Chuyên đề Hoàn thiện quy trình kiểm toán báo cáo tài chính thuộc dự án ODA

 Cùng với sự gia tăng về doanh thu thì lợi nhuận cũng luôn đạt được ở mức cao qua các năm. AASC không ngừng mở rộng thị trường hoạt động bằng việc thành lập các chi nhánh khắp các tỉnh thành từ Bắc vào Nam: Hải Phòng, Quảng Ninh, Thanh Hoá, Đà Nẵng, Hồ Chí Minh, Vũng Tàu. Tại mỗi chi nhánh hay văn phòng đại diện đều có các bộ phận hành chính và bộ phận nghiệp vụ để có thể cung cấp các dịch vụ cho một mạng lưới các khách hàng trên khắp cả nước. Hiện nay AASC đã có hàng nghìn khách hàng hoạt động trên mọi lĩnh vực của nền kinh tế gồm các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, các dự án được tài trợ bởi Ngân hàng Thế giới, Ngân hàng phát triển Châu Á và các tổ chức tài chính, tín dụng quốc tế, các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán. Với phương châm đa dạng hóa các loại hình dịch vụ, nâng cao chất lượng dịch vụ kiểm toán tương xứng với trình độ trong khu vực và quốc tế, mở rộng hợp tác, xây dựng mối quan hệ với các hãng kiểm toán hàng đầu trên thế giới, AASC đã và đang phát triển, khằng định chỗ đứng của mình trên thị trường kiểm toán Việt Nam.

doc140 trang | Chia sẻ: maiphuongdc | Ngày: 07/08/2014 | Lượt xem: 1656 | Lượt tải: 12download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Chuyên đề Hoàn thiện quy trình kiểm toán báo cáo tài chính thuộc dự án ODA, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
n thiếu giá trị xây lắp của gói thầu sửa chữa văn phòng làm việc theo BB thẩm định của Sở tài chính số tiền 11.982.000 và đã đề nghị bút toán điều chỉnh tăng chi phí quản lý dự án và tăng phaiar trả nhà thầu số tiền 11.982.000 đồng; đồng thời KTV cũng chỉ ra những sự thiếu chứng từ phù hợp của bộ hồ sơ thanh toán kèm theo của các khoản chi. Đối với Dự án XYZ, khoản chi liên quan chủ yếu đến chi hoạt động; KTV cũng sẽ xem xét trên BC Chi tiêu các khoản chi hoạt động; so sánh các khảo chi này với văn kiện của Dự án vì đã có định mức chi cụ thể, đồng thời kiểm tra tính hợp lý, hợp lệ của các chứng từ. Từ đó, KTV sẽ đưa ra kết luận về các khoản chi hoạt động Mẫu số (07) : Kết luận của KTV về các khoản chi hoạt động của Dự án XYZ Ghi nhận chi phí hoạt động Kiểm tra Qua kiểm tra việc thanh toán các khoản chi trong năm chúng tôi nhận thấy một số khoản chi chưa phù hợp với Văn kiện của Dự án: Các khoản chi thanh toán cho các học viên tham dự lớp tập huấn tại các tỉnh chưa phù hợp với quy định. Khoản chi giới thiệu Luật KTNN trên báo số tiền 12.000.000 VND thanh toán cho khối lượng công việc thực hiện trước ngày có hiệu lực của Văn kiện Dự án. Kiểm toán quỹ tín dụng ( Quỹ Tài chính Vi mô): Đối với Dự án ABC, quỹ này được hình thành theo hợp phần 5 của Dự án – chương trình cho vay vốn cải tạo nhà do Hội liên hiệp phụ nữ Thành phố H thực hiện. Hội liên hiệp phụ nưc Thành phố H đã thành lập một BQL Quỹ tài chính Vi mô. Tại BQL Vi mô, KTV đã thực hiện dựa trên các ghi chép kế toán bao gồm những thủ tục sau: Thu nhận biên bản kiểm kê quỹ tiền mặt lưu trữ tại BQL quỹ tài chính Vi mô trong kỳ kiểm toán. Thu nhận các bản xác nhận số dư TGNH phục vụ Quỹ tài chính Vi mô tại thời điểm 31/12/2006. Chọn mẫu, đối chiếu các mục chi phí lớn với các hóa đơn, chứng từ kèm theo để khẳng định rằng các khoản chi trả có được phê duyệt, có đủ các chứng từ hợp lệ và cần thiết cho mục đích cảu dự án và có hợp lệ để Ngân hàng Thế giới tài trợ hay không. Xem xét các văn bản phê duyệt chi phí hoạt động của Sở tài chính cho hoạt động của Quỹ tài chính Vi mô trong kỳ kiểm toán Xem xét quy trình khảo sát, thẩm định, phê duyệt, giải ngân vốn vay, xác định lãi vay vốn, tiền gửi tiết kiệm bắt buộc và các vấn đề khác liên quan đến quá trình hoạt động tín dụng. Đi thăm thực tế một số hộ vay vốn của dự án để đánh giá mức độ hài lòng của các hộ này đối với hoạt động cho vay vốn của dự án Xem xét Hệ thống KSNB của Quỹ, bao gồm: môi trường kiểm soát chung, hệ thống kế toán và các thủ tục kiểm soát. Thảo luận với một số cán bộ của Ban quản lý Tài chính vi mô về tình hình thực hiện và các vướng mắc khó khăn mà quỹ đang mắc phải trong quá trình thực thi nhiệm vụ của mình. Công ty kiểm toán AASC đã xây dựng chương trình kiểm toán hoạt động quỹ tín dụng của quỹ vay vòng vốn. Các KTV đã áp dụng chương trình này để kiểm toán quy trình hoạt động của quỹ tín dụng của dự án ABC theo phụ lục số (31). KTV kiểm tra trên báo cáo các chỉ tiêu thực hiện đến 31/12/06 tính được số vốn quay vòng = tổng số giải ngân (đến 31/12/06) – số tiền giải ngân từ WB lũy kế (đến 31/12/06); số dư gốc chưa cho vay = gốc thu được – số vốn quay vòng; từ đó tính được số món đã cho vay và số món vay còn lại. KTV thu thập danh sách các hộ được vay để kiểm tra số vốn thực tế đã cho vay, số tiền đã thu hồi để so sánh sao cho số tiền giải ngân quay vòng phải bằng số gốc thu được. KTV cũng thu thập bảng kê kinh phí WB cấp chi giải ngân đến ngày 31/12/06, và bản sao kê chi tiết về các khoản vay của các hộ gia đình để biết tình hình thực tế về khoản tiền vay này của mỗi gia đình về: số tiền vay, lãi KH, lãi thực tế, gốc KH, gốc thực tế, …Sử dụng phiếu thăm dò hộ vay vốn theo phục lục số (32) để đánh giá mức độ hài lòng của những hộ được cho vay. Sau khi kiểm tra, KTV thấy rằng hoạt động tại quỹ quay vòng vốn của BQL khá hiệu quả. Tính đến thời điểm 31/12/06 số món vay đã giải ngân là 3.045 món (36 hộ đã thanh toán toàn bộ gốc trước hạn) tương ứng 23.606.000.000 VND. Năm 2006, đã cho vay được 2.194 hộ tương ứng 17.453.000.000 VND. Với Dự án XYZ, không hình thành Quỹ này nên không cần tiến hành kiểm toán. Kiểm toán tài khoản đặc biệt và sao kê chi tiêu: Chỉ thực hiện đối với Dự án ABC, KTV cũng thực hiện theo chương trình kiểm toán mà Công ty đã xây dựng sẵn theo phụ lục số (33). KTV sẽ thu thập các bảng sao kê chi tiêu- phục lục số (34) đã lập của khoản viện trợ theo Hiệp định Phát triển cùng khoản viện trợ không hoàn lại cùng với các đơn xin rút vốn và gửi tới cho Ngân hàng Thế giới năm 2006 như, thu thập BC Tài khoản Đặc Biệt theo phục lục số (35 ) rồi đối chiếu tổng giá trị các khoản chi tiêu hợp lệ được Ngân hàng Thế giới tài trợ với BC Tài khoản Đặc biệt cho năm tài chính 2006 và các đơn xin rút vốn theo phụ lục số ( 36) về GTLV của KTV về đối chiếu đơn xin rút vốn, sao kê chi tiêu tài khoản khách hàng. 2.2.2.3. Kết thúc kiểm toán Khi kết thúc kiểm toán, trước khi phát hành BC kiểm toán, công việc kiểm toán được sự soát xét, đánh giá của 3 cấp giúp đảm bảo chất lượng và hiệu quả. Sau đó, KTV lập các BC kết quả kiểm toán trong đó bao gồm ý kiến kiểm toán về BCTC – Phục lục số (37) đối với Dự án ABC và Phụ lục sô (38) đối với Dự án XYZ, BC về tài khoản Đặc biệt (nếu có) – Phụ lục số (39), về Sao kê Chi tiêu; đồng thời còn đưa ra Biên bản ghi nhớ kết quả kiểm toán – Phụ lục số (40). CHƯƠNG 3 : MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN QUY TRÌNH KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH THUỘC DỰ ÁN ODA TẠI AASC 3.1. Đánh giá chung về quy trình kiểm toán Báo cáo tài chính dự án ODA do Công ty AASC thực hiện 3.1.1. Đánh giá khái quát các hoạt động của Công ty AASC Ưu điểm về các hoạt động của Công ty Về chiến lược, mục tiêu và kết quả trong hoạt động kinh doanh AASC là một trong hai cái nôi kiểm toán của Việt Nam, đã đóng góp vào sự phát triển của hoạt động cung cấp dịch vụ kế toán, kiểm toán, tư vấn nói chung và của hoạt động kiểm toán nói riêng tại Việt Nam. Sau 17 năm hoạt động, từ một DN Nhà nước nay đã chuyển đổi thành Công ty TNHH, AASC đã không ngừng phát triển cả chiều rộng lẫn chiều sâu, mở rộng thị trường, đa dạng hóa khách hàng, cung cấp dịch vụ tin cậy, doanh số, chất lượng, số lượng các hợp đồng cung cấp dịch vụ tăng mạnh hàng năm. Cụ thể, kiểm toán là hoạt động chính và là điểm mạnh nhất của Công ty, hàng năm số lượng các hợp đồng kiểm toán không ngừng tăng. Năm 2003 là 476 hợp đồng, năm 2004 là 528 hợp đồng, năm 2005 là 700 hợp đồng, năm 2006 là gần 800 hợp đồng kiểm toán BCTC. Hiện nay, Công ty đã và đang cung cấp dịch vụ cho gần 1500 khách hàng. BẢNG ( 1 ) : SỐ LIỆU TÀI CHÍNH TRONG 3 NĂM 2004 - 2006 TT Chỉ tiêu Năm 2004 Năm 2005 Năm 2006 1 Tổng tài sản nợ 21,536,841,601 26,977,360,082 29,422,528,034 2 Tổng tài sản nợ lưu động 13,201,737,986 18,339,967,156 16,432,609,675 3 Doanh thu 31,688,529,374 42,465,532,719 59,064,868,269 3 Lợi nhuận trước thuế 1,976,539,451 1,959,145,501 1,880,904,367 4 Lợi nhuận sau thuế 1,423,108,405 1,195,434,720 1,099,721,929 Dựa vào bảng trên ta thấy, doanh thu qua các năm không ngừng tăng. So với năm trước doanh thu mỗi năm đều tăng. Năm 2005 tăng 10.777.003.345 đồng, tăng 34% so với năm 2004. Năm 2006 doanh thu tăng 16.599.335.550 đồng, tức tăng 39% so với năm 2004. BIỂU ĐỒ ( 1) : BIỂU ĐỒ DOANH THU CỦA CÔNG TY Cùng với sự gia tăng về doanh thu thì lợi nhuận cũng luôn đạt được ở mức cao qua các năm. AASC không ngừng mở rộng thị trường hoạt động bằng việc thành lập các chi nhánh khắp các tỉnh thành từ Bắc vào Nam: Hải Phòng, Quảng Ninh, Thanh Hoá, Đà Nẵng, Hồ Chí Minh, Vũng Tàu. Tại mỗi chi nhánh hay văn phòng đại diện đều có các bộ phận hành chính và bộ phận nghiệp vụ để có thể cung cấp các dịch vụ cho một mạng lưới các khách hàng trên khắp cả nước. Hiện nay AASC đã có hàng nghìn khách hàng hoạt động trên mọi lĩnh vực của nền kinh tế gồm các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, các dự án được tài trợ bởi Ngân hàng Thế giới, Ngân hàng phát triển Châu Á và các tổ chức tài chính, tín dụng quốc tế, các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán. Với phương châm đa dạng hóa các loại hình dịch vụ, nâng cao chất lượng dịch vụ kiểm toán tương xứng với trình độ trong khu vực và quốc tế, mở rộng hợp tác, xây dựng mối quan hệ với các hãng kiểm toán hàng đầu trên thế giới, AASC đã và đang phát triển, khằng định chỗ đứng của mình trên thị trường kiểm toán Việt Nam. Về dịch vụ kế toán, AASC được hình thành và phát triển từ khởi đầu là một đơn vị chuyên cung cấp dịch vụ kế toán. Dịch vụ kế toán AASC cung cấp được Bộ tài chính và đông đảo khách hàng tín nhiệm và đánh giá cao. Đây là một trong những lĩnh vực mà AASC có các nguồn lực đông đảo và nhiều kinh nghiệm. Cơ cấu tổ chức và đội ngũ nhân viên của Công ty : bộ máy hành chính các phòng ban chuyên trách theo chức năng, có các bộ phận nghiệp vụ tránh sự chồng chéo trong hoạt động, giữa các bộ phận có sự phân tách chức năng rõ ràng, giúp cho hoạt động điều hành trong toàn Công ty diễn ra một cách xuyên suốt, hiệu quả. Công ty có một bộ máy kế toán riêng tương đối gọn nhẹ. Bộ máy này phù hợp với loại hình công ty kiểm toán vì là kinh doanh dịch vụ, không phải DN sản xuất nên các chi phí phát sinh và tập hợp chi phí xác định kết quả không quá phức tạp. Hơn nữa công nghệ thông tin cũng góp phần giảm bớt công việc kế toán và các thủ tục hành chính. Đội ngũ nhân viên thực hiện kiểm toán có trình độ và tay nghề cao, có chuyên môn về kế toán, kiểm toán, thuế,.. có phẩm chất đạo đức nghề nghiệp tốt, đặc biệt Công ty chú trọng vào tính độc lập của KTV bằng cách lập bảng câu hỏi đánh giá tính độc lập của Công ty kiểm toán, ký cam kết của nhân viên về đạo đức nghề nghiệp, thông báo danh sách khách hàng cần đảm bảo tính độc lập, thông báo nhân viên không có tính độc lập,... trước khi tiến hành chấp nhận bất kỳ khách hàng nào. Công ty thường xuyên đào tạo, bồi dưỡng và nâng cao trình độ tay nghề cho đội ngũ công nhân viên. Công ty thường xuyên tiến hành kiểm tra, sát hạch& tổ chức các kỳ thi nhằm đánh giá và nâng cao tay nghề của từng nhân viên, phân cấp trình độ KTV. Hoạt động kiểm toán của công ty : Công ty đã không ngừng cải tiến và nâng cao chất lượng dịch vụ hoạt động kiểm toán đáp ứng nhu cầu và thị hiếu của thị trường. Điều này được thể hiện trước hết là Công ty đã xây dựng được một quy trình kiểm toán tương đối hoàn thiện để hướng dẫn và kiểm soát chất lượng dịch vụ kiểm toán. Quy trình này được áp dụng chung cho tất cả các DN và được điều chỉnh qua các năm. Trước khi tiến hành kiểm toán, Công ty đã tiến hành thu thập thông tin về khách hàng là cơ sở để xây dựng chương trình kiểm toán, nhận diện về điểm quan trọng trong hoạt động của khách hàng. Kĩ thuật kiểm toán sử dụng trong thu thập thông tin về khách hàng chủ yếu là phỏng vấn. Vì vậy, việc hợp tác trong các vấn đề mà KTV đưa ra đã tạo nên hứng thú trong công việc. Qua trao đổi, KTV còn biết được nhu cầu, mong muốn của khách hàng, từ đó tạo ra các biện pháp xử lý cần thiết nhằm tối đa hóa các dịch vụ cung cấp cho khách hàng cũng như huy động được tối đa các nguồn lực trong Công ty. Ngoài ra việc trao đổi thông tin và thu thập bằng chứng đã tạo điều kiện cho KTV có hiểu biết sơ bộ về khía cạnh trọng yếu trong hoạt động kinh doanh của khách hàng. Điều này làm cho hiệu quả của công việc kiểm toán được nâng cao. Sau đó, Công ty đã lên KH chi tiết, thiết kế chương trình kiểm toán riêng đối với từng khách hàng dựa trên quy trình chung được AASC xây dựng đảm bảo sự hướng dẫn chi tiết cho các KTV trong hoạt động kiểm toán. Trong giai đoạn lập KH kiểm toán, Công ty tiến hành đánh giá hệ thống KSNB đặc biệt tập trung vào đánh giá hệ thống kế toán, xây dựng bảng câu hỏi đánh giá HT kế toán, thuế( về các chính sách kế toán áp dụng, chương trình kế toán,...), giúp cho KTV ước lượng được rủi ro kiểm soát một cách chính xác nhất. Hoạt động kiểm toán luôn luôn được bám sát thực hiện theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam cũng như các chuẩn mực kiểm toán quốc tế được chấp nhận tại Việt Nam. Mỗi cuộc kiểm toán luôn có hồ sơ lưu trữ dưới dạng file tài liệu theo khách hàng, hợp đồng kiểm toán, phạm vi sử dụng giúp cho việc lưu giữ những thông tin khách hàng, kết quả kiểm toán một cách khoa học, cẩn thận. Hồ sơ kiểm toán được xây dựng một cách khoa học, hệ thống tham chiếu rõ ràng, logic, GLV sắp xếp theo trật tự và được thiết kế để đảm bảo hiệu quả công việc cao. Trong giai đoạn kết thúc kiểm toán, KTV thực hiện đầy đủ các công việc cần thiết: soát xét các sự kiện phát sinh sau ngày kết thúc niên độ, kiểm tra giấy tờ làm việc, lập BCKT, thư quản lý. Do từ các bước đầu tiên trong quá tình thực hiện, KTV đã tiến hành kĩ lưỡng và thận trọng với sự hợp tác nhiệt tình của khách hàng nên BC kiểm toán cũng như thư quản lý luôn đáp ứng tối đa nhu cầu mong muốn của đơn vị người sử dụng thông tin. Ngoài ra, việc duy trì quan hệ với các khách hàng luôn được Ban Giám đốc rất coi trọng. Tóm lại, các bước quy trình và các giai đoạn tiến hành một cuộc kiểm toán của AASC thể hiện tính khoa học cao. Nhận thấy rõ được tầm quan trọng của việc kiểm soát chất lượng kiểm toán, bên cạnh việc xây dựng quy trình chuẩn, Công ty đã xây dựng quy trình kiểm soát chất lượng kiểm toán. Quy trình này được tiến hành qua 3 cấp soát xét và được áp dụng đối với tất cả các cuộc kiểm toán. BC kiểm toán đều được soát xét cẩn thận bởi những người có chuyên môn, đảm bảo chất lượng của chương trình kiểm toán. Nhược điểm về các hoạt động của Công ty Về kết quả và chất lượng hoạt động kinh doanh: mặc dù Công ty có một số lượng khách hàng đông đảo, số hợp đồng cung cấp dịch vụ không ngừng tăng hàng năm nhưng lợi nhuận của Công ty có xu hướng giảm trong những năm gần đây. Ngoài nguyên nhân là do vấn đề cạnh tranh, Công ty phải giảm phí thu vào đối với mỗi hợp đồng dịch vụ; còn một nguyên nhân khác đó là việc quản lý chi phí hoạt động của Công ty chưa tốt. Chất lượng của các dịch vụ chưa thực sự đảm bảo một cách tốt nhất, do Công ty thiếu nhân viên có trình độ cao, lượng thời gian để thực hiện một hợp đồng tương đối ngắn; Công ty tập trung vào việc mở rộng các dịch vụ cung cấp và số lượng hợp đồng hơn là chất lượng các hoạt động. Bằng chứng là năm 2002, AASC đã bị Ủy ban chứng khoán Nhà nước đình chỉ việc kiểm toán đối với công ty cổ phần đồ hộp Hạ Long do vi phạm quy định về công bố thông tin và giao dịch chứng khoán. Về đội ngũ công nhân viên và cơ cấu tổ chức : về trình độ, năng lực quản lý của nhân viên Công ty còn nhiều hạn chế, chưa đủ sức cạnh tranh trên thị trường, đặc biệt là với các Công ty kiểm toán quốc tế. Cụ thể, trong lĩnh vực kiểm toán BCTC các ngành công nghiệp nặng, ngân hàng,..Công ty chỉ mới kí hợp đồng kiểm toán với một số DN vừa và nhỏ, còn các công ty và tập đoàn lớn thì do các công ty kiểm toán nước ngoài thực hiện như E&Y, KPMG,... Số lượng các nhân viên có kinh nghiệm còn ít, ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng của các cuộc kiểm toán và danh tiếng của Công ty. Về công tác đào tạo, mặc dù các nhân viên của Công tuy được đào tạo chính quy song vẫn không đáp ứng được yêu cầu về kiến thức kiểm toán, đặc biệt trong kiểm toán dự án, DN có vốn đầu tư nước ngoài. Việc tổ chức, huấn luyện, đào tạo còn ít, việc liên kết, phối hợp với các tổ chức, hội nghề nghiệp quốc tế xây dựng các chương trình đào tạo, mở rộng vẫn còn hạn chế cả số lượng và thời gian. Về công tác kiểm toán : trước khi thực hiện kiểm toán, các KTV tìm hiểu thông tin về khách hàng là cơ sở để nhận diện về kế hoạch kiểm toán. Tuy nhiên, việc thực hiện chủ yếu thông qua phỏng vấn theo bảng mẫu câu hỏi làm cho thông tin thiếu khách quan. Đối với khách hàng cũ, Công ty chủ yếu dựa vào hồ sơ kiểm toán năm trước, điều này chưa linh hoạt nên có thể bỏ sót những thông tin mới quan trọng về khách hàng. Tìm hiểu hệ thống KSNB và đánh giá rủi ro chỉ dừng vào bảng câu hỏi, chưa cân nhắc vào sự phù hợp đối với từng khách hàng. Đánh giá rủi ro kiểm toán được thực hiện theo bảng ước lượng mức trọng yếu được AASC xây dựng sẵn, ít qua xét đoán nghề nghiệp. Ngoài ra, chọn mẫu trong thực hiện kiểm toán ít đại diện chủ yếu dựa vào xét đoán nghề nghiệp; chính những vấn đề trên đã ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng kiểm toán của Công ty. Thực hiện các thử nghiệm kiểm soát hầu hết không được sử dụng, tiếp cận hệ thống KSNB chỉ dừng ở đánh giá mức trọng yếu và rủi ro kiểm soát. Trong kiểm toán, chủ yếu thực hiện thủ tục đối chiếu chi tiết, trong khi đó, thủ tục phân tích ít khi được sử dụng hoặc nếu có sử dụng thì chưa có sự liên hệ với các chỉ tiêu của ngành, của đơn vị khác. Thủ tục gửi thư xác nhận ít được áp dụng. Thủ tục kiểm toán chủ yếu được sử dụng trong một số chu trình kiểm toán chính quan trọng như doanh thu, tiền, chi phí,...Một số thủ tục như rà soát lại hồ sơ kiểm toán nhiều khi chưa thực hiện theo đúng quy trình đã xây dựng; việc xem xét các sự kiện phát sinh sau kiểm toán và thực hiện bút toán điều chỉnh chưa thực sự được chú trọng. Ngoài ra, trang thiết bị hỗ trợ cho hoạt động kiểm toán còn ít và lạc hậu. mỗi phòng nghiệp vụ chỉ được trang bị một số lượng hạn chế về máy móc thiết bị chuyên môn, ảnh hưởng không nhỏ đến thời gian công việc và chất lượng công việc; bên cạnh đó, cơ sở vật chất, phòng ban làm việc của các phòng nghiệp vụ quá chật hẹp ảnh hưởng đến môi trường làm việc, hiệu quả công việc của nhân viên. Chế độ đãi ngộ đối với các KTV chưa thực sự tốt nên không thu hút được các KTV có trình độ cao và kinh nghiệm. Công ty chưa ứng dụng công nghệ thông tin nhiều trong công tác kiểm toán, KTV thực hiện công việc một cách thủ công, ghi chép chủ yếu dựa trên giấy tờ làm việc, không thực hiện trên máy vi tính như một số Công ty kiểm toán lớn như E&Y, KPMG,...Việc ghi chép trên giấy tờ làm việc như kí hiệu, đánh tham chiếu,.. chưa thống nhất ảnh hưởng đến chất lượng cuộc kiểm toán và tới công việc tổng hợp kết quả kiểm toán. 3.1.2. Đánh giá về quy trình kiểm toán Báo cáo tài chính thuộc dự án ODA Về quy trình kiểm toán: Mặc dù, kiểm toán Báo cáo tài chính Dự án ODA là một lĩnh vực mới thuộc ngành kiểm toán Việt Nam nhưng Công ty AASC đã xây dựng được cho mình một quy trình kiểm toán riêng. Tuy rằng, quy trình này mới chỉ được xây dựng hơn một năm nhưng nó đã và đang được dần dần áp dụng vào các cuộc kiểm toán Dự án ODA. Quy trình được xây dựng một cách tương đối chặt chẽ, là một tài liệu mang tính hướng dẫn cho các KTV trong Công ty khi tiến hành kiểm toán BCTC thuộc Dự án ODA. Quy trình kiểm toán Dự án ODA của AASC tuy có những điểm khác biệt so với quy trình kiểm toán chung nhưng lại được xây dựng phù hợp với các quy định của Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam & Chuẩn mực kiểm toán Quốc tế, yêu cầu của Nhà tài trợ và dựa trên lý luận chung về kiểm toán BCTC, cùng với kinh nghiệm thực tế của các KTV. Cùng với quy trình kiểm toán chung, Công ty AASC cũng xây dựng chương trình kiểm toán các khoản mục trong BCTC thuộc Dự án ODA. Nội dung của những tài liệu này đã tập trung vào các vấn đề là đặc điểm riêng cơ bản nhất của Dự án ODA. KTV đã thực hiện hầu hết các giai đoạn cơ bản của quy trình kiểm toán BCTC: lập kế hoạch kiểm toán, thực hiện kiểm toán, kết thúc kiểm toán. Trong mỗi giai đoạn sẽ gồm các bước kiểm toán cụ thể hơn. Quy trình kiểm toán BCTC thuộc Dự án ODA được Công ty AASC xây dựng đã góp phần hướng dẫn và giúp đỡ cho các KTV trong các bước kiểm toán cụ thể, đồng thời đảm bảo được chất lượng của cuộc kiểm toán và kiểm soát được các rủi ro kiểm toán. Tuy nhiên, đây là một quy trình mới được xây dựng nên việc áp dụng vào thực tiễn công việc kiểm toán các Dự án cụ thể chưa thực sự đầy đủ. KTV chủ yếu vẫn dựa trên kinh nghiệm làm việc và quy trình kiểm toán BCTC chung là chính. Đồng thời cũng do quy trình mới chưa thực sự hoàn thiện; chỉ tập trung chủ yếu vào việc hướng dẫn kiểm toán tuân thủ; kiểm toán BCTC dựa chủ yếu vào quy trình kiểm toán BCTC sử dụng cho các DN nên chưa thực sự mang được nét đặc trưng & bản chất của kiểm toán BCTC thuộc Dự án ODA. Chính vì vây, quy trình cần từng bước hoàn thiện hơn nữa thông qua các cuộc kiểm toán BCTC Dự án tại Công ty. Về các giai đoạn của quy trình kiểm toán: Chuẩn bị kiểm toán: Đây là một giai đoạn quan trọng trong quy trình kiểm toán chung, hầu hết các cuộc kiểm toán Dự án ODA do AASC thực hiện đều là do được chỉ định. Điều này đã làm giảm tính cạnh tranh bình đẳng giữa các Công ty kiểm toán với nhau; đồng thời chất lượng cuộc kiểm toán khó đạt được mức cao nhất. Công ty đã xác định mục đích của cuộc kiểm toán để đưa ra định hướng các bước công việc tiếp theo, ngoài mục đích là để đảm bảo tính trung thực, khách quan của các thông tin tài chính trong BC của Dự án ODA, AASC còn chú trọng vào mục đích đó là KTV sẽ phát hành một Biên bản ghi nhớ kết quả kiểm toán ( hay là thư quản lý) tổng kết những vấn đề tìm ra trong quá trình kiểm toán để giúp BQL Dự án hiệu quả hơn. Đồng thời cũng đã xác định phạm vi của cuộc kiểm toán, KTV tập trung vào việc thực hiện kiểm toán BCTC và kiểm toán tuân thủ của Dự án. Trong đó, kiểm toán tuân thủ đã đánh giá trên góc độ tuân thủ các quy định của phía Việt Nam và phía nhà tài trợ & các quy tắc của Dự án. Tuy vậy, trong lĩnh vực kiểm toán Dự án ODA thì bên cạnh đánh giá về tính trung thực hợp lý của BCTC, tính tuân thủ, KTV chưa chú trọng vào việc đánh giá tính kinh tế, hiệu quả của Dự án để xem xét hoạt động của Dự án đã thực sự tiết kiệm nhất chưa? Và mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất chưa? Đây là một vấn đề hết sức quan trọng trong thực hiện Dự án nói chung và Dự án ODA nói riêng. Trong giai đoạn này, thể hiện tính thận trọng nghề nghiệp Công ty đã xây dựng một danh sách các vấn đề cần đặc biêt quan tâm trong quá trình kiểm toán như phần nguồn vốn nước ngoài tài trợ & việc sử dụng nó theo các điều khoản, hệ thống & các BC kế toán của Dự án, tính hợp pháp và đúng đắn của các hoạt động tài chính, nguồn thu của Dự án,…Bước quy trình này đã nhấn mạnh công việc mà KTV cần chú ý và quan tâm trong quá trình kiểm toán. Kế hoạch kiểm toán được xây dựng bao gồm các bước cụ thể như hiểu biết về Dự án, xác định tính trọng yếu, chọn mẫu kiểm toán, hướng dẫn công tác kiểm toán tại các tiểu ban & tổng hợp kết quả kiểm toán tại các tiểu ban. Hiểu biết về Dự án, KTV đã tìm hiểu các thông tin cụ thể về mục tiêu của Dự án đối tượng thụ hưởng, cách thức thực hiện Dự án, các hoạt động của Dự án, khuôn khổ pháp lý, các quy định, các hạng mục chi tiêu, quy trình kế toán & quy trình cấp vốn,…để giúp cho KTV có hiểu biết đầy đủ nhất về Dự án đang được kiểm toán. Chính các thông tin này là cơ sở cho việc xác định tính trọng yếu, chọn mẫu kiểm toán và thực hiện kiểm toán. Tuy nhiên, các thông tin được thu thập chủ yếu dựa trên các văn bản, giấy tờ do BQL Dự án cung cấp hoặc phỏng vấn, KTV không hoặc ít đi sâu khảo sát thực tế để thu thập các thông tin cần thiết nên sẽ khó đánh giá được chính xác đối tượng kiểm toán. Công ty cũng không xây dựng một mẫu cụ thể nguồn thông tin cần thu thập, bảng câu hỏi các thông tin liên quan và so sánh thông tin đã thu thập được với các thông tin từ nguồn khác nhau mà chủ yếu dựa trên kinh nghiệm của KTV. Về tìm hiểu và đánh giá hệ thống KSNB không thực sự được chú trọng trong giai đoạn này mà chỉ dừng lại ở việc tìm hiểu về đặc điểm chung nhất của BQL Dự án như chính sách kế toán, thông tin khái quát về BQL… Mặc dù, Công ty đã xây dựng một hệ thống các câu hỏi về đánh giá hệ thống KSNB của Dự án ODA nhưng trong các cuộc kiểm toán rất ít được áp dụng vì vậy các thông tin thu thập được ít & không đầy đủ và không phản ánh chính xác sự vận hành hệ thống KSNB của Dự án. Đồng thời, cách thu thập thông tin về hệ thống KSNB của KTV chỉ dựa trên phỏng vấn và các văn bản liên quan, không đa dạng trong cách thức thực hiện nên các thông tin thu được rất sơ sài và không thực sự hiệu quả. Đánh giá rủi ro và xác định tính trọng yếu chỉ được thực hiện khi tiến hành kiểm toán những Dự án có quy mô lớn. Trên cơ sở xem xét các văn bản và tìm hiểu thông tin về Dự án, KTV đánh giá mức rủi ro của Dự án, đồng thời xác định các nhân tố dẫn đến rủi ro có sai sót trọng yếu & phân bổ mức trọng yếu, rủi ro cho từng khoản mục.Nhìn chung, đối với những Dự án ODA lớn, việc đánh giá rủi ro và xác định tính trọng yếu được KTV thực hiện khá cẩn thận và đầy đủ theo quy trình kiểm toán Dự án ODA mà Công ty đã xây dựng, chính điều này đã góp phần giảm thiểu rủi ro cho cuộc kiểm toán. Chọn mẫu kiểm toán: mặc dù, trong quy trình kiểm toán BCTC Dự án ODA mà Công ty đã xây dựng có bàn đến vấn đề chọn mẫu kiểm toán nhưng chỉ mới dừng lại ở mức độ chung chung, chưa có sự hướng dẫn cụ thể, vì vậy khi thực hiện kiểm toán các KTV chọn mẫu dựa trên kinh nghiệm nghề nghiệp là chính hoặc chỉ chú trọng vào các Sub-PMU có chi tiêu lớn, hệ thống KSNB kém nên không mang tính đại diện và ảnh hưởng tới chất lượng kiểm toán. Do đặc điểm về cấu trúc địa lý và cấu trúc tổ chức của các Dự án ODA là ở phạm vi rộng nên AASC đã đưa ra hướng dẫn công tác kiểm toán tại các tiểu ban và tổng hợp kết quả kiểm toán từ các tiểu ban. KTV sẽ tiến hành chọn mẫu các Sub-PMU trước rồi tại từng Sub-PMU, KTV sẽ tiếp tịc chọn mẫu các mục để tiến hành kiểm tra. Hướng dẫn này được xây dựng giúp KTV có thể xác định công việc kiểm toán cần tậ

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • doc12073.doc
Tài liệu liên quan