Chuyên đề Giải pháp hoàn thiện chế độ bảo hiểm xã hội đối với người lao động trong các doanh nghiệp ngoài quốc doanh ở Hà Nội

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI 3

1.1- NHẬN THỨC CƠ BẢN VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI. 3

1.1.1. Khái niệm chung về bảo hiểm xã hội. 3

1.1.2. Vai trò của bảo hiểm xã hội đối với kinh tế - xã hội. 5

1.1.3. Các nguyên tắc của bảo hiểm xã hội . 5

1.1.4. Nội dung của bảo hiểm xã hội. 7

1.2. TẦM QUAN TRỌNG CỦA BẢO HIỂM XÃ HỘI TRONG CÁC DOANH NGHIỆP NGOÀI QUỐC DOANH. 10

1.2.1. Đặc điểm hoạt động của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh: 10

1.2.2. Tầm quan trọng của BHXH trong các doanh nghiệp

ngoài quốc doanh 11

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN BẢO HIỂM XÃ HỘI 14

TRONG CÁC DOANH NGHIỆP NGOÀI QUỐC DOANH Ở HÀ NỘI 14

2.1- SƠ LƯỢC TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI LAO ĐỘNG CỦA

 THÀNH PHỐ HÀ NỘI 14

2.1.1. Khái quát hoạt động của các doanh nghiệp trên địa bàn

Thành phố Hà Nội 14

2.1.2. Tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp

ngoài quốc doanh. 15

2.2- THỰC TRẠNG QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN BẢO HIỂM XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP NGOÀI QUỐC DOANH

 Ở HÀ NỘI 16

2.2.1. Đối tượng thực hiện 16

2.2.2. Hoạt động bảo hiểm xã hội trong các doanh nghiệp

ngoài quốc doanh ở Hà Nội. 16

CHƯƠNG III: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHẾ ĐỘ BẢO HIỂM XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI LAO ĐỘNGTRONG DOANH NGHIỆP NGOÀI QUỐC DOANH Ở

THÀNH PHỐ HÀ NỘI. 28

3.1. PHỐI HỢP VỚI UỶ BAN NHÂN DÂN PHƯỜNG XÃ TĂNG CƯỜNG ĐỐI TƯỢNG THU VÀ CẢI TIẾN NGHIỆP VỤ THU BẢO HIỂM XÃ HỘI. 28

3.1.1. Phối hợp với Uỷ ban nhân dân phường xã tăng cường đối tượng thu bảo hiểm xã hội: 28

3.1.2. Từng bước cải tiến mẫu biểu thu bảo hiểm xã hội trong các doanh nghiệp ngoài quốc doanh: 29

3.2. CẢI TIẾN THỦ TỤC, HỒ SƠ CHI TRẢ CÁC CHẾ ĐỘ BẢO HIỂM XÃ HỘI NGẮN HẠN. 29

3.3. CẢI TIẾN QUY TRÌNH VÀ CƠ CHẾ GIẢI QUYẾT CHẾ ĐỘ CHÍNH SÁCH BẢO HIỂM XÃ HỘI. 30

3.4. CẢI TIẾN QUY TRÌNH CẤP SỔ, XÁC NHẬN VÀ QUẢN LÝ SỔ BẢO

 HIỂM XÃ HỘI CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG CÁC DOANH NGHIỆP

NGOÀI QUỐC DOANH. 31

3.5. ƯU TIÊN TRANG BỊ CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀO QUẢN LÝ

BẢO HIỂM XÃ HỘI ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP NGOÀI QUỐC DOANH. 32

3.6. ĐẨY MẠNH CÔNG TÁC THÔNG TIN TUYÊN TRUYỀN, HƯỠNG DẪN THỰC HIỆN CHẾ ĐỘ, CHÍNH SÁCH BẢO HIỂM XÃ HỘI. 33

3.7. KIẾN NGHỊ VỚI NHÀ NƯỚC: 34

3.7.1. Mở rộng đối tượng thực hiện bảo hiểm xã hội ra tất cả các đơn vị kinh tế ngoài quốc doanh có quan hệ thuê mướn, sử dụng lao động: 34

3.7.2. Sửa đổi chế độ trợ cấp một lần: 35

3.7.4. Sớm ban hành luật bảo hiểm xã hội: 35

KẾT LUẬN 37

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 38

 

doc42 trang | Chia sẻ: maiphuongdc | Ngày: 18/09/2014 | Lượt xem: 714 | Lượt tải: 3download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Chuyên đề Giải pháp hoàn thiện chế độ bảo hiểm xã hội đối với người lao động trong các doanh nghiệp ngoài quốc doanh ở Hà Nội, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
á thành các công ty cổ phần để hoạt động sản xuất, kinh doanh đạt hiệu quả. Điều này cũng làm cho số doanh nghiệp và người lao động ngoài quốc doanh ngày càng tăng. Với những lý do trên, chứng tỏ số lao động làm việc tại các doanh nghiệp ngoài quốc doanh cần thực hiện chế độ, chính sách bảo hiểm xã hội đã và sẽ ngày càng tăng, khả năng đóng góp của khu vực này vào quỹ BHXH ngày càng lớn. Tóm lại, thực hiện các chế độ, chính sách bảo hiểm xã hội cho người lao động các doanh nghiệp ngoài quốc có tầm quan trọng rất đặc biệt và lâu dài. Đó là một chủ trương, chính sách hết sức đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta, đồng thời cũng là một nhiệm vụ rất cấp thiết trong tình hình hiện nay. Chương II thực trạng quá trình thực hiện Bảo hiểm xã hội trong các doanh nghiệp ngoài quốc doanh ở Hà Nội 2.1- Sơ lược tình hình kinh tế - xã hội lao động của Thành phố Hà Nội 2.1.1. Khái quát hoạt động của các doanh nghiệp trên địa bàn Thành phố Hà Nội Thành phố Hà Nội có 12 quận, huyện ( trong đó có 7 quận và 5 huyện ), 228 phường, xã ( có 105 phường và 123 xã ) với gần 3 triệu dân,với tốc độ tăng dân số trên dưới 2% năm được tạo thành bởi hai yếu tố: tăng tự nhiên và tăng cơ học. Là một trung tâm kinh tế lớn của cả nước. Sản xuất kinh doanh tại Thành phố từ khi thực hiện chính sách đổi mới theo Nghị quyết Đại hội lần thứ VI của Đảng đã có những bước phát triển mạnh mẽ. Đặc biệt, từ những năm đầu thập niên 90 trở lại đây với sự xuất hiện của các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh, sản xuất kinh doanh trên địa bàn thành phố ngày một khởi sắc, đã góp phần quan trọng vào sự phát triển của đất nước. Hiện nay, trên địa bàn Thành phố Hà Nội có hơn 5000 cơ quan, đơn vị kinh tế từ những tập đoàn, tổng công ty lớn đến những cơ sở kinh tế hộ gia đình, đa dạng trong các hoạt động kinh tế: Nhà nước, tập thể, tư nhân, xí nghiệp liên doanh, 100% vốn đầu tư của nước ngoài và nhiều khu công nghiệp tập trung đang phát triển với tốc độ đô thị hoá nhanh như: Khu chế xuất Sài Đồng ( Gia Lâm ), khu Nam Thăng Long ( Từ Liêm), khu công nghiệp Đông Anh, Sóc Sơn... Đang hoạt động trên tất cả các lĩnh vực, các ngành kinh tế chủ yếu nhất của đất nước. Tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân trên địa bàn Thành phố chiếm tỷ trọng lớn trong nền kinh tế quốc dân và liên tục tăng trưởng với tốc độ cao. Đến nay, trên địa bàn Thành phố Hà Nội đã thu hút hơn 1,5 triệu lao động. Trong đó có 700 ngìn lao động phi nông nghiệp, có trên 500 ngìn lao động làm việc trong các ngành kinh tế hưởng tiền lương, tiền công. Số lao động này ngày một tăng nhanh cùng với quá trình công nghiệp hoá đất nước và tốc độ hoá phát triển cao của kinh tế Thành phố. Đặc biệt là lực lượng lao động trong khu vực kinh tế ngoài quốc doanh ( có sử dụng từ 10 lao động trở lên ). Do vậy, quy mô và cơ cấu lao động xã hội thuộc diện bắt buộc tham gia bảo hiểm xã hội ở Thành phố Hà Nội cũng thay đổi hết sức nhanh chóng, từ chỗ chỉ có 16.736 lao động 1995 trong các doanh nghiệp ngoài quốc doanh tham gia đóng bảo hiểm xã hội thì đến năm 2001 đã là 43.802 lao động . 2.1.2. Tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh Ngay từ những năm 1986 - 1990 khu vực kinh tế ngoài quốc doanh của Thành phố Hà Nội đã phát triển rất đa dạng. Bên cạnh hàng chục ngàn hợp tác xã, tổ sản xuất tiểu thủ công nghiệp, giao thông vận tải, mua bán thương nghiệp... đã hình thành trước năm 1986 thì hàng loạt cơ sở sản xuất kinh doanh nhỏ dạng cá thể, hộ kinh tế gia đình đã ra đời theo các nghị định của chính phủ. Tiếp theo đó là giai đoạn 1990 - 1995 là sự phát triển nhanh chóng của các công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, doanh nghiệp tư nhân đã tạo ra mức tăng trưởng kinh tế cao, bình quân gần 8,5% năm trong khu vực kinh tế ngoài quốc doanh. (Xem bảng 2.1.) Bảng 2.1 Số liệu tổng hợp của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh về một số chỉ tiêu đến năm 2000 Số lượng DN (đơn vị) Số lao động (người) GDP (tỷ đồng) Tốc độ tăng trưởng bình quân (1995 - 2000) (%) Thu nhập bình quân đầu người (đồng) 4025 102245 14.508 8,5 800.000 Nguồn: BHXH TP. Hà Nội năm 2000 Với sự phát triển phong phú, đa dạng và tốc độ phát triển cao như vậy, khu vực kinh tế ngoài quốc doanh hiện đang thu hút một lực lượng lao động rất lớn. Bản thân nó đã trở thành một thị trường lao động rất sôi động, góp phần quan trọng vào chiến lược phát triển kinh tế, giải quyết việc làm tại thành phố Hà Nội. Đặc điểm lớn nhất có ảnh hưởng đến hoạt động bảo hiểm xã hội trong các doanh nghiệp ngoài quốc doanh ở Việt Nam giai đoạn hiện nay là còn nhỏ lẻ, thiếu sự ổn định vững chắc. Tuy vậy, trong khoảng 5 -7 năm trở lại đây, trên cơ sở chính sách của Đảng ngày càng rõ ràng, luật pháp kinh doanh ngày một cụ thể, các doanh nghiệp ngoài quốc doanh ở thành phố Hà Nội đang ổn định dần và có những bước phát triển vững chắc và lâu dài. Ngày một nhiều chủ doanh nghiệp mạnh dạng mở rộng đầu tư, ứng dụng khoa học kỹ thuật mới để sản xuất kinh doanh, mở rộng tiêu thụ trong và ngoài nước một cách hiệu quả. Trên cơ sở đó ổn định dần đội ngũ lao động kỹ thuật lành nghề, ngày càng gắn bó với doanh nghiệp. Từ tháng 1 - 1995 chính sách bảo hiểm xã hội mới chính thức thực hiện cho người lao động trong khu vực kinh tế ngoài quốc doanh. Trên phạm vi cả nước, việc thực hiện ngày càng gặp phải rất nhiều khó khăn, trở ngại. Riêng ở thành phố Hà Nội, nhờ được tổ chức làm thí điểm từ trước (1990-1994 ) nên trong những năm qua đã đạt được một số kết quả đáng khích lệ. Tuy nhiên so với yêu cầu chung, những kết quả ấy vẫn còn hết sức hạn chế. 2.2- Thực trạng quá trình thực hiện Bảo hiểm xã hội đối với người lao động trong doanh nghiệp ngoài quốc doanh ở Hà Nội 2.2.1. Đối tượng thực hiện Căn cứ Điều lệ bảo hiểm xã hội, kể từ tháng 1- 1995 trên phạm vi cả nước, chế độ Bảo hiểm xã hội đã chính thức mở rộng đến tất cả các doanh nghiệp ngoài quốc doanh có sử dụng từ 10 lao động trở lên. Dựa trên nguyên tắc có đóng góp có hưởng thụ. Điều lệ mới đã tạo điều kiện cho việc xoá bỏ chế độ bao cấp, dựa vào ngân sách trước đây, phù hợp với đường lối phát triển kinh tế nhiều thành phần, chính sách tự do hoá lao động và sự chuyển dịch giữa các thành phần kinh tế. Riêng tại thành phố Hà Nội, thời gian làm thí điểm cho lao động ngoài quốc doanh đã chấm dứt để chuyển sang thực hiện chính thức theo Điều lệ bảo hiểm xã hội mới từ tháng 5 - 1995. Theo quy định mới, đối tượng được thực hiện ở khu vực này chỉ bao gồm người lao động làm việc trong các công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, doanh nghiệp tư nhân có sử dụng từ 10 lao động trở lên. 2.2.2. Hoạt động bảo hiểm xã hội trong các doanh nghiệp ngoài quốc doanh ở Hà Nội Thực chất của hoạt động bảo hiểm xã hội trong các doanh nghiệp ngoài quốc doanh là việc cơ quan bảo hiểm xã hội thực hiện các biện pháp nghiệp vụ và các biện pháp hỗ trợ để đảm bảo triển khai có hiệu quả các chế độ chính sách bảo hiểm xã hội trong các doanh nghiệp ngoài quốc doanh. 2.2.2.1. Điều tra nắm bắt đối tượng lao động làm việc trong các doanh nghiệp ngoài quốc doanh thuộc diện tham gia bảo hiểm xã hội ở Hà Nội Để thực hiện công tác này, bảo hiểm xã hội Thành phố đã chỉ đạo bảo hiểm xã hội quận huyện phối hợp với các ngành liên quan như: Lao động - Thương binh xã hội, Kinh tế, Thuế và Uỷ ban Nhân dân các phường, xã để tổ chức điều tra đến từng đầu mối các đơn vị kinh tế ngoài quốc doanh trên địa bàn, để xác định đúng đối tượng bắt buộc tham gia bảo hiểm xã hội. Thường xuyên cập nhật danh sách các doanh nghiệp ngoài quốc doanh mới được cấp phép hoạt động để đưa vào diện đôn đốc thực hiện nắm chắc những doanh nghiệp giải thể do Sở kế hoạch và đầu tư cung cấp, thông báo cho từng quận huyện để bổ xung, điều chỉnh đầu mối quản lý. Thực hiện nguyên tắc có nắm chắc đối tượng mới triển khai thực hiện thu bảo hiểm xã hội được. Trên cơ sở đó, bảo hiểm xã hội Thành phố tổng hợp chung tình hình dự kiến kế hoạch mở rộng đối tượng thực hiện hàng năm, giao chỉ tiêu kế hoạch và những điều kiện cần thiết như: kinh phí hỗ trợ thu, nhân sự, tổ chức bộ máy... để bảo hiểm xã hội các Quận huyện thực hiện nhiệm vụ mở rộng thu bảo hiểm xã hội ra khu vực ngoài quốc doanh. Kết quả của công tác nắm bắt đối tượng lao động trong các doanh nghiệp ngoài quốc doanh ở Hà Nội năm 2000 được thể hiện qua bảng 2.2. Bảng số 2.2 Số lao động trong các doanh nghiệp ngoài quốc doanh năm 2000 Khu vực Tổng số Đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội Đơn vị Lao động Đơn vị Lao động 1. Doanh nghiệp tư nhân 1263 18840 612 10150 2. Công ty TNHH 2650 73420 978 42370 3. Công ty cổ phần 112 9985 81 7455 Tổng: 4025 102245 1671 59975 Nguồn: Bảo hiểm xã hội Việt Nam Qua những số liệu trên đây cho ta thấy. Mặc dù số lao động làm việc trong các doanh nghiệp ngoài quốc doanh có trên 102245 người nhưng trên thực tế chỉ có khoảng 59975 thuộc diện tham gia bảo hiểm xã hội theo điều lệ. Điều này cho ta thấy một số lượng lớn doanh nghiệp còn quá nhỏ bé, hoạt động thiếu ổn định không đủ điều kiện để được tham gia bảo hiểm xã hội. Điều này cũng có nghĩa là rất nhiều người lao động và người ăn theo của họ bị loại ra khỏi sự bảo vệ của bảo hiểm xã hội. 2.2.2.2. Tổ chức đăng ký tham gia bảo hiểm xã hội Có hai việc đặt ra khi doanh nghiệp ngoài quốc doanh đăng ký tham gia bảo hiểm xã hội ban đầu là: Một là: Xác định số lao động thuộc diện tham gia bảo hiểm của doanh nghiệp. Thông thường các doanh nghiệp ngoài quốc doanh phải đăng ký số lao động tại phòng Lao động -Thương binh và Xã hội theo đúng nhu cầu sử dụng. Nhưng khi thấy rằng danh sách đăng ký này trở thành căn cứ thực hiện bảo hiểm xã hội. Các doanh nghiệp ngoài quốc doanh đã có xu hướng khai giảm đi, hoặc khai sử dụng chủ yếu là lao động tạm thời, thời vụ, học việc... để giảm bớt số lao động thuộc diện bắt buộc tham gia bảo hiểm xã hội. Để khắc phục tình trạng này, bảo hiểm Quận huyện phải thông qua Uỷ ban Nhân dân phường xã hoặc tăng cường phối hợp các ngành kiểm tra tình hình đăng ký và sử dụng lao động tại doanh nghiệp. Tuy nhiên việc phân biệt rõ ràng từng loại lao động mà doanh nghiệp đang sử dụng, trong khi cơ quan bảo hiểm xã hội không có thẩm quyền kiểm tra, là hoàn toàn không dễ ràng. Hai là: Mức lương làm căn cứ trích nộp bảo hiểm xã hội. Theo quy định, mức lương làm căn cứ trích nộp bảo hiểm xã hội đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh là mức lương hợp đồng. Mức lương này phản ánh phần thu nhập cơ bản nhất của người lao động tham gia bảo hiểm xã hội. Tuy nhiên, các doanh nghiệp ngoài quốc doanh thường tìm mọi cách khai giảm mức lương này, như trong hợp đồng lao động và danh sách đăng ký sử dụng lao động được cơ quan Lao động- Thương binh và xã hội phê duyệt. Doanh nghiệp kê khai hai loại lương: Một là tổng thu nhập để tính thuế và hai là lương cơ bản ( thường vận dụng theo bảng lương thấp nhất của nhà nước) để đăng ký thực hiện bảo hiểm xã hội cho người lao động. Kết quả tổ chức đăng ký tham gia bảo hiểm xã hội đối với các lao động thuộc doanh nghiệp ngoài quốc doanh ở Hà Nội trong giai đoạn 1996 - 2001 được mô tả trên bảng 2.3. Bảng số 2.3 Số lao động trong các doanh nghiệp ngoài quốc doanh tham gia bảo hiểm xã hội của Hà Nội từ năm 1996- 2001 Năm Số lao động tham gia BHXH Tăng (%) 1996 16736 1997 19703 18 1998 22803 16 1999 26830 18 2000 36392 36 2001 43802 20 Nguồn: Bảo hiểm xã hội Hà Nội. Theo bảng 2 ta thấy: Số lao động tham gia bảo hiểm xã hội qua các năm đều có chiều hướng gia tăng, năm sau cao hơn năm trước, cụ thể: Số lao động tham gia bảo hiểm xã hội năm 1996 là 16736 người thì năm 1997 số lao động là19703 người tăng18%. Năm 1999 là 26830 người tăng 4027 người so với năm 1998 tăng 18%. Nếu ta so sánh số tham gia bảo hiểm xã hội năm 1996 với năm 2001 thì có thể thấy được số lượng lớn người tham gia bảo hiểm xã hội trong vòng 5 năm qua. Cụ thể: Năm 1996 số lượng tham gia bảo hiểm xã hội mới chỉ là16736 người thì đến năm 2001 là 43802 người tăng 162%. 2.2.2.3. Tổ chức công tác thu bảo hiểm xã hội trong các doanh nghiệp ngoài quốc doanh của Thành phố: Công tác thu bảo hiểm xã hội trong các doanh nghiệp ngoài quốc doanh gặp rất nhiều khó khăn, vì chủ các doanh nghiệp cố tình quên hoặc trì hoãn việc nộp bảo hiểm xã hội. Do vậy, bảo hiểm xã hội Thành phố thường xuyên phải thực hiện nhắc nộp trực tiếp. Hàng tháng lãnh đạo của bảo hiểm xã hội Quận huyện cùng cán bộ thu bảo hiểm xã hội trực tiếp đến đơn vị đôn đốc nhắc nộp. Ngoài ra công tác thu bảo hiểm xã hội của Hà Nội có những đặc thù riêng như: + Lao động làm trong đơn vị nhà nước chuyển sang làm tư nhân có nhu cầu đòi hỏi được đóng bảo hiểm xã hội để được tính thời gian làm việc trong khu vực nhà nước trước đây. + Có những người chủ lại là cán bộ hưu trí, thậm chí có trường hợp người chủ chỉ đứng trên danh nghĩa hợp pháp, chủ thực tế của doanh nghiệp lại là công nhân viên chức. + Về lao động trong các doanh nghiệp tư nhân cũng rất nhiều loại: Lao động là người Hà Nội, lao động là người ngoại tỉnh, một lao động làm ở nhiều doanh nghiệp, lao động đã nghỉ hưu... Tuy nhiên, với sự nỗ lực của các cán bộ trong ngành bảo hiểm xã hội Hà Nội. Công tác thu bảo hiểm xã hội của thành phố trong những năm qua đã đạt được những kết quả đáng khích lệ. Kết quả thu bảo hiểm xã hội trong các doanh nghiệp ngoài quốc doanh 1996-2001 được thể hiện qua bảng số 2.4 Bảng số 2.4 Số thu bảo hiểm xã hội trong các doanh nghiệp ngoài quốc doanh ở Hà Nội Đơn vị: Tỷ đồng Năm Số thu Tăng (%) 1996 47 1997 70 49 1998 98 40 1999 122 24 2000 135 10 2001 237 75 Nguồn: BHXH Hà Nội. Qua bảng 2.4 ta thấy cùng với số lượng lao động bảo hiểm xã hội. Số thu bảo hiểm xã hội ở khu vực này qua các năm cũng tăng lên. Cụ thể: Số tiền thu được năm 1996 là 47 tỷ đồng; năm 1997 là 70 tỷ đồng tăng 49% so với năm 1996. Năm 1998 số thu đạt 98 tỷ đồng tăng 40% so với năm 1997. Năm 2000 số thu là 135 tỷ tăng 10% so với năm 1999 là 122 tỷ. Đặc biệt số thu năm 2001 là 237 tỷ tăng 76% so với năm 2000 và tăng gấp hơn 5 lần số thu của năm 1996, chiếm 33% tổng số thu của 6 năm qua. Điều này cho ta thấy số thu bảo hiểm xã hội của những năm tới sẽ là rất lớn và chiếm một tỷ trọng cao trong tổng số thu bảo hiểm xã hội của toàn Thành phố Hà Nội. * Đánh giá tình hình thu bảo hiểm xã hội khu vực ngoài quốc doanh ở Hà Nội: Qua số liệu phân tích và đánh giá chung về công tác thu bảo hiểm xã hội khu vực ngoài quốc doanh, đã có nhiều chuyển biến rõ rệt cả về chất và lượng. Công tác thu bảo hiểm xã hội ngày càng được nâng cao, số đơn vị tham gia ngày càng tăng. Chủ sử dụng lao động và người lao động đã ý thức phần nào trách nhiệm và quyền lợi trong việc tham gia bảo hiểm xã hội, công tác phối hợp với các Ban ngành liên quan luôn được duy trì, công tác tuyên truyền về bảo hiểm xã hội được đẩy mạnh. Đạt được kết quả trên cho chúng ta thấy nội dung bảo hiểm xã hội được quy định trong Bộ luật Lao động đã từng bước đi vào cuộc sống. Các chủ doanh nghiệp ngày càng quán triệt tính cưỡng chế của pháp luật trong việc đóng bảo hiểm xã hội 15% so với quỹ lương thực tế là phần trả chậm. Nếu chủ sử dụng lao động không thực hiện đóng bảo hiểm xã hội, cũng phải trả trực tiếp cùng với tiền lương cho người lao động mà lại vi phạm luật Lao động, không được cơ quan Lao động và Công đoàn đứng ra bảo vệ khi có sự tranh chấp giữa chủ và thợ. Cơ quan bảo hiểm xã hội không chịu trách nhiệm thực hiện quyền lợi cho người lao động trong các trường hợp ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hưu trí và tử tuất. Mặt khác còn cho thấy, nhận thức của người lao động về bảo hiểm xã hội. Thấy được ý nghĩa của 5% tiền lương tham gia đóng bảo hiểm xã hội là phần lương đóng góp dự phòng để được hưởng cao hơn, do doanh nghiệp đóng góp và được Nhà nước hỗ trợ, là lợi ích của những thân nhân và của cả cộng đồng. Tuy nhiên, trên thực tế tình trạng vi phạm chế độ bảo hiểm xã hội ở các doanh nghiệp ngoài quốc doanh vẫn còn diễn ra khá phổ biến. ở nhiều doanh nghiệp, mức độ vi phạm là khá nghiêm trọng. Tình trạng né tránh nghĩa vụ nộp bảo hiểm xã hội cho người lao động ở các doanh nghiệp này diễn ra khá phổ biến, dưới nhiều hình thức như: sử dụng lao động nhưng không ký hợp đồng, đặc biệt các lao động ngoại tỉnh, ký hợp đồng lao động ngắn hạn, thời vụ là chủ yếu, khai giảm số lao động và mức lương để giảm mức đóng bảo hiểm xã hội, hoặc tự ý vận dụng thang bảng lương Nhà nước để đóng bảo hiểm xã hội với mức tối thiểu. Đóng hình thức, chiếu lệ một vài kỳ, sau đó đưa ra các lý do để xin miễm giảm, hoặc dây dưa không nộp. Cụ thể, cuối năm 2001 vẫn còn 207 đơn vị chưa đóng bảo hiểm xã hội với số tiền nợ là 22,223 tỷ đồng chiếm 10,8% tổng số thu bảo hiểm xã hội ở khu vực ngoài quốc doanh năm 2001. Vì vậy, cho đến cuối năm 2000 mặc dù là 1 trong 3 đơn vị dẫn đầu về số lao động ngoài quốc doanh tham gia bảo hiểm xã hội. Thành phố Hà Nội vẫn còn khoảng 23583 ngìn lao động thuộc diện bắt buộc chưa được đóng bảo hiểm xã hội, chưa kể trên thực tế có những doanh nghiệp sử dụng hàng trăm lao động mà chưa có cơ quan nào kiểm tra được. Để xẩy ra tình trạng này có nhiều nguyên nhân như sau: a- Nguyên nhân khách quan: - Các doanh nghiệp ngoài quốc doanh còn nhỏ bé, thiếu ổn định, hay di chuyển. Nhiều trường hợp có tên trong danh sách điều tra, nhưng khi tiến hành thu nộp bảo hiểm xã hội thì đã chuyển sang chuyển địa bàn khác hoặc không thể xác định được địa điểm cụ thể, thậm chí ngay cả cơ quan quản lý Nhà nước ở địa phương cũng không xác định được. - Các doanh nghiệp làm ăn thua lỗ, sản phẩm làm ra không tiêu thụ được, doanh nghiệp phải đóng cửa, ngừng sản xuất. Người lao động nghỉ không lương kéo dài nên không tham gia được bảo hiểm xã hội. - Việc lập danh sách nộp bảo hiểm xã hội cũng là một vấn đề khó khăn. Doanh nghiệp ngoài quốc doanh thường hạn chế tối đa sử dụng lao động gián tiếp nên khó chấp nhận các thủ tục rườm rà như: Lập kế hoạch nộp bảo hiểm xã hội hàng năm, danh sách nộp bảo hiểm xã hội hàng tháng, quý... Tình hình sử dụng lao động trong các doanh nghiệp lại thường xuyên biến động nên rất dễ sai sót . - Thực tế thu bảo hiểm xã hội ở doanh nghiệp ngoài quốc doanh cũng cho thấy chi phí thu bảo hiểm xã hội ở các doanh nghiệp ngoài quốc doanh cao hơn từ 5 đến 10 lần so với chi phí thu ở các khu vực khác. Do vậy, việc chưa giao thành chỉ tiêu pháp lệnh, chi phí thu thấp, lại tính phân bổ đều nên chưa thúc đẩy, chưa tạo điều kiện thuận lợi cho các đơn vị cơ sở hoàn thành các nhiệm vụ về công tác thu bảo hiểm xã hội khu vực ngoài quốc doanh. b- Nguyên nhân chủ quan: - Trong nền kinh tế thị trường các doanh nghiệp đều tìm mọi cách để tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượng, hạ giá thành sản phẩm vì chỉ có như vậy mới có khả năng thu lợi nhuận cao hơn. Một trong những chi phí làm tăng thêm giá thành sản phẩm đó là các khoản đóng góp của doanh nghiệp, trong đó có đóng góp về bảo hiểm xã hội. Bởi vậy các doanh nghiệp thường tìm mọi cách trốn nộp bảo hiểm xã hội. - Không ít người lao động ở các doanh nghiệp ngoài quốc doanh nhận thức chưa đúng hoặc chưa đầy đủ về quyền lợi của mình khi tham gia đóng bảo hiểm xã hội. Nhiều trường hợp do tâm lý sợ mất việc làm nên không dám đòi hỏi chủ sử dụng lao động về quyền bảo hiểm xã hội. Đặc biệt có một bộ phận người lao động chưa tin hay vẫn còn nặng nề về nếp sống, thói quen bao cấp, muốn được hưởng chế độ bảo hiểm xã hội, nhưng không muốn đóng bảo hiểm xã hội dù số tiền hàng tháng không lớn. - Các doanh nghiệp ngoài quốc doanh hầu hết không có tổ chức Công đoàn làm nòng cốt, chỗ dựa cho người lao động, hưỡng dẫn dúp đỡ người lao động ký kết đăng ký bảo hiểm xã hội khi mới vào làm việc. - Khả năng quản lý đôn đốc thu nộp bảo hiểm xã hội đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh của hệ thống bảo hiểm xã hội còn hạn chế. Việc đầu tư, tập trung cho công tác về cán bộ, cơ sở vật chất, điều kiện trang kỹ thuật, phương tiện còn ít, cơ chế tài chính khuyến khích cho việc triển khai công tác này chưa phù hợp, chưa đáp ứng được yêu cầu tăng nhanh đối tượng tham gia. - Các cơ quan quản lý nhà nước, đoàn thể, quần chúng, cơ quan bảo vệ pháp luật, chưa sẵn sàng và tích cực phối hợp cùng cơ quan bảo hiểm xã hội vận động người lao động tham gia bảo hiểm xã hội, hay thực hiện những biện pháp cưỡng chế các chủ sử dụng lao động đóng bảo hiểm xã hội cho người lao động theo Điều lệ bảo hiểm xã hội. - Việc giải quyết chế độ bảo hiểm xã hội cho người lao động cũng như việc hướng dẫn giải đáp những thắc mắc của người lao động ở doanh nghiệp ngoài quốc doanh. Nhất là việc tính thời gian công tác có tham gia bảo hiểm xã hội còn chậm, không cụ thể, thủ tục rườm rà... dẫn đến người lao động hoài nghi về chế độ bảo hiểm xã hội, thậm chí có tư tưởng cho rằng “Nộp bảo hiểm xã hội thì dễ, hưởng chế độ bảo hiểm xã hội của Nhà nước thì khó” do đó ảnh hưởng đến kết quả thu bảo hiểm xã hội ở khu vực này. * Về cơ chế quản lý Nhà nước. - Hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước chưa được đầy đủ, kịp thời. Tính bao quát, cụ thể hoá đối với các chế định pháp luật về hợp đồng lao động, tiền lương, sử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động còn có khi chưa sát và phù hợp với thực tế. Sự đồng bộ giữa phương thức phân loại doanh nghiệp, người lao động, chủ sử dụng lao động trong các văn bản hướng dẫn của các cơ quan quản lý Nhà nước còn có hạn chế... - Hành lang pháp lý và những chế tài pháp luật Nhà nước cho việc thu nộp bảo hiểm xã hội với đối tượng bảo hiểm xã hội bắt buộc chưa cụ thể và chưa đủ mạnh để buộc các chủ sử dụng lao động ở các doanh nghiệp ngoài quốc doanh tham gia bảo hiểm xã hội cho người lao động. - Thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội cho các đối tượng bảo hiểm xã hội ( theo quy định và Điều lệ bảo hiểm xã hội ) trong đó có người lao động ở các doanh nghiệp ngoài quốc doanh thuộc diện thu bảo hiểm xã hội bắt buộc. Nhưng đến nay, chỉ tiêu thu bảo hiểm xã hội ở doanh nghiệp ngoài quốc doanh vẫn chưa được giao thành chỉ tiêu kế hoạch pháp lệnh. - Quy định đối tượng thực hiện bảo hiểm xã hội phải là doanh nghiệp ngoài quốc doanh có từ 10 lao động trở lên đã làm cho việc xác định đối tượng trở nên phức tạp và không rõ ràng. Nhất là trong trường hợp doanh nghiệp sử dụng trên 10 người, lúc thì sử dụng 8-9 người. - Cơ quan bảo hiểm xã hội là người chịu trách thu bảo hiểm xã hội lại không có thẩm quyền trực tiếp kiểm tra doanh nghiệp mà bắt buộc phải thông qua sự phối hợp các ban ngành liên quan và Uỷ ban Nhân dân các cấp ở địa phương làm cho công tác điều tra nắm tình hình chậm đi rất nhiều. - Kết quả về công tác thu bảo hiểm xã hội ở các doanh nghiệp ngoài quốc doanh chưa được xem là một trong những chỉ tiêu chính trong công tác thi đua, khen thưởng của hệ thống bảo hiểm xã hội nên chưa có tác dụng khuyến khích, động viên những đơn vị làm tốt công tác thu bảo hiểm xã hội ở doanh nghiệp ngoài quốc doanh. Thu bảo hiểm xã hội ở doanh nghiệp ngoài quốc doanh là công việc khó nhưng không thể không làm. Cùng với việc đề nghị nhà nước, các cơ quan hữu quan phối hợp từng bước khắc phục những khó khăn khách quan, bản thân bảo hiểm xã hội Thành phố cần tháo gỡ những vướng mắc chủ quan thì công tác thu bảo hiểm xã hội ở các doanh nghiệp ngoài quốc doanh sẽ đạt kết quả tốt. 2.2.2.4. Công tác giải quyết chế độ chính sách bảo hiểm xã hội cho người lao động trong các doanh nghiệp ngoài quốc doanh Công tác giải quyết chế độ, chính sách cho người lao động trong các doanh nghiệp ngoài quốc doanh thời gian qua của Thành phố Hà Nội được thực hiện theo các bước sau: Bước 1: Doanh nghiệp tập hợp chứng từ, lập danh sách chi trả, chuyển đến cơ quan bảo hiểm xã hội duyệt. Bước 2: Cơ quan bảo hiểm xã hội Quận huyện tiếp nhận, thẩm định và: + Duyệt thanh toán đối với các chế độ ngắn hạn, cấp tiền để uỷ nhiệm doanh nghiệp chi trả cho người lao động, sau đó quyết toán với bảo hiểm xã hội Thành phố + Chuyển tiếp hồ sơ giải quyết các chế độ dài hạn về bảo hiểm xã hội Thành phố để thẩm định và ra quyết định chi trả Bước 3: Chuyển hồ sơ chế độ dài hạn về bảo hiểm xã hội Việt Nam thẩm định trước khi chi trả. Bước 4: Người lao động nhận trợ cấp ngắn hạn tại doanh nghiệp; trợ cấp một lần tại cơ quan bảo hiểm xã hội; trợ cấp hưu trí, tử tuất hàng tháng ở Uỷ ban nhân dân phường xã. Do tuân thủ chặt chẽ quy trình trên nên công tác giải quyết chế độ chính sách bảo hiểm xã hội cho người lao động ngoài quốc doanh trong những năm qua có tác động tích cực đối với quá trình nhận thức của các doanh nghiệp và người lao động, giúp cho người lao động ngày càng gắn bó với cơ quan bảo hiểm xã hội, số người tham gia ngày càng tăng. Tình hình chi trả bảo hiểm xã hội cho người lao động trong các doanh nghiệp ngoài quốc doanh ở Hà Nội được thể hiện qua bảng 2.5 Bảng số 2.5 Chi trả bảo hiểm xã hội trong các doanh nghiệp ngoài quốc doanh ở Hà Nội (1996-1999) Chế độ BHXH Năm 1996 Năm 1997 Năm 1998 Năm 1999 1- ốm đau: + Số người + Số tiền (tỷ đồng) 1669 0,92 2074 0,154 2305 0,259 3332 0,356 2- Thai sản + Số người + Số tiền(tỷ đồng) 464 0,97 551 1,070 928 1,705 1120 2,206 3- Trợ cấp 1 lần + Số người + Số tiền (tỷ đồng) 686 0,984 1412 1,842 2166 2,980 3050 3,990 Cộng: + Số người + Số tiền(tỷ

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • doc28635.doc
Tài liệu liên quan