Chuyên đề Hoàn thiện kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Nhà máy ô tô 3-2

Đối tượng lao động là một trong những yếu tố cơ bản cấu thành trong thực thể sản phẩm. Trong quá trình sản xuất kinh doanh, các loại đối tượng lao động chuyển hoá toàn bộ giá trị vào giá trị sản phẩm mới và hình thành nên chi phí nguyên vật liệu trực tiếp.

Tại Nhà máy ôtô 3-2, đối tượng lao động cấu thành trong thành phẩm chính gồm các loại sau:

- Vật liệu chính: bao gồm toàn bộ các loại nguyên vật liệu trong Nhà máy có tác dụng cấu thành nên thực thể vật chất của sản phẩm: như khung xương, nội thất, điện máy gầm, thép hộp

- Vật liệu phụ: là tất cả các loại NVL có tác dụng phụ trong quá trình sản xuất sản phẩm, có tác dụng làm đẹp nâng cao hình thức, chất lượng sản phẩm hay các loại nhiên liệu có tác dụng giúp cho động cơ của sản phẩm, máy móc có thể hoạt động bình thường như các laọi sơn, giấy giáp, nước rửa kính, keo dán cửa sổ.

- Phế liệu thu hồi là tất cả các loại NVL và CCDC bị hỏng, bị loại ra trong quá trình sản xuất như: tôn phế liệu, nhôm phế liệu, máy khoan hỏng

Cũng như mọi doanh nghiệp sản xuất khác, chi phí NVL chính chiếm tỷ trọng lớn trong tổng chi phí sản xuất sản phẩm ở công ty cơ khí ôtô 3-2 . Chính vì vậy mà công ty luôn phải quản lý chặt chẽ và thường xuyên khoản mục chi phí này.

 

doc73 trang | Chia sẻ: maiphuongdc | Ngày: 06/09/2014 | Lượt xem: 847 | Lượt tải: 1download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Chuyên đề Hoàn thiện kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Nhà máy ô tô 3-2, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
iện nay thì Nhà máy cồn sản xuất các loại phụ tùng xe máy là chính và đóng mới các loại ô tô và còn duy trì được những xưởng sửa chữa. 2.1.2. Đặc đIểm tổ chức sản xuất kinh doanh của Nhà máy. 2.1.2.1. Đặc đIểm tổ chức sản xuất kinh doanh của Nhà máy. Kế hoạch sản xuất kinh doanh năm 2005 của Nhà máy đã kêt thúc nhìn nhận đánh giá chung năm 2005 thực sự là năm khởi sắc của Nhà máy ôtô 3-2 sau hơn 13 năm hình thành và phát triển, Nhà máy đã từng bước theo kịp sự chuyển biến của cơ chế để đI vào một thời kỳ mới, thời kỳ phát triển toàn diện. Doanh thu của năm 2005 Nhà máy đã đạt trên 98 tỷ đồng, tăng so vơI năm 2004 và đạt doanh thu cao nhất so với các năm khác. Nguồn công việc đã dồi dào hơn, đặc biệt là khu vực sản xuất cơ khí, thu nhập, đời sống của ngừô lao động cũng được nâng lên rõ rệt, vượt qua chỉ tiêu mà đại hội CNVC đầu năm đã đề ra các chỉ tiêu về nghĩa vụ nộp ngân sách Nhà nước đều hoàn thành vượt mức. Đó là kết quả đoàn kết nhất trí, cùng sự năng động sáng tạo và quyết tâm phấn đấu của toàn thể cán bộ CNV Nhà máy trong những năm vừa qua. Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ sản xuất kinh doanh năm 2005 có Nhà máy đã có những thuận lợi và khó khăn: Thuận lợi: Đảng uỷ lãnh đạo Nhà máy đoàn kết nhất trí đồng thời đề xuấ những phương hướng đúng cho sự phát triển sản xuất kinh doanh của Nhà máy. + Ban lãnh đạo hoạt động tích cực, năng động sáng tạo. + Bộ máy quản lý được sắp xếp lại và bổ sung tăng cường thêm đã phát huy được tốt trong công tác quản lý đIều hành sản xuất kinh doanh. + Cán bộ CNV trong Nhà máy đều đông tâm hiệp lực quyết tâm phấn đấu đưa Nhà máy đI lên, khắc phục khó khăn. Khó khăn: cũng nằm trong khó khăn chung của ngành cơ khí đó là công việc ít, sản lượng thấp, không ổn định, về năng lực còn hạn chế, về con người kể cả cán bộ quản lý, cán bộ kỹ thuật, công nhân kỹ thuật qua nhiều năm chưa được bổ xung kiến thức hay đào tạo lại, về trang thiết bị phục vụ sane xuất hầu hết thuộc chế độ cũ, đã lạc hậu và công nghệ kém chính xác. 2.1.2.2. Đặc điểm quy trình công nghệ: Vì sản phẩm của Nhà máy có nhiều loại khác nhau do đó quy trình sản xuất các loại sản phẩm đó là khác nhau. Mỗi phân xưởng sẽ chuyên sản xuất một hoặc một vài sản phẩm, ở đây em chỉ đưa ra quy trình sản xuất một loại sản phẩm tiêu biểu nhất của Nhà máy là quy trình đóng mới xe ca 32 chỗ ngồi của phân xưởng ôtô II. Sơ đồ 2.1.2.2. Sơ đồ quy trình công nghệ Loại sản phẩm : transico ba hai hc k32-1c Hoàn thiện máy gầm Đóng vỏ: dóng khung xương, bọc vỏ, sơn Tổng thành Satxi nhập ngoại phòng kinh doanh bán hàng kiểm tra, nghiệm thu lắp đặt các thiết bị nội thất, ghế điều hoà, boc trần… 2.1.2.3. Bộ máy tổ chức quản lý sản xuất kinh doanh. Tổ chức bộ máy quản lý trong bất kỳ doanh nghiệp nào cũng cần thiết và không thể thiếu được. Nó đảm bảo sự giám sát, quản lý chặt chẽ tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Để phát huy và nâng cao vai trò của bộ máy quản lý, Nhà máy đã tổ chức lại cơ cấu lao động, tổ chức lại các phòng ban, xí nghiệp, phân xưởng cho phù hợp với yêu cầu quản lý của Nhà máy. Cơ cấu bộ máy của Nhà máy ôtô 3-2 gọn nhẹ, linh hoạt, có phân cấp rõ ràng trách nhiệm và quyền hạn, đã tạo điều kiện cho ban Giám đốc Nhà máyđiều hành hiệu quả và khai thác tối đa tiềm năng của cả hệ thống. Bộ máy quản lý của Nhà máy gồm một Giám đốc, hai phó Giám đốc và các phòng ban chức năng, được tổ chức theo mô hình trực tuyến chức năng, thực hiện quản lý doanh nghiệp theo chế độ một Giám đốc, điều đó được thể hiện qua sơ đồ sau: Sơ đồ 2.1.2.3. Sơ đồ tổ chức bộ máy của công ty Giám đốc Phó giám đốc phụ trách kinh doanh Phó giám đốc phụ trách sản xuất Phó giám đốc phụ trách kỹ thuật P. kế hoạch SX Phân xưởng cơ khí III Phân xưởng cơ khí II Phân xưởng cơ khí I Phân xưởng ôtô II Phân xưởng ôtô I Ban dự án Phòng kỹ thuật_ KCS P. kinh doanh Ban bảo vệ Phòng NC Phòng kế toán Chức năng nhiệm vụ của các bộ phận, cá nhân: * Giám đốc Nhà máy do hội đồng quản trị Tổng Công ty công nghiệp ô tô Việt Nam bổ nhiệm, miễn nhiệm, khen thưởng, kỷ luật theo đề nghị của tổng giám đốc, là đại diện pháp nhân của Nhà máy và chịu trách nhiệm trước hội đồng quản trị, Tổng Giám đốc và pháp luật về điều hành hoạy động của Nhà máy. Giám đốc là người có quyền hành cao nhất trong Nhà máy. * Phó giám đốc: là người giúp việc cho Giám đốc trong quản lý và điều hành Nhà máy. Nhà máy có 3 phó giám đốc: Phó giám đốc phụ trách kỹ thật, phó giám đốc phụ trách sản xuất và phó giám đốc phụ trách kinh doanh. Phó giám đốc phụ trách kỹ thuật: phụ trách về mặt kỹ thuật chất lượng của sản phẩm do Nhà máy chế tạo ra và quản lý các phòng: ban dự án, phòng kỹ thuật_KCS. Phó giám đốc phụ trách sản xuất: phụ trách mảng sản xuất của Nhà máy và quản lý các phòng, các phân xưởng sau: Phòng kế hoạch sản xuất, phân xưởng ôtô I, ôtô II; phân xưởng cơ khí I, phân xương cơ khí II, phân xưởng cơ khí III. Phó giám đốc phụ trách kinh doanh: Phụ trách và quản lý trực tiếp phòng kinh doanh Các phòng ban chịu sự quản lý chỉ đạo trực tiếp của Giám đốc: + Phòng kế toán: Gồm 6 người Tham mưu cho giám đốc về quản lý các mặt công tác kế toán tài- chính, về sử dụng nguồn vốn và khai thác khả năng vốn của Nhà máy để đạt hiệu quả cao nhất. Tham mưu cho Giám đốc về biện pháp thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trích nộp đối với Nhà nước. Luôn luôn chủ động chăm lo bằng mọi biện pháp để có đủ vốn phụ vụ kịp thời cho sản xuất kinh doanh của Nhà máy. Quản lý, kiểm tra toàn bộ công tác kế toán, quản lý chặt chẽ chế độ hạch toán và chế độ quản lý kinh tế tài chính trong toàn bộ Nhà máy. + Phòng nhân chính: Gồm 12 người. Quản lý và điều hành toàn bộ công tác tổ chức cán bộ, tổ chức lao động và công tác tiền lương. Xây dựng các định mức lao động. + Phòng kinh doanh: Gồm 13 người. Tạo thị trường tiêu thụ sản phẩm do Nhà máy sản xuất giới thiệu và quảng cáo sản phẩm. Lập kế hoạch lưu chuyển hàng hoá tiêu thụ, quản lý kho thành phẩm, thực hiện việc bán lẻ thành phẩm. + Phòng kế hoạch sản xuất: Lập các kế hoạch sản xuất ngắn hạn và dài hạn của Nhà máy, kế hoạch sản xuất từng loại sản phẩm trong năm, điều tiết sản xuất theo kế hoạch. Lên các kế hoạch chi tiết để cung ứng vật tư cho từng phân xưởng, từng loại sản phẩm, đồng thời khai thác thị trường để ký kết các hợp đồng thu mua vật tư nhằm kịp thời cung ứng các yếu tố đầu vào đảm bảo cho nhu cầu sản xuất của Nhà máy được diễn ra liên tục. + Phòng kỹ thuật_ KCS: Gồm 13 người. Trực tiếp xây dựng các tiêu chẩn kỹ thuật cho các sản phẩm, các chỉ tiêu kiểm tra kỹ thuật, chất lượng sản phẩm, định mức về vật tư, lao động trong sản xuất sản phẩm nằm tiết kiệm vật tư nâng cao năng suất, hạ giá thành, hợp lý hoá sản xuất, cải tiến kỹ thuật và quản lý chặt chẽ các chỉ tiêu được ban hành. Tham mưu cho Giám đốc trong công tác quản lý kỹ thuật, chất lượng sản phẩm, duy trì và từng bước nâng cao uy tín của Nhà máy đối với khách hàng, để đủ sức cạnh tranh với các thành phần kinh tế khác về cả ba mặt chất lượng, thời gian và giá thành. Chủ động chăm lo đổi mới công nghệ, đổi mới mặt hàng, đổi mới tổ chức sản xuất,chăm lo tới công tác quản lý kỹ thuật, chất lượng, quản lý máy móc thiết bị và an toàn lao động. + Ban dự án: Gồm 2 người. Xây dựng các dự án cho việc xây dựng cơ sở vật chất, mở rộng quy mô hoạt động cho Nhà máy như: Dự án về xây dựng thêm các cơ sở, di dời các bộ phận sản xuất trực tiếp của Nhà máy ra ngoại thành. + Ban bảo vệ: Gồm 14 người. Bảo vệ sản xuất, phòng chống tai nạn, phòng chống các tệ nạn xã hội, bảo vệ tài sản của Nhà máy, của khách hàng đến liên hệ công tác. Đặc điểm bộ máy sản xuất Với mục đính để nâng cao khả năng chuyên môn hoá trong sản xuất sản phẩm nhờ đó mà nâưng cao được năng suất và chất lượng của sản phẩm, Nhà máy đã tổ chức sản xuất theo 5 phân xưởng: - Phân xưởng sản xuất chính: + Phân xưởng ôtô I: sửa chữa và bảo hành ôtô các loại + Phân xưởng ôtô II: đóng mới các loại xe ca + Phân xưởng cơ khí II: hàn đóng thành phẩm khung xe máy - Phân xưởng sản xuất phụ: chủ yếu sản xuất các loại nguyên vật liệu, phụ tùng phục vụ cho các phân xưởng sản xuất chính và bán trực tiếp ra ngoài. + Phân xưởng cơ khí I: sản xuất chi tiết rời: khung cong, thanh cong tôm, bản lề, xương ghế giá để hàng. + Phân xưởng cơ khí III: sản xuất các chi tiết gập, ép định hình và các mảng rời (cửa khách, cửa hậu, cửa thùng hàng…) 2.1.3. Đặc điểm tổ chức công tác kế toán tại Nhà máy. 2.1.3.1. Tổ chức bộ máy kế toán: Với quy trình sản xuất như trên Nhà máy đã tổ chức bộ máy kế toán theo mô hình tập trung. Phòng kế toán thực hiện toàn bộ công việc kế toán từ thu nhận, ghi sổ, xử lý thông tin trên hệ thông báo cáo phân tích và tổnh hợp của đơn vị. Về biên chế phòng kế toán gồm 6 người, được tổ chức theo sơ đồ sau: Sơ đồ 2.1.3.1. Sơ đồ tổ chức bộ máy kế toán Kế toán trưởng Kế toán hàng hoá tiêu Kế toán chi phí giá thành Kế toán tiền lương, BHXH Kế toán tổng hợp Kế toán thanh toán Kế toán TSCĐ Thủ quỹ Kế toán vốn bằng tiền Nhiệm vụ cụ thể của từng bộ phận trong bộ máy kế toán của Nhà máy được cụ thể như sau: + Kế toán trưởng: trực tiếp phụ trách phòng kế toán, chịu trách nhiệm trước Giám đốc Nhà máy, chịu trách nhiệm về nguyên tắc tài chính đối với cơ quan tài chính cấp trên, với thanh tra , kiểm tra, kiểm toán viên nhà nước. + Kế toán vốn tiền mặt: có nhiệm vụ phản ánh kịp thời, đầy đủ chính xác số liệu hiện có của Nhà máy và tình hình biến động của vốn bằng tiền, đồng thời giám sát chặt chẽ việc thu chi và quản lý tiền mặt, tiền gửi ngân hàng. + Kế toán thanh toán: chi phí sản xuất, tiêu thụ, chịu trách nhiệm trước trưởng phòng về vốn bằng tiền, các khoản phải thu, tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành, xác định giá vốn, ghi nhận doanh thu. + Kế toán tiền lương và BHXH: có nhiệm vụ phản ánh và giám sát chặt chẽ tình hình sử dụng quỹ tiền lương và lập báo cáo về lao động tiền lương. + Kế toán TSCĐ: có nhiệm vụ lập báo cáo thống kê với cấp trên, theo dõi tình hình biến động của TSCĐ. + Kế toán hàng hoá và tiêu thụ sản phẩm: theo dõi tình hình nhập xuất tồn, tính giá thực tế của hàng hoá nhập kho, mở các sổ, thẻ kế toán phản ánh hàng hoá và quá trình tiêu thụ. + Kế toán tổng hợp: là người chịu trách nhiệm giúp việc cho kế toán trưởng, có nhiệm vụ kiểm tra đối chiếu tổng hợp số liệu và lập báo cáo gửi lên cấp trên. + Thủ quỹ: có nhiệm vụ thu chi tiền mặt và lập báo cáo quỹ. + Kế toán chi phí giá thành: có nhiệm vụ tập hợp, tính toán chi phí sản xuất phát sinh và tính giá thành cho các sản phẩm, các công trình hoàn thành. 2.1.3.2. Tổ chức bộ sổ kế toán tại Nhà máy. Nhà máy áp dụng chế độ kế toán doanh nghiệp ban hành theo quyết định số 1141-TC/QĐ/CĐKT ngày 1/11/1995 với sự sửa đổi bổ sung theo các chuẩn mực kế toán mới ban hành. Hệ thống chứng từ của Nhà máy bao gồm: hệ thống chứng từ về lao động tiền lương, hàng tồn kho, thanh toán, tài sản cố định…theo đúng quy định của Nhà nước. Danh mục tài khoản được sử dụng là hầu hết các tài khoản theo quyết định 1141 có sửa đổi trừ các tài khoản được sử dụng cho phương pháp kiểm kê định kỳ và TK151. Hình thức tổ chức kế toán: Nhà máy ôtô 3-2 áp dụng hình thức nhật ký chứng từ để ghi sổ kế toán. Do áp dụng theo hình thức nhật ký chứng từ nên Nhà máy sử dụng hầu hết các sổ sách của hình thức này bao gồm: các bảng kê, các nhật ký chứng từ , các sổ chi tiết theo đúng quy định. Tuy nhiên Nhà máy không sử dụng nhật ký chứng từ số 3, số6, sổ cái TK113, sổ cái TK151. Trình tự ghi sổ của Nhà máy ô tô 3-2. Sơ đồ 2.1.3.2. Trình tự ghi sổ kế toán theo hình thức Nhật ký chung Chứng từ gốc Sổ, (thẻ) kế toán chi tiết Sổ nhật ký chung Sổ cái Bảng tổng hợp chi tiết Bảng cân đối số phát sinh Báo cáo tàI chính Ghi hàng ngày Ghi cuối tháng hoặc định kỳ Đối chiếu, kiểm tra Có thể khái quát trình tự ghi sổ của Nhà máy như sau: Hàng ngày căn cứ vào các chứng từ gốc, các bảng phân bổ kế toán ghi vào các bảng kê, các nhật ký chứng từ, các sổ chi tiết liên quan. Cuối tháng trên cơ sở số liệu của các nhật ký chứng từ 1,2,5,7,10 đối ứng với Nợ các tài khoản 152,153,155,156 kế toán lấy các số liệu vào bảng kê số 3 và số 9 để tính ra giá thành thực tế của vật tư, hàng hoá xuất kho. Phần xuất kho trong bảng kê số 3 là căn cứ để lập nên bảng phân bổ số 2. Thông qua bảng kê số 2, và bảng kê số 9 kế toán vào các bảng kê 4,5,6,8,10,11 theo giá thực tế. Đồng thời cuối tháng sau khi hoàn tất việc ghi các sổ kế toán chi tiết, các bảng kê, kế toán sẽ ghi vào NKCT 5,7,8. Sổ cái được mở cho cả năm, mỗi tờ sổ được dùng cho một tài khoản trong đó phản ánh số phát sinh Nợ, số phát sinh Có và số dư cuối tháng. Cơ sở để vào sổ cái là từ nhật ký chứng từ liên quan. Số phát sinh Có được lấy từ chính nhật ký chứng từ đó, số phát sinh Nợ được phản ánh chi tiết theo từng tài khoản đối ứng Có lấy từ NKCT liên quan. 2.2. Thực trạng kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Nhà máy ôtô 3-2 2.2.1. Hạch toán chi phí sản xuất. 2.2.1.1. Đặc điểm chi phí sản xuất tại Nhà máy Xuất phát từ đặc điểm quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm, Nhà máy đã lựa chọn việc phân loại chi phí sản xuất kinh doanh theo mục đính công dụng của chi phí. Theo tiêu thức này, toàn bộ chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ được chia ra làm các khoản mục sau: + Khoản mục chi phí nguyên vật liệu trực tiếp (TK 612). + Khoản mục chi phí nhân công trực tiếp (TK 622). + Khoản mục chi phí sản xuất chung: bao gồm chi phí nhân viên phân xưởng, chi phí VL dùng cho quản lý, chi phí khấu hao TSCĐ, chi phí CCDC, chi phí dịch vụ mua ngoài, chi phí khác bằng tiền. Với cách phân loại này đã giúp Nhà máy xác định được phương hướng và các biện pháp tiết kiệm chi phí, hạ giá thành sản phẩm. 2.2.1.2. Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất Cũng như mọi doanh nghiệp khác, việc xác định đối tượng tập hợp chi phí cung luôn được coi là công việc đầu tiên trong công tác kế toán chi phí sản xuất kinh doanh và tính giá thành sản phẩm. Việc xác định đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất phù hợp với tình hình sản xuất kinh doanh, với yêu cầu quản lý là rất cần thiết và phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau (như đặc điểm tình hình sản xuất kinh doanh, yêu cầu trình độ quản lý hay trình độ công nghệ sản xuất sản phẩm ) Xuất phát từ đặc điểm sản xuất thực tế của doanh nghiệp với nhiều loại sản phẩm, quy trình công nghệ phức tạp, được tổ chức thành các phân xưởng, mà công ty cơ khí ôtô 3-2 lựa chọn đố tượng tập hợp chi phí là từng phân xưởng và chi tiết cho từng sản phẩm. Riêng phân xưởng ôtô I đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất chỉ theo phân xưởng mà không chi tiết cho từng phiếu sản xuất. 2.2.1.3. Kế toán chi phí sản xuất. 2.2.4. Kế toán tập hợp chi phí sản xuất ở công ty cơ khí ôtô 3-2 2.2.4.1. Kế toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: Đối tượng lao động là một trong những yếu tố cơ bản cấu thành trong thực thể sản phẩm. Trong quá trình sản xuất kinh doanh, các loại đối tượng lao động chuyển hoá toàn bộ giá trị vào giá trị sản phẩm mới và hình thành nên chi phí nguyên vật liệu trực tiếp. Tại Nhà máy ôtô 3-2, đối tượng lao động cấu thành trong thành phẩm chính gồm các loại sau: - Vật liệu chính: bao gồm toàn bộ các loại nguyên vật liệu trong Nhà máy có tác dụng cấu thành nên thực thể vật chất của sản phẩm: như khung xương, nội thất, điện máy gầm, thép hộp… - Vật liệu phụ: là tất cả các loại NVL có tác dụng phụ trong quá trình sản xuất sản phẩm, có tác dụng làm đẹp nâng cao hình thức, chất lượng sản phẩm hay các loại nhiên liệu có tác dụng giúp cho động cơ của sản phẩm, máy móc có thể hoạt động bình thường như các laọi sơn, giấy giáp, nước rửa kính, keo dán cửa sổ. - Phế liệu thu hồi là tất cả các loại NVL và CCDC bị hỏng, bị loại ra trong quá trình sản xuất như: tôn phế liệu, nhôm phế liệu, máy khoan hỏng… Cũng như mọi doanh nghiệp sản xuất khác, chi phí NVL chính chiếm tỷ trọng lớn trong tổng chi phí sản xuất sản phẩm ở công ty cơ khí ôtô 3-2 . Chính vì vậy mà công ty luôn phải quản lý chặt chẽ và thường xuyên khoản mục chi phí này. 2.2.4.1.1. Tài khoản sử dụng Để tập hợp chi phí NVLTT, kế toán ở công ty cơ khí ôtô 3-2 cũng sử dụng TK621: "chi phí nguyên vật liệu trực tiếp" sau đó mở chi tiết theo từng phân xưởng và theo từng sản phẩm. TK62101 : Phân xưởng ôtô I TK62102 : Phân xưởng ôtôII TK62103 : Phân xưởng cơ khí I TK62104 : Phân xưởng cơ khí II TK62105 : Phân xưởng cơ khí III Trong tháng 1 năm 2005, ngoài việc mở chi tiết cho từng phân xưởng, công ty mở chi tiết cho các phiếu sản xuất của các phân xưởng cơ khí I,III Và trong tháng này công ty chỉ sản xuất đóng mới xe K32, và khung xe máy kiểu dáng Dream. Nên TK621 chỉ mở chi tiết cho 2 loại sản phẩm chính này. 2.2.4.1.2. Sổ sách kế toán, chứng từ sử dụng: Để phục vụ cho công tác tập hợp chi phí NVLTT kế toán cần phải kết hợp sử dụng các loại sổ sách chứng từ khác nhau, cụ thể là: Sổ chi tiết NVL, bảng tổng hợp xuất NVL- CCDC, bảng nhập - xuất - tồn NVL chính, phiếu xuất kho, các nhật ký chứng từ 7, bảng kê số 3,4. Căn cứ để ghi các nhật ký chứng từ là các chứng từ gốc, các sổ chi tiết. Căn cứ để ghi sổ cái TK621 là các nhật ký chứng từ 2.2.4.1.3. Trình tự kế toán tập hợp chi phí NVLTT Khi có nhu cầu về nguyên vật liệu, nhân viên phân xưởng hoặc nhân viên các bộ phân khác viết phiếu yêu cầu cấp vật tư trong đó ghi rõ : danh mục những vật tư cần lĩnh cụ thể với những yêu cầu về kiểu cách, phẩm chất số lượng (dựa trên kế hoạch sản xuất mà phân xưởng được giao trong phiếu sản xuất) Phiếu yêu cầu cấp vật tư sẽ được chuyển cho quản đốc phân xưởng ký duyệt, sau đó chuyển cho giám đốc duyệt và cuối cùng chuyển xuống cho phòng kế hoạch sản xuất viết phiếu xuất kho. Phòng kế hoạch sản xuất căn cứ vào phiếu yêu cầu xuất vật tư đã được phê duyệt để viết phiếu xuất kho. Phiếu xuất kho được lập thành 2 liên : 1 liên lưu tại quyển, một liên giao cho thủ kho làm căn cứ xuất vật liệu và ghi vào thẻ kho, sau đó giao cho kế toán vật tư. Tại phòng kế toán, kế toán tập hợp các phiếu xuất kho xác định trị giá thực tế của vật liệu xuất kho. Công ty có nhiều loại nguyên vật liệu, nghiệp vụ xuất lại diễn ra thường xuyên cho nhiều mục đính khác nhau phục vụ sản xuất, công ty không áp dụng phần mềm kế toán nên để thuận tiện cho việc hạch toán NVL kế toán vật tư sử dụng giá hạch toán. Giá hạch toán của từng loại NVL thường là giá mua thực tế của NVL đầu niên độ kế toán trước nên tương đối sát với thực tế. Cuối tháng kế toán tính giá thực tế vật liệu xuất kho và tiến hành điều chỉnh từ giá hạch toán sang giá thực tế thông qua hệ số giá. Kế toán tiến hành như sau: Giá thực tế tồn đầu kỳ + giá thực tế nhập trong kỳ H = ------------------------------------------------------------ Giá hạch toán tồn đầu + giá hạch toán nhập trong kỳ Căn cứ vào hệ số giá và giá hạch toán tính giá thực tế nguyên vật liệu xuất kho: Giá thực tế NVL xuất kho = giá hạch toán của NVL x H Phiếu xuất kho số 81 Ngày 10/1/2005 Họ tên người nhận hàng : Bà Bình Phân xưởng ôtô II Lý do: phục vụ sản xuất Xuất tại kho : Vật tư STT Tên vật tư ĐVT Số lượng Đơn giá TT CT TX 1 2 3 4 5 Bulông M8x60 Ghế 3 không chân Ghế đôi không chân Ghế đôi có chân Ghế đơn có chân con cái cái cái cái 56 05 06 10 02 56 05 07 10 02 5234 1532531 1166950 1591341 542213 293104 7662655 8168650 15913410 1084486 cộng 33122305 cộng thành tiền: ba mươi ba triệu không trăm chín mươi sáu nghìn Thủ trưởng Kế toán trưởng P. trách cung tiêu N.nhận hàng Thủ kho (ký tên) (ký tên) (ký tên) (ký tên) (ký tên) Theo phương pháp này giá thực tế của nguyên vật liệu xuất kho đến cuối tháng mới tính được căn cứ vào bảng kê số 3. Tuy nhiên việc điều chỉnh giữa giá thực tế và giá hạch toán chỉ cho những sản phẩm chính của doanh nghiệp, còn những nửa thành phẩm dưới dạng nguyên vật liệu do phân xưởng cơ khí I và III sản xuất vẫn sử dụng giá hạch toán để tính giá thành, vì vậy những sản phẩm này khi nhập kho có giá hạch toán và giá thực tế là như nhau. Do doanh nghiệp có hơn 1000 loại vật tư và cũng chưa có danh điểm loại vật tư, vì vậy không mở chi tiết cho TK152. Vì vậy công ty không thể xác định chính xác hệ số giá cho từng loại vật tư mà chỉ xác định được hệ số giá chung cho tất cả các loại vật tư xuất kho, sau đó mới tính cho các phân xưởng và chi tiết cho từng loại sản phẩm Để lập được bảng kê số 3 , kế toán lập các bảng sau: Bảng kê phiếu nhập : bảng 7 Bảng kê phiếu xuất cho từng phân xưởng : bảng 8 Bảng tổng hợp phiếu xuất toàn doanh nghiệp : bảng 9 Bảng kê số 3 : bảng 10 Bảng phân bổ NVL- CCDC: bảng 11. Từ chứng từ thực tế trên bảng phân bổ sẽ được tập hợp vào bảng kê số 4, tương ứng với các khoản ghi: Nợ TK621 19.125.555.675 (chi tiết theo PX, sản phẩm) Có TK152 19.125.555.675 Từ bảng kê số 4 số liệu được chuyển ghi vào NKCT số 7 tương ứng với các tài khoản ghi: Nợ TK154 19.125.555.675 Có TK621 19.125.555.675 Cuối tháng từ NKCT số 7, kế toán ghi vào sổ cái TK 621. Căn cứ vào bảng phân bổ nguyên vật liệu công cụ dụng cụ, bảng kê số 4, NKCT số 7, kế toán ghi vào bảng tổng hợp tính giá thành của từng phân xưởng, sản phẩm. 2.2.4.2 Kế toán chi phí nhân công trực tiếp: Nếu nói đến NVL là đề cập đến yếu tố đối tượng lao động, thì nói đến nhân công là nói đến yếu tố sức lao động trong cấu thành sản phẩm của mỗi doanh nghiệp. Phải có sự kết hợp giữa hai yếu tố này mới có thể tạo ra sản phẩm hoàn chỉnh. Và trong quá trình sản xuất, yếu tố nhân công hình thành nên khoản mục chi phí nhân công trực tiếp (CPNCTT). Trong công ty cơ khí ôtô 3-2, CPNCTT gồm các khoản mục như: tiền lương chính, lương bổ sung, phụ cấp, các khoản trích theo lương (BHXH, BHYT, KPCĐ) theo đúng chế độ kế toán 2.2.4.2.1. Tài khoản sử dụng Để tập hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm, kế toán sử dụng TK622 "chi phí nhân công trực tiếp" và cũng chi tiết cho từng phân xưởng, sản phẩm. TK62201 : phân xưởng ôtô I TK62202 : phân xưởng ôtô I TK62203 : phân xưởng cơ khí I TK62204 : phân xưởng cơ khí II TK62205 : phân xưởng cơ khí III 2.2.4.2.2.Chứng từ sổ sách kế toán Đối với TK622 kế toán sử cụng các sổ sách như: bảng chấm công, bảng tính lương sản phẩm, bảng tính thời gian, bảng phân bổ tiền lương và các khoản trích theo lương, bảng kê số 4, NKCT số 7, sổ cái TK622. 2.2.4.2.3. Trình tự ghi sổ: Việc tính lương và các khoản trích theo lương của các phân xưởng do kế toán của các phân xưởng tính Hàng ngày tổ trưởng, trưởng ca tại các tổ ca sản xuất, của các phân xưởng thực hiện chấm công theo dõi số công nhân đi làm hay vắng mặt của tổ mình. Đến cuối tháng nộp cho kế toán phân xưởng. Đồng thời để khuyến khích công nhân chuyên tâm sản xuất nâng cao năng suất chất lượng sản xuất, công ty đã kết hợp hạch toán lương công nhân sản xuất theo lương sản phẩm. Khi có phiếu sản xuất, kế toán phân xưởng giao cho các tổ thực hiện từng phần công việc, có đơn giá cụ thể. Ví dụ đơn giá tiền cho mỗi công việc: Định mức đơn giá phân xưởng cơ khí I 1) ống chính + Dream uốn : 100đ x 2 = 200đ cắt đầu : 67đ nhập kho 33đ tổng cộng: 300đ + Wave: uốn: 100đ x 3 = 300đ cắt đầu : 67đ nhập kho 33đ tổng cộng: 400đ 2) các loại thanh + A9 dài 219: cắt : 50đ vận chuyển: 20đ 70đ …… Đến cuối tháng căn cứ vào các phiếu sản xuất đã hoàn thành để xác định tiền lương cho các tổ: Tổng quỹ lương tổ = tổng số lượng sản phẩm x đơn giá sản phẩm SX Từng tổ sẽ căn cứ vào bảng chấm công, bình bầu hệ số công (hệ số này căn cứ vào công việc của từng người, do mọi người trong tổ tự bình bầu). Tổng quỹ lương đơn giá công = ------------------------------------ tổng số công tháng của tổ Tiền lương 1 người = tổng công 1 người x đơn giá công Ngoài ra người lao động của công ty còn nhận được khoản lương bổ sung. Cách tính lương bổ sung : Căn cứ vào kết quả sản xuất kinh doanh hàng tháng, công ty ấn định lương bình quân một công nhân trong tháng. Lấy tiền lương bình quân đó nhân với tổng số lao động của công ty được quỹ lương dự định chia trong tháng Quỹ lương bổ sung chính bằng tổng số lương dự định chia trong tháng sau khi đã trừ đi quỹ lương thời gian hoặc lương sản phẩm của công nhân sản xuất trong tháng. Các khoản trích theo lương: BHXH, BHYT, KPCĐ - công nhân phải trả BHXH, BHYT (trừ vào lương) = lương cơ bản x (5%BHXH + 1%BHYT) Lương cơ bản = 290.000 x HSL - công ty trả tính vào chi phí: BHXH = lương cơ bản x 15% BHYT= lương cơ bản x 2% KPCĐ = lương cơ bản x 2% Cuối tháng sau khi tính lương, kế toán phân xưởng chuyển sổ lương của phân xưởng lên phòng kế toán để kế toán tiền lương kiểm tra đối chiếu, tập hợp lương cho cả công ty. Kế toán lập bảng phân bổ tiền lương và các khoản trích theo lương, theo định khoản : Nợ TK622 1.198.899.038 (Chi tiết theo phân xưởng, SP) Có TK334 1.007.478.185 Có TK338 191.402.853 Có TK3382 20.149.563 Có TK3383 20.149.563 Có TK3384 151.121.727 Căn cứ vào bảng phân bổ tiền lương và các khoản trích theo lương, kế toán tập hợp ghi vào bảng kê 4, tương ứng với các phần mục có ghi: Nợ TK622 1.198.899.038 (chi tiết theo phân xưởng, SP) Có TK334 1.007.478.185 Có TK338 191.402.853 Từ bảng phân bổ và bảng kê kế toán tiến hành ghi vào NKCT số 7, theo các phần , mục có ghi tương ứng: Nợ TK 154 1.198.899.038 Có TK 622 1.198.8

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • doc32473.doc
Tài liệu liên quan