Chuyên đề Hoàn thiện hoạch toán lao động và tiền lương tại công ty thiết kế công nghiệp hoá chất

Tính lương và trợ cấp bảo hiểm xã hội trong doanh nghiệp được tiến hành hàng tháng trên cơ sở các chứng từ hạch toán lao động và các chính sách chế độ về lao động, trên lương, bảo hiểm xã hội mà Nhà nước đã ban hành và các chế độ khác thuộc quy định của doanh nghiệp trong khuôn khổ pháp luật cho phép.

Công việc tính lương và trợ cấp bảo hiểm xã hội có thể được giao cho nhân viên hạch toán ở các phân xưởng tiến hành, phòng kế toán phải kiểm tra lại trước khi thanh toán. Hoặc cũng có thể tập trung thực hiện tại phòng kế toán toàn bộ công việc tính lương và trợ cấp bảo hiểm xã hội cho toàn doanh nghiệp.

 

doc57 trang | Chia sẻ: maiphuongdc | Ngày: 02/11/2013 | Lượt xem: 1376 | Lượt tải: 5download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Chuyên đề Hoàn thiện hoạch toán lao động và tiền lương tại công ty thiết kế công nghiệp hoá chất, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ngày làm việc trong tháng. áp dụng trả lương cho nhân viên trong thời gian học tập, hội họp hoặc làm nhiệm vụ khác, người lao động hợp đồng ngắn hạn. fng = Fthg Số ngày làm việc trong tháng theo quy định ỉ Tiền lương giờ: là tiền lương trả cho một giờ làm việc. áp dụng để tính đơn giá tiền lương trả theo sản phẩm. với: fg = fng Số giờ làm việc trong ngày Hình thức trả lương này ít được áp dụng trong các doanh nghiệp sản xuất sản phẩm vì nó không khuyến khích người lao động sử dụng lao động hợp lý, ít chú trọng tiết kiệm nguyên vật liệu, năng lượng, nâng cao năng suất máy móc, tăng năng suất lao động. àTrả lương theo thời gian có thưởng: Theo hình thức này, kết hợp trả lương theo thời gian giản đơn với chế độ tiền thưởng trong sản xuất kinh doanh. Mức lương theo thời gian có thưởng = Mức lương theo thời gian + Tiền thưởng Để khắc phục nhược điểm của hình thức trả lương theo thời gian giản đơn, hình thức trả lương theo thời gian có thưởng được áp dụng. Nghĩa là lương của người lao động ngoài tiền lương theo thời gian còn được cộng thêm một khoản tiền khác. Tuy nhiên, để thực hiện tốt hình thức trả lương này cần quy định rõ ràng những chỉ tiêu về số lượng, chất lượng và kỷ luật lao động. Hình thức trả lương này không những phản ánh trình độ thành thạo và thời gian làm việc thực tế mà còn gắn với thành tích của từng công nhân viên thông qua chỉ tiêu xét thưởng mà họ đã đạt được. ưu, nhược điểm: +ưu điểm: Dễ làm, dễ tính toán. +Nhược điểm: Chưa đảm bảo nguyên tắc phân phối theo lao động vì chưa tính đến một cách đầy đủ chất lượng lao động, chưa phát huy hết khả năng sẵn có của người lao động, chưa khuyến khích người lao động quan tâm đến kết quả lao động. ĩHình thức trả lương theo sản phẩm: Theo hình thức này, tiền lương tính trả cho người lao động căn cứ vào kết quả lao động, số lượng và chất lượng sản phẩm, công việc lao vụ đã hoàn thành và đơn giá tiền lương cho một đơn vị sản phẩm, công việc và lao vụ đó. Tuỳ theo mối quan hệ giữa người lao động và kết quả lao động, tuỳ theo yêu cầu quản lý về nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng nhanh sản phẩm và chất lượng sản phẩm mà doanh nghiệp có thể thực hiện theo các hình thức tiền lương sản phẩm sau: àTiền lương theo sản phẩm trực tiếp không hạn chế: Tiền lương được lĩnh: F=Q*fQ Trong đó: Q: là số lượng sản phẩm lao vụ, công việc hoàn thành fQ: là đơn giá tiền lương sản phẩm đã quy định Tiền lương được lĩnh tính theo số lượng sản phẩm không hạn chế, được áp dụng cho công nhân trực tiếp sản xuất. àTiền lương theo sản phẩm gián tiếp: Căn cứ vào kết quả lao động của công nhân trực tiếp sản xuất và người phụ việc đã phục vụ để tính trả lương sản phẩm gián tiếp. Trường hợp này được áp dụng trả lương cho công nhân phụ việc. àTiền lương theo sản phẩm có thưởng: Đây là hình thức tiền lương theo sản phẩm trực tiếp hoặc gián tiếp kết hợp với chế độ tiền thưởng trong sản xuất: Thưởng nâng cao chất lượng sản phẩm, thưởng tăng năng suất lao động, thưởng tiết kiệm vật tư..... àTiền lương theo sản phẩm luỹ tiến: Theo hình thức này ngoài Tiền lương tính theo sản phẩm trực tiếp còn tuỳ theo mức độ vượt định mức sản xuất sản phẩm để tính thêm một khoản tiền lương theo tỷ lệ luỹ tiến. Trường hợp này áp dụng khi cần đẩy mạnh tiến độ thi công hoặc thực hiện công việc có tính chất đột xuất. àTiền lương khoán theo khối lượng công việc: Căn cứ vào khối lượng sản phẩm, công việc hoàn thành đến giai đoạn cuối cùng và đơn giá tiền lương áp dụng cho những công việc cần phải hoàn thành trong một thời gian nhất định, nhằm khuyến khích lao động, cải tiến kỹ thuật, tăng năng suất lao động. Ưu, nhược điểm: + Ưu điểm: Đảm bảo thực hiện nguyên tắc phân phối theo lao động, gắn chặt chất lượng với số lượng lao động, động viên người lao động sáng tạo, hăng say lao động. + Nhược điểm: Tính toán phức tạp phải xác định mức lao động cụ thể cho từng công việc, từng cấp bậc thợ vừa có căn cứ kỹ thuật, vừa phù hợp với điều kiện lao động cụ thể của doanh nghiệp. Để thưc hiện tốt hình thức trả lương theo sản phẩm cần có những điều kiện sau: Xác định được các định mức có căn cứ khoa học, tạo điều kiện tính đơn giá trả lương chính xác. Tổ chức tốt nơi làm việc, cung cấp đầy đủ và kịp thời vật tư, năng lượng, loại trừ tối đa các yếu tố khách quan làm ảnh hưởng đến năng suất lao động. Tổ chức tốt công tác thống kê, nghiệm thu sản phẩm. Làm tốt công tác giáo dục, vận động và thuyết phục người lao động, để họ tự giác đảm bảo chất lượng sản phẩm mình làm ra không chạy theo số lượng. Nội dung quỹ lương: Quỹ tiền lương là toàn bộ số tiền lương tính theo số công nhân viên của doanh nghiệp do doanh nghiệp trực tiếp quản lý và chi trả lương, bao gồm các khoản sau: àTiền lương tính theo thời gian àTiền lương tính theo sản phẩm àTiền lương công nhật, lương khoán àTiền lương trả cho người lao động trong thời gian ngừng sản xuất do nguyên nhân khách quan àTiền lương trả cho người lao động trong thời gian điều động công tác đi làm nghĩa vụ trong phạm vi chế độ quy định àTiền lương trả cho người lao động chế tạo ra sản phẩm hỏng trong phạm vi chế độ quy định àTiền lương trả cho người lao động khi đã nghỉ phép, đi học theo chế độ quy định àTiền trả nhuận bút, bài giảng àTiền thưởng có tính chất thường xuyên àPhụ cấp làm đêm, thêm giờ, thêm ca. àPhụ cấp dạy nghề àPhụ cấp công tác lưu động àPhụ cấp khu vực, thâm niên ngành nghề àPhụ cấp trách nhiệm àPhụ cấp cho những người làm công tác khoa học kỹ thuật có tài năng àPhụ cấp học nghề, tập sự àTrợ cấp thôi việc àTiền ăn giữa ca của người lao động Ngoài ra, trong quỹ tiền lương còn gồm cả khoản tiền chi trợ cấp bảo hiểm xã hội cho công nhân viên trong thời gian ốm đau, thai sản, tai nạn lao động (bảo hiểm xã hội trả thay lương). Quỹ tiền lương trong doanh nghiệp cần được quản lý và kiểm tra một cách chặt chẽ đảm bảo việc sử dụng quỹ tiền lương một cách hợp lý và có hiệu quả. Quỹ tiền lương thực tế phải được thường xuyên đối chiếu với quỹ lương kế hoạch trong mối quan hệ với việc thực hiện kế hoạch sản xuất của doanh nghiệp trong kỳ đó nhằm phát hiện kịp thời các khoản tiền lương không hợp lý, kịp thời đề ra các biện pháp nhằm nâng cao năng suất lao động, đảm bảo thực hiện nguyên tắc phân phối theo lao động, thực hiện nguyên tắc mức tăng năng suất lao động – bình quân nhanh hơn mức tăng tiền lương bình quân góp phần hạ thấp chi phí trong sản xuất, hạ giá thành sản phẩm, tăng tích luỹ xã hội. Các khoản trích theo lương: Quỹ bảo hiểm xã hội: Theo quy định hiện hành, quỹ bảo hiểm xã hội được hình thành bằng cách trích theo tỷ lệ 20% trên tổng số quỹ lương cấp bậc và các khoản phụ cấp thường xuyên (chức vụ, khu vực, đắt đỏ, thâm niên) của công nhân viên chức thực tế phát sinh trong tháng. Theo chế độ hiện hành, tỷ lệ trích bảo hiểm xã hội là 20%, trong đó: 15% do đơn vị hoặc chủ sử dụng lao động nộp, được tính vào chi phí kinh doanh 5% còn lại do người lao động đóng góp và được trừ vào lương tháng (thu nhập của người lao động) Quỹ bảo hiểm xã hội được chi tiêu cho các trường hợp người lao động ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hưu trí, tử tuất. Quỹ này do cơ quan bảo hiểm xã hội quản lý, dùng để bồi thường (trợ cấp) cho người lao động có tham gia đóng góp quỹ trong trường hợp họ bị mất khả năng lao động. Những khoản bồi thường (trợ cấp) thực tế cho người lao động tại doanh nghiệp được tính toán trên cơ sở mức lương hàng ngày của họ và thời gian nghỉ (có chứng từ hợp lệ) và tỷ lệ trợ cấp bảo hiểm xã hội. Tiền bảo hiểm xã hội trích được trong kỳ sau khi trừ đi các khoản đã trợ cấp cho người lao động tại doanh nghiệp (được cơ quan bảo hiểm xã hội ký duyệt) phần còn lại nộp vào cơ quan bảo hiểm xã hội tâp trung. Quỹ bảo hiểm y tế: Quỹ bảo hiểm y tế được sử dụng để đài thọ cho người lao động tham gia đóng góp các khoản tiền khám chữa bệnh, viện phí, thuốc thang.... cho người lao động trong thời gian ốm đau, sinh đẻ. Quỹ này được hình thành bằng cách trích theo tỷ lệ quy định trên tổng số thu nhập tạm tính của công nhân viên chức thực tế phát sinh trong tháng. Tỷ lệ trích bảo hiểm y tế hiện hành là 3% trên số thu nhập tạm tính, trong đó: 2% tính vào chi phí kinh doanh, người sử dụng lao động phải chịu 1t% trừ vào thu nhập của người lao động Quỹ bảo hiểm y tế do cơ quan bảo hiểm y tế thống nhất quản lý và trợ cấp cho người lao động qua mạng lưới y tế. Vì vậy, khi tính được mức trích bảo hiểm xã hội, các doanh nghiệp phải nộp toàn bộ cho cơ quan bảo hiểm y tế. Kinh phí công đoàn: Ngoài ra, để có nguồn chi phí cho hoạt động công đoàn hàng tháng, doanh nghiệp còn phải trích theo một tỷ lệ quy định với tổng số quỹ tiền lương, tiền công và phụ cấp (phụ cấp chức vụ, phụ cấp trách nhiệm, phụ cấp khu vực, phụ cấp thu hút, phụ cấp đắt đỏ, phụ cấp đặc biệt, phụ cấp độc hại...) thực tế phải trả cho người lao động – kể cả lao động hợp đồng tính vào chi phí kinh doanh để hình thành kinh phí công đoàn. Tỷ lệ kinh phí công đoàn theo chế độ hiện hành là 2% trên tổng tiền lương phải trả cho người lao động và người sử dụng lao động phải chịu tính vào chi phí sản xuất kinh doanh. Thông thường khi xác định được mức trích kinh phí công đoàn trong kỳ thì 1% phải nộp cho công đoàn cấp trên, 1% được sử dụng để chi tiêu cho hoạt động công đoàn tại doanh nghiệp. Hạch toán chi tiết lao động, tiền lương và các khoản trích theo lương: Hạch toán lao động, tiền lương: Hạch toán lao động bao gồm việc hạch toán tình hình sử dụng số lượng lao động và thời gian lao động, hạch toán kết quả lao động. Tổ chức tốt công tác hạch toán lao động giúp cho doanh nghiệp có những tài liệu đúng đắn, chính xác để kiểm tra việc chấp hành kỷ luật lao động, tình hình năng suất lao động, tình hình hiệu suất công tác. Hạch toán lao động sẽ cung cấp cho doanh nghiệp có tài liệu đúng đắn để tính lương, trợ cấp, bảo hiểm xã hội cho công nhân viên đúng chính sách chế độ Nhà nước đã ban hành cũng như những quy định của doanh nghiệp đã đề ra. Hạch toán tình hình sử dụng số lượng lao động và thời gian lao động: Hạch toán tình hình sử dụng số lượng lao động: Số lượng lao động trong doanh nghiệp thường có sự biến động tăng giảm trong từng đơn vị, bộ phận cũng như trong toàn doanh nghiệp. Sự biến động trong doanh nghiệp có ảnh hưởng đến cơ cấu lao động, chất lượng lao động và do đó làm ảnh hưởng đến việc thực hiện nguồn vốn sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Để phản ánh số lượng lao động hiện có và theo dõi sự biến động lao động trong từng đơn vị, bộ phận doanh nghiệp sử dụng “Sổ danh sách lao động”. Sổ sau khi lập xong phải được đăng ký với cơ quan quản lý (phòng lao động cấp huyện) và được lập thành hai bản: một bản do phòng tổ chức hành chính của doanh nghiệp quản lý và ghi chép; một bản giao cho phòng kế toán quản lý và ghi chép. Cơ sở số liệu để ghi vào “Sổ danh sách lao động” là các chứng từ tuyển dụng, các quyết định thuyên chuyển công tác, cho thôi việc, hưu trí.... Việc ghi chép vào “Sổ danh sách lao động” phải đầy đủ kịp thời làm cơ sở cho việc lập báo cáo về lao động và phân tích tình hình biến động về lao động trong doanh nghiệp hàng tháng, quý, năm theo yêu cầu quản lý lao động của doanh nghiệp và của cơ quan quản lý cấp trên. Hạch toán tình hình sử dụng thời gian lao động: Thời gian lao động của công nhân viên cũng có ý nghĩa quan trọng trong việc thực hiện nhiệm vụ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Để phản ánh kịp thời, chính xác tình hình sử dụng thời gian lao động, kiểm tra việc chấp hành kỷ luật lao động của công nhân viên trong doanh nghiệp, kế toán sử dụng bảng chấm công (Mẫu số 01-LĐTL ban hành theo QĐ số 1141/TC/QĐ/CĐKT ngày 01/11/1995 của Bộ tài chính). Bảng chấm công được lập hàng tháng cho từng tổ, ban, phòng, nhóm.... và do người phụ trách bộ phận hoặc người được uỷ quyền căn cứ vào tình hình thực tế của bộ phận mình để chấm công cho từng người trong ngày theo các ký hiệu quy định trong chứng từ. Cuối tháng, người chấm công và phụ trách bộ phận ký vào bảng chấm công và chuyển bảng chấm công cùng các chứng từ liên quan (phiếu nghỉ hưởng bảo hiểm xã hội....) về bộ phận kế toán kiểm tra, đối chiếu quy ra công để tính lương và bảo hiểm xã hội. Bảng chấm công nhằm theo dõi ngày công thực tế làm việc, ngừng việc, nghỉ bảo hiểm xã hội .... để có căn cứ tính trả lương, bảo hiểm xã hội trả thay lương cho từng người và quản lý lao động trong đơn vị. Vì vậy, bảng chấm công phải được treo công khai tại nơi làm việc để công nhân viên có thể thực hiện kiểm tra, giám sát việc chấm công hàng ngày, tham gia ý kiến vào công tác quản lý và sử dụng thời gian lao động. Bảng chấm công là tài liệu quan trọng để tổng hợp, đánh giá phân tích tình hình sử dụng thời gian lao động, là cơ sở để kế toán tính toán kết quả lao động và tiền lương cho công nhân viên. Bên cạnh bảng chấm công, kế toán còn sử dụng một số chứng từ khác để phản ánh cụ thể tình hình sử dụng thời gian lao động của công nhân viên trong một số trường hợp sau: àPhiếu nghỉ hưởng bảo hiểm xã hội (Mẫu số 03-LĐTL) ban hành theo quyết định như trên. Phiếu này được lập để xác nhận số ngày được nghỉ do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, nghỉ trông con ốm..... của người lao động, làm căn cứ để tính trợ cấp bảo hiểm xã hội trả thay lương theo chế độ quy định. àPhiếu báo làm thêm giờ (Mẫu số 07-LĐTL) đây là chứng từ xác nhận số giờ công, đơn giá và số tiền làm thêm được hưởng của từng công việc và là cơ sở để tính trả lương cho người lao động. Phiếu có thể lập cho từng cá nhân theo từng công việc của một đợt công tác hoặc có thể lập cho cả tập thể. àBiên bản điều tra tai nạn lao động (Mẫu số 09-LĐTL) Hạch toán kết quả lao động, tiền lương: Kết quả lao động của công nhân viên trong doanh nghiệp chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố: Thời gian lao động, trình độ thành thạo, tinh thần thái độ, phương tiện sử dụng ..... khi đánh giá, phân tích kết quả lao động của công nhân viên phải xem xét một cách đầy đủ các nhân tố trên. Kết quả lao động của công nhân viên trong doanh nghiệp được phản ánh vào các chứng từ: àPhiếu xác nhận sản phẩm hoặc công việc hoàn thành (Mẫu số 06-LĐTL) Phiếu này là chứng từ xác nhận số sản phẩm hoặc công việc hoàn thành của đơn vị hoặc cá nhân người lao động. Phiếu do người giao việc lập (hai bản) sau khi có đầy đủ chữ ký của người giao việc, người nhận việc, người kiểm tra chất lượng, người duyệt và được chuyển đến bộ phận kế toán (một bản) làm cơ sở để lập bảng thnh toán tiền lương hoặc tiền công cho người lao động. àHợp đồng giao khoán (Mẫu số 08-LĐTL): đây là bản ký kết giữa người giao khoán và người nhận khoán về khối lượng công việc, thời gian làm việc, trách nhiệm và quyền loại của mỗi bên khi thực hiện công việc đó. Hợp đồng được lập thành ba bản, sau khi có đầy đủ chữ ký của hai bên nhận, giao khoán và của kế toán thanh toán sẽ được chuyển về phòng kế toán để theo dõi quá trình thực hiện hợp đồng giao khoán và làm cơ sở để thanh toán tiền công lao động cho người nhận khoán. Tuỳ theo loại hình, đặc điểm sản xuất, nhiệm vụ sản xuất kinh doanh mà doanh nghiệp sẽ chọn sử dụng chứng từ thích hợp để phản ánh kịp thời, đầy đủ, chính xác kết quả lao động. Mỗi chứng từ sử dụng đều phải phản ánh được những nội dung cơ bản: Tên công nhân viên hoặc bộ phận công tác, loại sản phẩm, công việc hoàn thành được nghiệm thu. Căn cứ các chứng từ hạch toán kết quả lao động kế toán lập sổ tổng hợp kết quả lao động nhằm tổng hợp kết quả lao động của từng cá nhân, bộ phận và toàn đơn vị làm cơ sở cho việc tính toán năng suất lao động và tính tiền lương theo sản phẩm cho công nhân viên. Tính lương và trợ cấp bảo hiểm xã hội: Tính lương và trợ cấp bảo hiểm xã hội trong doanh nghiệp được tiến hành hàng tháng trên cơ sở các chứng từ hạch toán lao động và các chính sách chế độ về lao động, trên lương, bảo hiểm xã hội mà Nhà nước đã ban hành và các chế độ khác thuộc quy định của doanh nghiệp trong khuôn khổ pháp luật cho phép. Công việc tính lương và trợ cấp bảo hiểm xã hội có thể được giao cho nhân viên hạch toán ở các phân xưởng tiến hành, phòng kế toán phải kiểm tra lại trước khi thanh toán. Hoặc cũng có thể tập trung thực hiện tại phòng kế toán toàn bộ công việc tính lương và trợ cấp bảo hiểm xã hội cho toàn doanh nghiệp. Để phản ánh các khoản tiền lương, tiền thưởng, trợ cấp bảo hiểm xã hội phải trả cho từng công nhân viên, kế toán sử dụng các chứng từ sau: àBảng thanh toán tiền lương (Mẫu số 02-LĐTL) Bảng thanh toán tiền lương là chứng từ làm căn cứ thanh toán tiền lương phụ cấp cho người lao động, kiểm tra việc thanh toán tiền lương cho người lao động làm việc trong các đơn vị sản xuất kinh doanh đồng thời là căn cứ để thống kê về lao động tiền lương. Trong bảng thanh toán lương còn phản ánh các khoản nghỉ việc được hưởng lương, số thuế thu nhập phải nộp và các khoản phải khấu trừ vào lương. Kế toán căn cứ vào các chứng từ có liên quan để lập bảng thanh toán lương, sau khi được kế toán trưởng ký duyệt sẽ làm căn cứ để lập phiếu chi và phát lương. Mỗi lần lĩnh lương, người lao động phải trực tiếp ký vào cột ký nhận hoặc người nhận hộ phải ký thay. Sau khi thanh toán lương, bảng thanh toán lương được lưu tại phòng kế toán. àBảng thanh toán bảo hiểm xã hội là chứng từ làm căn cứ tổng hợp và thanh toán bảo hiểm xã hội trả thay lương cho người lao động, lập báo cáo quyết toán bảo hiểm xã hội với cơ quan quản lý bảo hiểm xã hội cấp trên. Tuỳ thuộc vào số lượng người được thanh toán trợ cấp bảo hiểm xã hội trả thay lương trong tháng của đơn vị, kế toán có thể lập bảng cho từng phòng ban, bộ phận ..... hoặc cho toàn đơn vị. Cơ sở để lập bảng này là “Phiếu nghỉ hưởng bảo hiểm xã hội” (Mẫu số 03-LĐTL) khi lập bảng phải phân ra chi tiết theo từng trường hợp như nghỉ ốm, nghỉ con ốm, nghỉ đẻ, sẩy thai, nghỉ tai nạn lao động.... Trong từng khoản phải phản ánh số ngày và số tiền trợ cấp trả thay lương. Các khoản phải nộp về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và kinh phí công đoàn, hàng tháng hoặc quý doanh nghiệp có thể lập uỷ nhiệm chi để chuyển tiền hoặc chi tiền mặt để nộp cho cơ quản lý theo quy định. Việc thực hiện chi trả tiền lương thường được tiến hành vào nhiều thời gian nhất định trong tháng. Nếu quá thời gian quy định mà còn có công nhân viên vì lý do nào đó chưa được nhận lương, thủ quỹ phải nộp danh sách những công nhân viên chưa nhận lương, chuyển họ tên, đơn vị, bộ phận và số tiền của công nhân viên chưa nhận lương từ các bảng thanh toán tiền lương sang bảng kê thanh toán tiền lương với công nhân viên chưa nhận lương, để trực tiếp theo dõi và phát lương cho công nhân viên. Đối với công nhân viên nghỉ phép hàng năm, theo chế độ quy định thì công nhân viên trong thời gian nghỉ phép đó vẫn được hưởng lương đầy đủ như thời gian đi làm việc. Tiền lương nghỉ phép phải được tính vào chi phí sản xuất một cách hợp lý vì nó ảnh hưởng đến giá thành sản phẩm. Nếu doanh nghiệp bố trí cho công nhân viên nghỉ phép đều đặn trong năm thì tiền lương nghỉ phép được tính trực tiếp vào chi phí sản xuất (như khi tính tiền lương chính), nếu doanh nghiệp không bố trí được cho công nhân viên nghỉ phép đều đặn trong năm, có tháng công nhân viên tập trung nghỉ nhiều, có tháng nghỉ ít hoặc không nghỉ, để đảm bảo cho giá thành không bị đột biến tiền lương nghỉ phép của công nhân viên được tính vào chi phí sản xuất thông qua phương pháp trích trước theo kế hoạch. Cuối năm sẽ tiến hành điều chỉnh số trích trước theo kế hoạch cho phù hợp với số thực tế tiền lương nghỉ phép để phản ánh số thực tế chi phí tiền lương vào chi phí sản xuất. Trích trước lương nghỉ phép thực hiện đối với công nhân trực tiếp sản xuất. Số trích trước theo kế hoạch tiền lương nghỉ phép của công sản xuất trong tháng = Số tiền lương chính phải trả cho công nhân sản xuất trong tháng x Tỷ lệ trích trước theo kế hoạch tiền lương nghỉ phép của công nhân sản xuất Tỷ lệ trích trước theo kế hoạch tiền lương nghỉ phép của công nhân sản xuất = Tổng số tiền lương nghỉ phép phải trả cho công nhân sản xuất theo kế hoạch trong năm Tổng sô tiền lương chính phải trả cho công nhân sản xuất theo kế hoạch trong năm Hạch toán tổng hợp tiền lương và các khoản trích theo lương: Để theo dõi tình hình thanh toán tiền lương và các khoản khác với người lao động, tình hình trích lập, sử dụng quỹ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn, tuỳ thuộc từng doanh nghiệp mà kế toán có thể sử dụng các tài khoản sau: Tài khoản 334: Phải trả công nhân viên Tài khoản 335: Chi phí phải trả Tài khoản 338: Phải trả phải nộp khác Kết cấu, nội dung phản ánh và phương pháp hạch toán kế toán một số hoạt động kinh tế chủ yếu: Tài khoản phải trả công nhân viên: Tài khoản này dùng để phản ánh các khoản phải trả và tình hình thanh toán các khoản phải trả cho công nhân viên của doanh nghiệp xây lắp về tiền lương, phụ cấp lưu động, tiền công, tiền thưởng, bảo hiểm xã hội và các khoản phải trả khác thuộc về thu nhập của công nhân viên (thuộc biên chế của doanh nghiệp) và tiền công phải trả cho lao động thuê ngoài. Kết cấu và nội dung phản ánh của tài khoản phải trả công nhân viên: Bên Nợ: Các khoản tiền lương, phụ cấp lưu động, tiền công, tiền thưởng, bảo hiểm xã hội và các khoản khác đã ứng, đã trả trước cho công nhân viên. Các khoản khấu trừ vào tiền lương, tiền công của công nhân viên. Các khoản tiền công đã ứng trước, hoặc đã trả với lao động thuê ngoài. Bên Có: Các khoản tiền lương, tiền công, tiền thưởng, bảo hiểm xã hội và các khoản khác phải trả cho công nhân viên. Các khoản tiền công phải trả cho lao động thuê ngoài. Số dư bên Có: Các khoản tiền lương, tiền công, tiền thưởng và các khoản khác còn phải trả cho công nhân viên. Các khoản tiền công còn phải trả cho lao động thuê ngoài Tài khoản 334 có thể có số dư bên Nợ (trong trường hợp rất cá biệt), số dư bên Nợ tài khoản 334 (nếu có) phản ánh số tiền đã trả quá số phải trả về tiền lương, tiền công, tiền thưởng và các khoản khác cho công nhân viên. Tài khoản 334 – Phải trả công nhân viên, có hai tài khoản cấp hai: Tài khoản 3341 – Phải trả công nhân viên: Dùng để phản ánh các khoản phải trả và tình hình thanh toán các khoản phải trả cho công nhân viên của doanh nghiệp xây lắp về tiền lương, lương phụ, phụ cấp lưu động, tiền chi cho lao động nữ, tiền công, các khoản mang tính chất lương, tiền thưởng, bảo hiểm xã hội và các khoản phải trả khác thuộc về thu nhập của công nhân viên (thuộc biên chế của doanh nghiệp). Tài khoản 3342 – Phải trả lao động thuê ngoài: Dùng để phản ánh các khoản phải trả và tình hình thanh toán các khoản phải trả cho các lao động thuê ngoài không thuộc biên chế của doanh nghiệp xây lắp. ỉPhương pháp hạch toán kế toán một số hoạt động kinh tế chủ yếu: 1-Thanh toán với công nhân viên của doanh nghiệp: 1.1-Tính tiền lương, phụ cấp lương, phụ cấp lưu động, tiền công, tiền ăn giữa ca, tiền chi cho lao động nữ, các khoản mang tính chất tiền lương theo qui định phải trả cho công nhân viên hoạt động trong lĩnh vực xây lắp, sản xuất công nghiệp, lĩnh vực đầu tư xây dựng cơ bản, tuỳ thuộc vào lĩnh vực ngành nghề của từng doanh nghiệp mà kế toán có thể ghi: Nợ TK 241 – Xây dựng cơ bản dở dang Nợ TK 622 – Chi phí nhân công trực tiếp Nợ TK 623 – Chi phí sử dụng máy thi công (6231) Nợ TK 627 – Chi phí sản xuất chung (6271) Nợ TK 641 – Chi phí bán hàng (6411) Nợ TK 642 – Chi phí quản lý doanh nghiệp (6421) .......... Có TK 334 – Phải trả công nhân viên (3341) 1.2-Tính tiền thưởng phải trả cho công nhân viên, ghi: Nợ TK 431 – Quỹ khen thưởng, phúc lợi Có TK 334 – Phải trả công nhân viên (3341) 1.3-Tính khoản bảo hiểm xã hội (ốm đau, thai sản, tai nạn,....) phải cho công nhân viên, ghi: Nợ TK 338 – Phải trả, phải nộp khác Có TK 334 – Phải trả công nhân viên (3341) 1.4-Tính số tiền lương nghỉ phép thực tế trả cho công nhân viên, ghi: Nợ các TK 623, 627, 641, 642 hoặc Nợ TK 335 – Chi phí phải trả Có TK 334 – Phải trả công nhân viên (3341) 1.5-Các khoản phải khấu trừ vào lương và thu nhập của công nhân viên như tiền tạm ứng, bảo hiểm y tế, tiền bồi thường...., ghi: Nợ TK 334 – Phải trả công nhân viên (3341) Có TK 141 – Tạm ứng, hoặc Có TK 338 – Phải trả, phải nộp khác, hoặc Có TK 138 – Phải thu khác 1.6-Tính thuế thu nhập của công nhân viên, người lao động phải nộp Nhà nước, ghi: Nợ TK 334 – Phải trả công nhân viên (3341) Có TK 333 – Thuế và các khoản phải nộp Nhà nước (3338) 1.7-Khi thực thanh toán các khoản tiền lương, các khoản mang tính chất tiền lương, tiền thưởng và các khoản phải trả khác cho công nhân viên, ghi: Nợ TK 334 – Phải trả công nhân viên Có TK 111 – Tiền mặt, hoặc Có TK 112 – Tiền gửi ngân hàng 2-Thanh toán với công nhân thuê ngoài: 2.1-Xác định tiền công phải trả đối với nhân công thuê ngoài, ghi: Nợ các TK 622, 623,.... Có TK 334 – Phải trả công nhân viên (3342) 2.2-Khi ứng trước hoặc thực thanh toán tiền công phải trả cho nhân công thuê ngoài, ghi: Nợ TK 334 – Phải trả công nhân viên (3342) Có các TK 111,112 Tài khoản chi phí phải trả: Tài khoản này dùng để phản ánh các khoản chi được ghi nhận là chi phí hoạt động sản xuất, kinh doanh trong kỳ nhưng thực tế chưa phát sinh mà sẽ phát sinh trong các kỳ sau. Được hạch toán vào tài khoản này những chi phí thực tế phát sinh, nhưn

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • doc20408.DOC
Tài liệu liên quan