ trong bảng thống kê ta thấy chiếm đến 88.2% tổng số lao động của cả nước ,với quy mô hàng năm tăng 1,6% , như vậy tỷ lệ lao động chưa qua đào tạo hàng năm ở nước ta tương đối cao và tốc độ tăng lao động ở nhóm này rất lớn ,số lao động không có trình độ này thường tập trung ở các vùng nông thôn ,vùng sau vùng xa , nơi mà không có điều kiện về giáo dục ,nếu so sánh về tỷ lệ gia tăng hàng năm mặc dù tỷ lệ này thấp nhất song do quy mô của nhóm người này lớn cho nên số lượng lao động hàng năm không có nghề lớn, vì vậy có thể nói hàng năm số lượng lao động mới bước vào tuổi lao động mà chưa được đào tạo nghề là rất lớn, đây chính là sức ép rất lớn trong vấn đề giải quyết việc làm . Với lao động đã qua đào taọ sơ cấp hoặc học nghề thì tỷ lệ này ngày càng gia tăng, với số lượng bình quân hàng năm tăng khoảng 165.835 người, tương đương với tỷ lệ gia tăng là 7.58%/năm . . Với lao động được đào tạo ở bậc trung học chuyên nghiệp, hàng năm số lao động ở bậc này tăng khoảng 131.905nghìn người với tỷ lệ gia tăng khoảng 8.64% . . Với lao động có trình độ cao đẳng, đại học trong những năm vừa qua lao động ở bậc này có sự cải thiện đáng kể, hàng năm có khoảng 174.313 nghìn người được đào tạo, vói tỷ lệ tương đối cao là 16.86%/năm .Như vậy trong những năm vừa qua lao động được đào tạo ở bậc cao đẳng, đại học so với các bậc khác thì có mức tăng cao nhất, đây là những dấu hiệu cho thấy, đội ngũ lao động có trình độ khoa học kĩ thuật ngày càng được tăng cường đáp ứng cho nhu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước trong những năm tiếp theo. Nhìn chung tỷ lệ lao động trong thời kỳ 1996-2000 đã có những sự thay đổi đáng kể, mặc dù tỷ lệ gia tăng lao động hàng năm trong độ tuổi lao động còn cao, nhưng tỷ lệ gia tăng lao động ở các bậc đều được thay đổi và ngày càng tăng cao hơn, đặc biệt là lao động ở bậc cao đẳng và đại học, bên cạnh những thành tựu mà chúng ta đã đạt được thì vẫn còn một số những mặt hạn chế đó là,nếu so sánh với mục tiêu của kế hoạch 1996- 2000 là nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo lên 22-25% vào năm 2000, nhưng chỉ mới đạt được khoảng 18.35% lao động được đào tạo trong tổng số lao động của toàn bộ nền kinh tế. Đặc biệt sự phân bố đã qua đào tạo từ sơ cấp , học nghề trở lên cũng như công nhân kĩ thuật đều tập trung ở các khu vực thành thị , và các khu đô thị trọng điểm làm cho sức ép về lao động và việc làm ở các khu vực này ngày càng bức xúc. Lực lượng lao động ở nông thôn tuy chiếm đến 77.44% nhưng lao động đã được đào tạo từ sơ cấp, học nghề trở lên chỉ chiếm 42.26% trong tổng số lao động đã qua đào tạo của cả nước , đây là vấn đề còn nhiều bất cập đối với việc thúc đẩy phát triển kinh tế nông thôn trong những năm tiếp theo, việc bổ xung triển khai mạng lưới đội ngũ lao động ,cán bộ khoa học kĩ thuật đến tất cả các vùng nông thôn sẽ gặp rất nhiều khó khăn. Bên cạnh đó cấu trúc đào tạo về lao động của đất nước vẫn còn bất hợp lí , năm 1996 cấu trúc đào tạo là 1-1.7-2.4 tức là cứ có 1 lao động có trình độ cao đẳng , đại học thì cần có 1.7 lao động có trình độ trung học và 2.4 lao động dã qua đào tạo nghề,đến năm 2000 cấu trúc này là 1 –1.2 –1.7 trong khi đó mục tiêu của nghị quyết Trung ương đề ra là 1 – 4 -10 , như vậy so với mục tiêu đã đề ra thì việc thực hiện vẫn chưa đạt được mục tiêu và kết quả thực hiện còn rất khiêm tốn , điều đó cho thấy còn rất nhiều bất hợp lí trong cơ cấu đào tạo về lao động của đất nước , chính sự bất hợp lí đó đã gây nên sự lãng phí về nguồn lực và nguồn lực này đã không được sử dụng một cách hiệu quả, nguyên nhân của những hạn chế trên có thể bắt nguồn từ việc người lao động chưa ý thức rõ được vai trò quan trọng của việc đào tạo nghề, bên cạnh đó còn phải kể đến sự yếu kém của các cơ sở đào tạo nghề và sự thể hiện vai trò quản lí của Nhà nước đối với vấn đề đào tạo nghề cho người lao động bằng các công cụ chính sách chưa thực sự phát huy và coi trọng trong vấn đề này. Để thực hiện được mục tiêu về tỷ lệ lao động trong những năm tiếp theo là nâng tỷ lệ lao động của cả nước đã qua đào tạo lên 30%, thì số người có trình độ sơ cấp, học nghề ít nhất là 8 triệu 538 nghìn người, trung học chuyên nghiệp ít nhất là 3 triệu 415 nghìn người và tỷ lệ lao động qua đại học, cao đẳng trở lên phải có 854 nghìn người. Như vậy hàng năm số lượng lao động được đào tạo nghề phải tăng thêm khoảng 1184 nghìn người với tốc độ tăng là 26.7%, số lao động tốt nghiệp trung học chuyên nghiệp hàng năm cần phải tăng thêm khoảng 854 nghìn ngươì và số lượng tốt nghiệp cao đẳng ,đại học trở lên cần bổ xung khoảng 214 nghìn người thì đây là nhiệm vụ không nhỏ và rất khó khăn đòi hỏi phải có sự cố gắng của mỗi cá nhân cần phải nhận thức được vai trò quan trọng của việc học nghề, đào tạo nghề, có sự nỗ lực của các cấp các ngành từ Trung ương đến địa phương ,phải coi đó là nhiệm vụ quan trọng trong phát triển kinh tế, các ngành, các cấp cần thấy rõ vai trò, trách nhiệm trong vấn đề này,đặc biệt trong thời gian tới Nhà nước cần phải có những chính sách khuyến khích, động viên, hỗ trợ đối với từng người lao động, đối với các cơ sở đào tạo nghề và nâng cao chất lượng đào tạo nghề, phải có những chính sách ưu tiên, khuyến khích các nhà đầu tư qua tâm vào lĩnh vực này ....Có như thế thì mới có thể đạt được mục tiêu đã đề ra. Những hạn chế còn tồn tại . . Kế hoạch 1996 – 2000 đã đặt ra nhiều mục tiêu về giải quyết việc làm,Đảng và Nhà nước đã có những nỗ lực rất lớn trong vấn đề giải quyết việc làm: như đầu tư phát triển, mở rộng sản xuất dịch vụ, đa dạng hoá ngành nghề... từ đó đã tạo cơ hội bình đẳng cho mọi người trong việc tạo việc làm và tìm kiếm việc làm, tuy nhiên tỷ lệ thất nghiệp lại đang có xu hướng gia tăng ở thành thị và nông thôn với mục tiêu đặt ra trong kế hoạch 1996 – 2000 là giảm tỷ lệ thất nghiệp xuống dưới 5% là chưa thực hiện được trong khi tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị vẫn ở mức 6.44% (năm 2000) ,đối với khu vực nông thôn mục tiêu đặt ra trong kế hoạch là nâng tỷ lệ quỹ thời gian sử dụng lao động ở nông thôn lên 75% vào năm 2000, thì mới chỉ thực hiện được là 73.86% trong năm 2000. Nguyên nhân không thực hiện được các chỉ tiêu trên có thể bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân, trước hết phải kể đến đó là việc gia tăng tốc độ lực lượng lao động nhanh hơn tốc độ gia tăng về việc làm, hàng năm tốc độ tăng lao động khoảng 0.4% trong khi đó tốc độ tăng việc làm chỉ là 0.15%, hàng năm nhu cầu việc làm cần giải quyết từ 1.3 – 1.4 triệu lao động trong khi chỉ đáp ứng khoảng hơn 1 triệu người, vì vậy đã gây nên tình trạng thất nghiệp dặc biệt là ở thành thị, nguyên nhân thứ hai có thể kể đến đó là việc không đáp ứng được về nhu cầu lao động có trình độ lành nghề cho nền kinh tế, theo thống kê cho thấy tỷ lệ thất nghiệp thường tập trung vào bộ phận lao động chưa qua đào tạo, nguyên nhân thứ ba đó là việc chưa có sự chỉ đạo thống nhất đối với các ngành các lĩnh vực có quan tâm, các ngành các cấp chưa thực sự coi trọng việc giải quyết lao động và coi đó là vấn đề mà Nhà nước phải giải quyết, bên cạnh đó người lao động chưa thấy rõ được vai trò quan trọng của việc học nghề và đào tạo nghề, nguyên nhân thứ năm đó là việc tổ chức xây dựng và thực hiện kế hoạch còn yếu, một nguyên nhân nữa đó là các hệ thống chính sách của Đảng và Nhà nước nhiều khi không phát huy được tác dụng do trong quá trình thực hiện còn gặp nhiều khó khăn. . Cơ cấu về lao động mặc dù đã có sự thay đổi trong kế hoạch 1996 – 2000, nhưng vẫn còn tỏ ra bất hợp lí, chưa đáp ứng được yêu cầu của nền kinh tế, sự thay đổi về cơ cấu lao động rất chậm trong khi cơ cấu kinh tế thay đổi tương đối rõ nét. Những năm qua tỷ trọng nông nghiệp giảm, tỷ trọng công nghiệp tăng nhưng tỷ trọng dịch vụ trong tổng sản lượng hầu như không thay đổi ,năm 1996 nông nghiệp chiếm 27.8%, công nghiệp – xây dựng chiếm 29.7% và dịch vụ là 42.5% trong khi đó cơ cấu về lao động là nông nghiệp 69%, lao động công nghiệp 10.9% và lao động dịch vụ là 20.1%, đến năm 2000 sản lượng nông nghiệp chiếm 24.5%, sản lượng công nghiệp – xây dựng chiếm 36.7%và sản lượng dịch vụ là 38.8% thì lao động trong nông nghiệp là 62.6%, lao động trong công nghiệp là 13.1%, lao động dịch vụ là 24.3%. Điều đó phản ánh tốc độ tăng trưởng về sản lượng và tốc độ tăng trưởng lao động trong các khu vực rất khác biệt. Nguyên nhân do cơ cấu đầu tư phát triển nguồn lao động và đầu tư chuyển dịch cơ cấu ngành chưa hợp lí, cơ sở vật chất kĩ thuật của nền kinh tế vẫn còn chưa đáp ứng được yêu cầu của phát triển kinh tế cộng vào đó là do cuộc khủng hoảng tài chính trong khu vực. .Việc đào tạo nghề cho lao động trong thời gian qua vẫn còn nhiều bất cập, nếu so với kế hoạch 1996 – 2000 là nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo lên 22- 25% vào năm 2000, nhưng chỉ mới đạt được 18.35%. Đặc biệt sự phân bố lực lượng đã qua đào tạo từ sơ cấp/học nghề trở cũng như từ công nhân kĩ thuật có bằng trở lên đều tập trung ở khu vực thành thị và các khu đô thị trọng điểm. Lực lượng lao động ở nông thôn tuy chiếm 77.44% nhưng lao động đã qua đào tạo từ sơ cấp học nghề trở lên chỉ chiếm 42.26% trong tổng số lao động đã qua đào tạo của cả nước. Bên cạnh đó cấu trúc đào tạo vẫn còn bất hợp lí kế hoạch 1996- 2000 cấu trúc đào tạo là 1- 1.7- 2.4, trong khi đó cấu trúc đào tạo đã thực hiện là 1-1.2-1.7. Nguyên nhân của hạn chế trên có thế bắt nguồn từ việc người lao động chưa nhận thức rõ được vai trò của việc đào tạo nghề, ngoài ra còn phải kể đến sự yếu kém của các cơ sở đào tạo nghề và vai trò quản lí của nhà nước trong việc xây dựng, thực hiện các kế hoạch chương trình về đào tạo nghề và giải quyết việc làm chưa thật đúngvà triệt để. . Giải quyết việc làm đòi hỏi khẩn trương nhưng trình độ tổ chức và quản lí điều hành của chúng ta vẫn còn bộc lộ nhiều khuyết điểm , chưa theo kịp cơ chế quản lí mới, bộ máy quản lí còn cồng kềnh,mối quan hệ giữa các ngành chức năng chưa góp phần tích cực, chưa tạo ra được sự đồng bộ khi cùng nhau giải quyết một vấn đề. Hệ thống cơ sở vật chất còn nghèo nàn chưa đáp ứng đủ nhu cầu đào tạo, hàng năm mọi hoạt động đều chông chờ từ ngân sách Nhà nước cấp, cộng vào đó việc xã hội hoá giáo dục trong lĩnh vực này còn gặp nhiều khó khăn, vì vậy việc thực hiện các chỉ tiêu Nhà nước giao nằm trong phạm vi bó hẹp không đạt kết quả. . Một số văn bản pháp quy về quản lí lao động và các văn bản hướng dẫn chưa được ban hành kịp thời dẫn đến các tiêu cực trong quá trình thực hiện, trong thời gian vừa qua việc hoạt động lộn xộn của các trung tâm tư vấn về việc làm và các trung tâm dịch vụ việc làm do không có sự điều hành của các cơ quan quản lí đã gây nên những tiêu cực ảnh hưởng xâú đến thị trường lao động… Hệ thống thông tin thị trường lao động chưa đầy đủ, chưa đáp ứng được yêu cầu đề ra Chương 3 NHỮNG GIẢI PHÁP THỰC HIỆN MỤC TIÊU GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM TRONG KẾ HOẠCH 2001 – 2005. Quan điểm, chủ trương của Đảng về vấn đề giải quyết việc làm trong thời kỳ kế hoạch 2001 – 2005. Kế hoạch 2001 – 2005 trong nghị quyết Trung ương Đảng IX đã đề ra đã chỉ rõ quan điểm, chủ trương: “Giải quyết việc làm là yếu tố quyết định để phát huy nhân tố con người, ổn định và phát triển kinh tế, lành mạnh xã hội, đáp ứng nguyện vọng chính đáng và yêu cầu bức xúc của người dân. Để giải quyết về cơ bản người lao động được làm việc phải tạo môi trường và điều kiện thuận lợi để mọi thành phần kinh tế đầu tư phát triển rộng rãi các cơ sở sản xuất kinh doanh, tạo nhiều việc làm và phát triển thị trường lao động. ”. Đây là quan điểm , chủ trương đúng đắn của Đảng và nhà nước rất phù hợp với tình hình, điều kiện kinh tế của nước ta khi bước xang thế kỉ 21. Sau hơn 15 năm đổi mới kinh tế đất nước đã đạt được những thành tựu rực rỡ, bước đầu đã hình thành nền tảng cơ sở vững chắc để tạo đà cho những năm tiếp theo. Việc thực hiện được những kết quả tốt trong kế hoạch 1996 – 2000 trong điều kiện có nhiều biến động trong khu vực và trên thế giới, đã là nguồn cổ vũ động viên lớn để chúng ta tiếp tục đưa nền kinh tế phát triển mạnh trong những năm tới, Việt nam hiện nay vẫn còn là nước đang phát triển, nguy cơ tụt hậu với các nước trong khu vực và trên thế giới là rất rõ ràng, vì vậy để có thể giảm nguy cơ đó chỉ bằng cách chúng ta phải phát triển kinh tế và phải cố gắng thực hiện bằng được các mục tiêu mà chúng ta đã đề ra . Nguồn lực về lao động của chúng ta còn dồi dào với đặc điểm là dân số trẻ, vì thế trong những năm tiếp theo đây vẫn là một lợi thế rất lớn phục vụ cho công cuộc công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước, nhưng để làm được điều đó Đảng đã chỉ rõ là cần phải đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu lao động xã hội phù hợp với cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng lao động ở các ngành công nghiệp ,dịch vụ và giảm tỷ trọng lao động trong ngành nông nghiệp, bên cạnh đó cần tạo môi trường và điều kiện thuận lợi cho tất cả các thành phần kinh tế đầu tư phát triển nhằm huy động nội lực và thu hút ngoại lực cho phát triển kinh tế, cần phải giải quyết được các vấn đề xã hội bức xúc, tạo nhiều việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị và thiếu việc làm ở nông thôn, đây là những tư tưởng, quan điểm chiến lược định hướng cho một thời kỳ dài về lao động và việc làm .Tạo nhiều việc làm mới là yếu tố quyết định để phát huy nhân tố con người, đẩy mạnh và phát triển kinh tế, ổn định xã hội nhằm đáp ứng yêu cầu bức xúc của người dân. Cần phải kết hợp chặt chẽ giữa tăng trưởng và việc làm, tạo nhiều ngành nghề mới thu hút lao động. Tăng cường các hoạt động hỗ trợ trực tiếp giải quyết việc làm thông qua thực hiện có hiệu quả chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm, các chương trình xoá đói giảm nghèo, các hoạt động tín dụng ưu đãi để tạo việc làm, thông tin tư vấn và giới thiệu việc làm. Tiếp tục tăng cường việc đẩy mạnh xuất khẩu lao động, xây dựng và thực hiện chặt chẽ cơ chế, chính sách đồng bộ về đào tạo nguồn lao động đưa lao động ra nước ngoài. Đây là những căn cứ xác định các giải pháp về việc làm. Một số chỉ tiêu kế hoạch việc làm giai đoạn 2001 – 2005. . Phấn đấu bình quân mức tăng GDP là 7.5%/năm. . Tỷ trọng nông – lâm –ngư nghiệp chiếm: 20 – 21% GDP. . Tỷ trọng công nghiệp – xây dựng : 38 –39% GDP. . Tỷ trọng ngành dịch vụ chiếm: 41 – 42% GDP. . Đến năm 2005 phải tạo việc làm mới và ổn định việc làm cho 7.5 triệu lao động bình quân 1.5 triệu lao động /năm. . Tăng tỷ trọng lao động trong sản xuất công nghiệp – xây dựng lên 20 – 21%. . Tăng tỷ trọng lao động trong ngành dịch vụ lên 22 – 23%. . Giảm tỷ trọng lao động trong ngành nông – lâm – ngư nghiệp xuống còn 56 – 57%. . Giảm tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị xuống còn 5.4%. . Tăng quỹ thời gian sử dụng lao động ở nông thôn lên 80%. . Tăng tỷ lệ lao động qua đào tạo lên 30%, trong đó đào tạo nghề đạt 18 – 19%. 2 .Những giải pháp để thực hiện mục tiêu giải quyết việc làm. 2.1. Nhóm giải pháp về thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Thực hiện chuyển đổi kinh tế

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docBáo cáo Việc làm và giải quyết việc làm trong kế hoạch phát triển KTXH.doc
Tài liệu liên quan