Chuyên đề Quản lý sử dụng hoá đơn tại Cục thuế Hà Tây

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

PHẦN NỘI DUNG 3

Chương 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ HOÁ ĐƠN VÀ QUẢN LÝ SỬ DỤNG HOÁ ĐƠN 3

1.1 Lý luận chung về hoá đơn 3

1.1.1 Khái niệm và đặc điểm 3

1.1.2 Các loại hoá đơn 5

1.1.3 Hình thức của hoá đơn 5

1.1.4 Vai trò của hoá đơn 5

1.2 Sự cần thiết của công tác quản lý sử dụng hoá đơn 7

1.2.1 Về phía Nhà nước 7

1.2.2 Về phía doanh nghiệp 8

1.3 Qui trình chung về công tác quản lý sử dụng hoá đơn 10

1.3.1 Những qui định về đối tượng sử dụng hoá đơn 10

1.3.2 Những qui định về in và phát hành hoá đơn 10

1.3.3 Những qui định về sử dụng hoá đơn 14

1.3.4 Những qui định về quản lý hoá đơn 19

1.3.5 Những qui định về xử lý vi phạm 22

1.3.6 Thẩm quền về xử lý vi phạm hoá đơn 24

Chương 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ SỬ DỤNG HÓA ĐƠN TẠI CỤC THUẾ HÀ TÂY 26

2.1. Khái quát về tình hình kinh tế xã hội tỉnh Hà Tây 26

2.2 Công tác quản lý thu thuế tại Cục thuế tỉnh Hà Tây 27

2.3 Thực trạng công tác quản lý sử dụng hóa đơn tại Cục thuế Hà Tây 30

2.3.1 Thực trạng công tác quản lý đối tượng sử dụng hóa đơn 30

2.3.2 Thực trạng của công tác cấp bán hóa đơn 31

2.3.3 Thực trạng công tác quản lý sử dụng hóa đơn 35

2.3.4 Thực trạng công tác xử lý các vi phạm trong sử dụng hóa đơn. 37

2.3.5 Thực trạng công tác xác minh hóa đơn 40

2.3.6 Thực trạng công tác thu hồi và thanh huỷ hoá đơn 45

2.4 Những đánh giá chung về công tác quản lý sử dụng hoá đơn tại Cục thuế Hà Tây 47

2.4.1. Những mặt tích cực 47

2.4.2 Những mặt hạn chế 49

Chương 3: GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ CHO CÔNG TÁC QUẢN LÝ SỬ DỤNG HOÁ ĐƠN TẠI CỤC THUẾ HÀ TÂY 52

3.1 Định hướng quản lý thu thuế của Cục thuế Hà Tây 52

3.2 Một số giải pháp nâng cao công tác quản lý sử dụng hoá đơn tại Cục thuế Hà Tây 53

3.2.2 Tăng cường công tác kiểm tra chế độ kế toán doanh nghiệp 55

3.2.3 Qui định chặt chẽ về việc báo cáo tình hình sử dụng hoá đơn, thanh quyết toán hoá đơn của các tổ chức sử dụng hoá đơn 56

3.2.4 Hoàn thiện hơn nữa công tác xác minh hoá đơn, dần tiến tới việc xác minh là hoàn toàn trên mạng 57

3.2.5 Tăng cường công tác phối kết hợp giữa cơ quan thuế với cơ quan chức năng khác 58

3.2.6 Hiện đại hoá chế độ thanh toán giữa các đơn vị 60

3.2.7 Tăng cường công tác tuyên truyền giáo dục, hỗ trợ các đối tượng nộp thuế 61

3.3. Một số kiến nghị đối với cơ quan chức năng của Nhà nước 62

3.3.1. Đối với luật doanh nghiệp 62

3.3.2 Đối với luật hình sự 64

3.3.3 Đối với các văn bản pháp luật của Bộ Tài chính 65

KẾT LUẬN 67

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 69

 

 

docChia sẻ: oanh_nt | Ngày: 03/07/2013 | Lượt xem: 7268 | Lượt tải: 66download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Chuyên đề Quản lý sử dụng hoá đơn tại Cục thuế Hà Tây, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
, quyết toán thuế kịp thời, nhất là tăng cường các biện pháp quản lý khai thác các nguồn thu từ khu vực kinh tế ngoài quốc doanh, một thành phần kinh tế rất lớn và đang dần chiếm một vị trí khá quan trọng trong nền kinh tế không chỉ của tỉnh Hà Tây, mà còn đối với nền kinh tế của cả nước. Thông qua kết quả thu đã đạt được của Cục thuế Hà Tây trong năm năm vừa qua, ta nhận thấy rằng, bắt đầu từ năm 2004 số thu đã đạt vượt bậc, đây cũng là năm hoàn thành toàn diện các chỉ tiêu thu và cũng là năm đầu tiên có 16/16 đơn vị trực tiếp thu liên tiếp hoàn thành dự toán kể từ năm 1993 đến nay. Bên cạnh đó ta cũng nhận thầy rằng số thu ngân sách của năm 2005 đã tăng 32% so với số thu năm 2004, đây thực sự là một thành công trong công tác thu của toàn ngành thuế tỉnh Hà Tây. Việc hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao của ngành thuế Tỉnh Hà Tây, đã chứng tỏ rằng qui trình quản lý thu thuế của ngành thuế Hà Tây thực sự đạt hiệu qủa. Ngành thuế Hà Tây chủ chương khai thác tất cả các nguồn thu trong toàn tỉnh, bên cạnh đó cũng không lơ là trong việc nuôi dưỡng các nguồn thu. Hàng loạt các biện pháp được áp dụng trong công tác quản lý thu nhằm tối đa hóa số thu, đồng thời tạo điều kiện tốt nhất cho các đối tượng chịu thuế đã được ngành thuế Hà Tây đặc biệtchú ý. Hà Tây đã thực sự giải quyết các công việc theo hướng phục vụ tốt hơn cho người nộp thuế thông qua việc xây dựng đề án giải quyết công việc “một cửa”, sửa đổi, bổ sung những điểm mới như: tăng thêm đầu mối giải quyết công việc, bỏ một thủ tục không cần thiết trong khâu đăng ký mua hóa đơn, cấp mã số thuế, xác nhận số tiền thuế… rút ngắn thời gian giải quyết công việc cho các đốí tượng nộp thuế. Bên cạnh đó công tác tuyên truyền hỗ trợ đối tượng nộp thuế cũng được ngành thuế Hà Tây hết sức chú ý. Ngay sau khi bộ phận tuyên truyền và hỗ trợ đối tượng nộp thuế được đưa vào hoạt động đã tạo ra một chỗ dựa hết sức vững chắc cho các tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh trên địa bàn. Qua đó những hành vi vi phạm không đáng có của đối tượng nộp thuế do thiếu thông tin, đã dần được loại bỏ, tinh thần tự giác trong nghĩa vụ nộp thuế ngày càng được nâng cao. Việc phối hợp với các cơ quan tuyên truyền của tỉnh như: Báo Hà Tây, Đài PTTH Hà Tây, Ban tuyên giáo tỉnh ủy… đã được ngành thuế cực kỳ chú trọng, Song song với những biện pháp trên, thì ngành thuế Hà Tây cũng đã chú trọng áp dụng công nghệ thông tin vào trong việc quản lý thu thuế và cũng đạt hiệu quả khá khả quan trong công tác thu. Nhiệm vụ công tác thu năm 2006 đã được Bộ Tài Chính giao là 1.470 tỷ đồng, tăng 39% so với dự toàn năm 2005. HĐND, UBND cũng đã giao cho ngành thuế Hà Tây 1650 tỷ đồng, tăng 27% so với số thu thực hiện được năm 2005 đồng thời tăng 13% so với dự toán của Bộ Tài Chính giao, Trong đó riêng khu vực sản xuất kinh doanh (bao gồm các doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp ngoài quốc doanh) có mức tăng trưởng thu từ 18 đến 42%. Cục thuế giao nhiệm cụ cho toàn ngành thuế phấn đấu đạt được tổng số thu là 1.700 tỷ đồng, trong đó thu thuế ngoài quốc doanh là 185 tỷ đồng. Có thể nói rằng đây là một nhiệm vụ khá khó khăn của toàn ngành thuế Hà Tây và để thực sự có thể đạt được một kết quả khả quan, ngành thuế Hà Tây đã đặt ra những kế hoặch cụ thể như phấn đấu ngay từ những tháng đầu năm để có thể ổn định được số thu, nâng cao hiệu lực hoạt động của bộ máy tổ chức và cán bộ ngành thuế, thực hiện tốt chương trình cải cách hiện đại hóa ngành thuế, làm tốt công tác thanh tra, kiểm tra thuế, phát triển ứng dụng khoa học công nghệ và công tác quản lý thu và tiếp tục phát huy truyền thống đoàn kết nội bộ. 2.3 Thực trạng công tác quản lý sử dụng hóa đơn tại Cục thuế Hà Tây 2.3.1 Thực trạng công tác quản lý đối tượng sử dụng hóa đơn Hà Tây là một tỉnh có nền kinh tế thuần nông, chưa phát triển, người dân ở đây chủ yếu sống bằng nghề làm ruộng và những nghề thủ công nằm rải rác ở khắp các huyện của tỉnh Hà Tây. Cùng với sự đổi mới của đất nước, nền kinh tế Hà Tây cũng dần khởi sắc, các thành phần kinh tế đang dần được rộng mở, bên cạnh các chính sách khuyến khích đầu tư của nhà nước, sự dễ dàng và thông thoáng của luật doanh nghiệp đã làm cho việc hình thành nên các công ty ngoài quốc doanh ngày càng trở nên dễ dàng, điều này làm cho các đối tượng sử dụng hóa đơn trên địa bàn cả nước nói chung và của địa bàn tỉnh Hà Tây nói riêng ngày càng tăng cao, điều này thể hiện qua các con số như sau: Bảng 02: Tình hình đối tượng sử dụng hoá đơn trên địa bàn tỉnh Hà Tây Đơn vị: Số đối tượng Loại hình đối tượng Năm 2003 Năm 2004 Năm 2005 - Doanh nghiệp nhà nước Trong đó: VP Cục trực tiếp quản lý 278 180 278 175 278 175 - Doanh nghiệp ngoài quốc doanh Trong đó: VP Cục trực tiếp quản lý 1588 96 1985 135 2.495 142 - Doanh nghiệp có vốn ĐTNN 36 41 42 - Hộ kinh doanh cá thể 87 123 175 Tổng cộng 1.989 2.407 2.970 (Nguồn: Báo cáo tổng kết năm của Cục thuế Hà Tây) Từ bảng tổng kết trên ta nhân thấy số lượng doanh nghiệp ngoài quốc doanh tăng lên một cách đáng kể, năm 2004 tăng 25% so với năm 2003, năm 2005 tăng 25,6% so với năm 2004. Thực tế này buộc Cục thuế tỉnh Hà Tây phải đặt ra những kế hoạch, những biện pháp thật thích hợp như: tranh thủ sự giúp đỡ của các cơ quan cấp trên, tăng cường phối kết hợp với các cơ quan chức năng cùng cấp như: cơ quan công an, cơ quan quản lý thị trường, kho bạc nhà nước…để có thể quản lý tốt những đối tượng nộp thuế có sử dụng hóa đơn, đặc biệt đối với những doanh nghiệp mới đi vào hoạt động. 2.3.2 Thực trạng của công tác cấp bán hóa đơn Quản lý thu nói chung và quản lý hóa đơn nói riêng, đều phải chú ý tới việc số lượng hóa đơn của đối tượng nộp thuế được phép sử dụng là bao nhiêu? Trong cả quá trình quản lý hóa đơn nói chung, công tác cấp bán hóa đơn là khâu đầu tiên và là khâu then chốt, là cơ sở chính cho việc quản lý đối tượng sử dụng hóa đơn. Chính bởi lý do quan trọng của công tác cấp bán hóa đơn là như vậy nên trong quá trình quản lý sử dụng hóa đơn, ngành thuế phải thật chú trọng tới khâu này. Việc quản lý khâu bán hóa đơn không chỉ đơn thuần là quản lý việc xuất hóa đơn ra, quản lý thu nhập từ việc bán hóa đơn mà điều quan trọng nhất đó chính là làm thế nào để tính được chính xác lượng hóa đơn nhập vào, số lượng hóa đơn xuất cho các đơn vị là thích hợp nhất để trách những tình trạng sử dụng hóa đơn sai mục đích của đối tượng sử dụng hóa đơn. Đối với Cục thuế tỉnh Hà Tây, công tác cấp bán hóa đơn đã được rất chú trọng, lượng hóa đơn nhập về và cấp ra nhìn chung đã đáp ứng được nhu cầu sử dụng của các đối tượng sản xuất kinh doanh. Thông qua số liệu được thống kế dưới đây, ta cũng phần nào thầy được công tác quản lý việc cấp bán của Cục thuế tỉnh Hà Tây. Bảng 03: Tình hình nhập và xuất bán hóa đơn tại Cục thuế Hà Tây Đơn vị: Số hóa đơn Loại hóa đơn Năm 2003 Năm 2004 Năm 2005 Tồn đầu kỳ Nhập trong kỳ Cấp bán trong kỳ Tồn đầu kỳ Nhập trong kỳ Cấp trong kỳ Tồn đầu kỳ Nhập trong kỳ Cấp trong kỳ HĐ01- GTKT 8.500 1.135.000 1.129.500 14.000 1.175.000 1.168.200 20.800 1.250.000 1.200.000 HĐ02- GTTT 5.000 125.000 117.850 12.500 177.000 160.000 29.150 230.000 245.000 Loại khác 2.500 75.000 69.000 8.500 93.750 98.000 4.250 117.000 115.000 Tổng số 16.000 1.335.000 1.316.350 34.650 1.445.750 1.426.200 54.200 1.597.000 1.560.000 (Nguồn: Báo cáo tình hình sử dụng ấn chỉ của Cục thuế Hà Tây) Nhìn vào bàng tổng kết số lượng hóa đơn đã được cấp bán trong các năm, ta nhận thấy rằng số lượng hóa đơn được sử dụng trên địa bàn tỉnh Hà Tây ngày càng ra tăng. Loại hóa đơn GTGT 3 liên (01- GTKT) đã được sử dụng ngày càng tăng, tỷ lệ sử dụng năm 2005 tăng 1,06 lần so với năm 2003, và tăng 1,03 lần so với năm 2004. Cũng tương tự như vậy, loại hóa đơn bán hàng thông thường sử dụng cho những đơn vị tính thuế theo phương pháp trực tiếp (HĐ02- GTTT) cũng đã tăng lên đáng kể, tỷ lệ sử dụng năm 2005 tăng lên 2,08 lần so với năm 2003 và tăng lên 1,53 lần so với năm 2004. Có thể nói rằng việc tăng lượng hóa đơn được sử dụng lên trong nền kinh tế càng chứng tỏ rằng số số lượng cũng như chất lượng các đơn vị thuộc diện chịu thuế đã ngày càng ra tăng, điều này thực sự là có lợi cho nền kinh tế của tỉnh Hà Tây nói riêng và nền kinh tế của cả nước nói chung. Việc nhập và cấp bán hóa đơn của Cục thuế Hà Tây trong những năm vừa qua đã thực sự có những thay đổi, số lượng hóa đơn được bán ra ngày càng tăng lên đó là do chính sách khuyến khích đầu tư của Đảng và Nhà nước, cùng với sự thông thoáng của Luật Doanh nghiệp đã tạo điều kiện rất tốt cho thành phần kinh tế tư nhân- kinh tế ngoài quốc doanh phát triển. Tuy nhiên cũng chính bởi sự thông thoáng ấy mà đã có không ít những doanh nghiệp lập ra mà chúng ta đặt cho nó cái tên “ Doanh nghiệp ma”, mục đích chính của các doanh nghiệp này là mua bán, sử dụng hóa đơn bất hợp pháp, gây thất thu lớn cho NSNN. Chính bởi điều này nên đã gây rất nhiều khó khăn cho công tác quản lý thu thuế của cơ quan thuế và công tác quản lý hóa đơn của bộ phận quản lý ấn chỉ. Việc quản lý công tác cấp bán hóa đơn làm sao để đáp ứng đầy đủ cho nhu cầu sử dụng hóa đơn trong nền kinh tế, đòi hỏi các cán bộ của ngành thuế nói chung và cán bộ ấn chỉ thuế nói riêng phải thực sự cố gắng nỗ lực trong công tác quản lý đối tượng chịu thuế, công tác lập kế hoạch nhập hóa đơn chứng từ từ Tổng Cục thuế. Ta có thể thông qua những căn cứ sau để có thể làm tốt công tác nhập hóa đơn: Căn cứ thứ nhất: Từ những số liệu thống kê từ những kỳ trước, phòng quản lý ấn chỉ sẽ căn cứ và tình hình sử dụng hóa đơn của các doanh nghiệp, từ đó ước định số lượng hóa đơn các doanh nghiệp có thể sử dụng trong năm. Căn cứ thứ hai: Hoàn toàn có thể dựa vào dự đoán về tốc độ tăng trưởng kinh tế trên địa bàn tỉnh, tốc độ tăng trưởng trong từng ngành nghề, từng lĩnh vực và cơ cấu vốn của từng loại hình sản xuất kinh doanh, qua đó có thể dự đoán được nhu cầu sử dụng hóa đơn trong năm. Việc làm tốt công tác lập kế hoạch cho việc nhập hóa đơn sẽ giúp cho khâu bán hóa đơn luôn thuận lợi, đáp ứng nhanh chóng và đầy đủ hóa đơn cho các đối tượng có nhu cầu sử dụng. Bên cạnh đó nó cũng giúp các Cục thuế có thể giải quyết nhanh chóng vấn đề thanh toán giữa Cục thuế với Tổng Cục thuế, giảm thiểu tối đa số nợ cuối kỳ do việc nhập quá nhiều hóa đơn. Riêng đối với loại hóa đơn tự in, Cục thuế Hà Tây đang quản lý 45 đối tượng hầu hết đều là những doanh nghiệp lớn và có số lượng hóa đơn được sử dụng nhiều. Ta cũng có thể thể hịên điều này thông qua bảng số liệu sau: Bảng 04: Tình hình sử dụng hóa đơn tự in Đơn vị: Số hóa đơn Loại hóa đơn Năm 2003 Năm 2004 Năm 2005 HĐ01-GTKT 727.240 912.170 1.006.210 HĐ02- GTTT 90.500 120.000 200.000 (Nguồn: Báo cáo tình hình sử dụng hoá đơn Cục thuế Hà Tây) Thông qua bảng số liệu trên ta có thể nhận thấy rằng, số lượng hóa đơn tự in đã tăng dần theo từng năm. Sở dĩ số lượng hóa đơn tự in là khá lớn, là bởi vì hầu hết các doanh nghiệp khi đăng ký tự in hóa đơn đều phải đảm bảo được các điều kiện như: tình hình sản xuất kinh doanh phải ổn định, có sự tăng trưởng mạnh trong nhiều năm, số lượng hóa đơn phải sử dụng đủ lớn trong tháng, đồng thời phải thực hiện tốt nghĩa vụ nộp thuế đối với Nhà nước. Nhìn chung thông qua những số liệu đã được đưa ra ta nhận thấy rằng việc cấp bán hóa đơn tại Cục thuế Hà Tây cũng đang được thực hiện một cách tích cực nhất, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho đối tượng nộp thuế cũng như là cơ quan thực hiện nghĩa vụ thu thuế cho nhà nước, đồng thời cũng được thực hịên theo đúng những qui định về chế độ quản lý và sử dụng hóa đơn, Tuy nhiên do số lượng hóa đơn được sử dụng là rất lớn, số lượng đơn vị sử dụng hóa đơn cũng ngày càng lớn dần lên, bên cạnh đó số lượng cán bộ của phòng quản lý ấn chỉ lại có hạn, các chương trình quản lý ấn chỉ thông qua mạng máy tính mới được đưa vào áp dụng, nó vẫn còn đang trong giai đoạn thử nghiệm, chính bởi như vậy nên công việc quản lý vẫn mang tính chất thủ công, kém hiệu quả. Với khối lượng công việc lớn như vậy, đòi hỏi trong thời gian tới Cục thuế Hà Tây phải tích cực phối hợp với Tổng cục thuế để hoàn thành chương trình quản lý ấn chỉ trên mạng máy tính, đồng thời tăng cường công tác sắp xếp cán bộ cho phù hợp vói công việc. 2.3.3 Thực trạng công tác quản lý sử dụng hóa đơn Sau khi cấp bán cho hóa đơn cho các đối tượng sử dụng, cơ quan thuế vẫn phải thực hịên công tác quản lý việc sử dụng hóa đơn của đơn vị sử dụng, ngoài việc thực hiện kiểm tra các đơn vị sử dụng hóa đơn về việc lập hóa đơn, chứng từ theo đúng qui định của pháp luật, song song với nó cũng phải kiểm tra tình hình sử dụng hóa đơn thông qua các bảng kê bán ra và mua vào của từng doanh nghiệp. Việc tăng cường công tác kiểm tra quá trình sử dụng hóa đơn của cơ quan thuế không những làm cho công tác lập kế hoạch nhập, xuất hóa đơn đạt hiệu quả mà còn giúp cho công tác thu thuế đạt đến sự chính xác và đầy đủ. Chính bởi tính quan trọng của công tác quản lý việc sừ dụng hóa đơn mà ngành thuế đã thực sự chú trọng tới công tác này, bởi việc sử dụng hóa đơn không đúng mục đích của các đối tượng chịu thuế chính là nguồn gốc của rất nhiều các hành vì vi phạm pháp luật, gây thất thu lớn cho NSNN, Cục thuế Hà Tây cũng đã đặc biệt chú trọng tới công tác quản lý này. Riêng trong năm 2004 Cục thuế Hà Tây đã lập biên bản 90 trường hợp vi phạm chế độ quyết toán hóa đơn, ra quyết định xử phạt 84 đơn vị với số tiền thu nộp vào NSNN là 70 triệu đồng, xử phạt 12 đơn vị vi phạm chế độ sử dụng hóa đơn, chứng từ, truy thu đến 751 triệu đồng cho NSNN. Trong năm 2005 số lượng các doanh nghiệp vi phạm pháp luật về sử dụng hóa đơn có giảm đi, nhưng Cục thuế Hà Tây cũng đã phải ra quyết định xử phạt tới 65 doanh nghiệp vì đã vi phạm chế độ xử dụng hóa đơn chứng từ, thu nộp cho NSNN trên 600 triệu đồng. Việc thông qua công tác kế toán ấn chỉ để quản lý ấn chỉ, đối với Cục thuế Hà Tây đã phần nào đáp ứng được nội dung của công việc quản lý sử dụng hóa đơn đòi hỏi. Bộ phận quản lý ấn chỉ đã thực hiện mở sổ sách kế toán ấn chỉ theo đúng qui định của Nhà nước, các loại sổ bao gồm: Sổ lĩnh thanh toán tiền và ấn chỉ (ST-10) Sổ theo dõi ấn chỉ bán lấy tiền (ST- 11) Sổ theo dõi tình hình ấn chỉ (ST- 12) Sổ theo dõi các tỏ chức, cá nhân mua hóa đơn (ST- 23) Sổ theo dõi mất và xử lý mất hóa đơn (ST- 24) Sổ theo dõi các tổ chức, cá nhân đăng ký sử dụng hóa đơn tự in (ST- 25, ST-27) Hàng tháng phải tổ chức tổng kết, quyết toán, đánh giá lại việc sử dụng hóa đơn của các đơn vị mà mình quản lý, đồng thời lập báo cáo lên Tổng cục thuế, qua đó phát hiện kịp thời những hành vi vi phạm của các tổ chức, các cá nhân sử dụng hóa đơn, đồng thời tạo điều kiện cho việc ra quyết định xử phạt một cách nhanh chóng và chính xác nhất. Kế toán ấn chỉ sẽ căn cứ vào những báo cáo của các đơn vị sử dụng hóa đơn, các Chi cục thuế trực thuộc để tổng hợp nên bảng tổng kết tình hình sử dụng hóa đơn cho từng quí và hàng năm. Số liệu thống kê được tại Cục thuế Hà Tây cho ta thấy được tình hình sử dụng hóa đơn tại Cục thuế Hà Tây như sau: Bảng báo cáo tình hình sử dụng hóa đơn tại các đơn vị sản xuất kinh doanh do Cục thuế Hà Tây quản lý: Bảng 05: Tình hình sử dụng hoá đơn của các đơn vị kinh doanh trên địa bàn tỉnh Hà Tây Đơn vị: Số hóa đơn Loại hóa đơn Năm 2003 Năm 2004 Năm 2005 Số sử dụng Số xóa bỏ Số sử dụng Số xóa bỏ Số sử dụng Số xóa bỏ HĐ01- GTKT 1.856.740 750 2.080.370 860 2.178.257 760 HĐ02- GTTT 208.350 350 280.000 325 445.000 318 Loại khác 69.000 425 98.000 350 115.000 255 (Nguồn: Báo cáo tình hình sử dụng hoá đơn Cục thuế Hà Tây) Nhìn vào bảng số liệu trên ta nhận thấy rằng số lượng hóa đơn đã được sử dụng đã tăng lên đáng kể, đối với loại HĐ 01 – GTKT năm 2005 tăng 1,17 lần so với năm 2003 và tăng 1,04 lần so với năm 2004, đối với loại HĐ 02 – GTTT năm 2005 tăng 2.13 lần so với năm 2003 và tăng 1,59 lần so với năm 2004, bên cạnh đó số lượng những loại ấn chỉ khác cũng tăng lên đáng kể về số lượng sử dụng. Số lượng hoá đơn bị xoá bỏ cũng đã giảm đi khá nhiều do sự nhận thức được tầm quan trọng của công tác sử dụng hoá đơn. 2.3.4 Thực trạng công tác xử lý các vi phạm trong sử dụng hóa đơn. Trong toàn bộ quá trình của công tác quản lý hóa đơn thì khâu tổ chức quản lý sử dụng hóa đơn là quan trọng nhất, tuy nhiên việc phát hiện ra những hành vi vi phạm pháp luật của các tổ chức, cá nhân mà không được xử lý một cách kịp thời, nhanh chóng và chính xác thì việc quản lý quá trình sử dụng hóa đơn hoàn toàn là vô nghĩa. Việc chú trọng tới công tác xử lý những đối tượng vi phạm vừa có tác dụng ngăn chặn, dăn đe các đối tượng, đồng thời có thể thu hồi lại được tiền thuế vi phạm của các đối tượng cho NSNN. Chính bởi vậy nên công tác xử lý vi phạm hóa đơn cũng được Cục thuế Hà Tây khá chú trọng. Ngay sau khi hai luật thuế GTGT và thuế TNDN được chính thức áp dụng, nó đã mang lại thuận lợi cho cả đối tượng nộp thuế cũng như cơ quan thu thuế, số thuế thu được cho NSNN ngày càng tăng nhanh. Hai luật thuê mới này đã thực sự tạo điều kiện cho các doanh nghiệp hoạt động một cách thuận lợi nhất; Luật thuế TNDN với 14 khoản mục chi phí được qui định một cách rõ ràng, cùng với thuế suất đã giảm so với thuế suất lợi tức trước đây đã làm cho việc tính thu nhập chịu thuế của doanh nghiệp thực sự dễ dàng; Luật thuế GTGT, là một lọai thuế gián thu và thực sự rất khuyến khích được những người sản xuất kinh doanh, vì chính sách hoàn thuế đã giúp tăng cường sản xuất, khuyến khích xuất khẩu. Trong giai đoạn hiện nay, khi nền kinh tế đang trong giai đoạn phát triển và hội nhập, chủ trương phát triển một nền kinh tế đa thành phần cũng đã làm cho đối tượng chịu thuế tăng lên đáng kể, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế quốc doanh, doanh ngiệp ngoài quốc doanh đã đóng một vai trò quan trọng trong sự phát triển nền kinh tế đất nước. Với thành tích đó không thể phủ nhận vai trò của cơ chế, chính sách ngày càng được cởi mở, kịp thời thay đổi phù hợp với thực tế, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp phát huy nội lực nâng cao sức cạnh tranh. Tuy nhiên từ cuối năm 2003 đến nay, lợi dụng sự thông thoáng của luật Doanh ngiệp, các qui định của cơ quan quản lý cấp giấy phép đăng ký kinh doanh chưa chặt chẽ thì tình trạng thành lập doanh nghiệp, nhưng không nhằm mục đích sản xuất kinh doanh mà để mua bán hoá đơn, tiếp tay cho bọn tội phạm trốn thuế và chiếm đoạt tiền thuế của Nhà nước đã thực sự gia tăng. Các doanh ngiệp sự dụng hoá đơn bất hợp pháp để hợp thức hoá đầu vào đã và đang diễn ra dưới nhiều hình thức, hơn nữa còn tạo điều kiện cho các hành vi buôn lậu, tham nhũng có điều kiện phát triển, không những gây thất thu cho Ngân sách Nhà nước mà còn tạo nên rất nhiều những khó khăn, phức tạp cho công tác quản lý nhà nước về tài chính nói chung và quản lý ấn chỉ thuế nói riêng. Bên cạnh đó ý thức bảo quản, lưu giữ hoá đơn tại các đơn vị đôi khi không được chú trọng nhiều, tình trạng hỏng, rách, mất hóa đơn vẫn thường xuyên xảy ra, điều này cũng gây không ít khó khăn cho cơ quan quản lý. Để xử lý các trường hợp như đã nêu trên, Cục thuế Hà Tây cũng giống như tất cả các cơ quan thuế khác trên cả nước đều tổ chức công tác quản lý thật sát sao đối với các đối tượng. Việc theo dõi tình hình thành lập, tổ chức sản xuất kinh doanh của các đối tượng đã đặc biệt được chú ý nhiều hơn, các thông tin về các đối tượng có hành vi trốn thuế, tạm ngừng hoặc ngừng hoạt động, bỏ trốn… đã được cung cấp một cách thường xuyên nhất và nhanh nhất. Riêng đối với những doanh ngiệp có thông báo về mất hoá đơn, Cục thuế Hà Tây, mà trực tiếp là phòng quản lý ấn chỉ sẽ thực hiện ra thông báo tới Tổng cục thuế và các Cục thuế trong cả nước về loại hoá đơn, số hoá đơn, ký hiệu hoá đơn… đã bị mất, đồng thời vào sổ theo dõi mất hoá đơn. Sau thời gian 10 ngày nếu đơn vị không tìm thấy số hoá đơn đã bị mất, Cục thuế sẽ xử lý vi phạm hành chính đối với hành vi làm mất hoá đơn. Việc thông báo về số hoá đơn đã bị mất trên phạm vi toàn quốc cũng đồng nghĩa với việc khẳng định tính phi giá trị sử dụng của số hoá đơn đó, điều này làm cho ý đồ sử dụng hoá đơn trái phép của các đối tượng sẽ gặp nhiều khó khăn hơn. Tuy nhiên, do hình thức tổ chức quản lý của ngành thuế trong giai đoạn hiện nay chưa thực sự được hiện đại hoá, do vậy hầu hết các thông báo được thực hiện theo đường công văn là chủ yếu, do đó tính cập nhật là chưa cao, điều đó là một trong những bất cập lớn trong công tác quản lý thu thuế ở nước ta nói chung và tại Cục thuế Hà Tây nói riêng trong giai đoạn hiện nay. Việc tuyền truyền cho các đối tượng chịu thuế hiểu tính quan trọng của công tác bảo quản, lưu giữ và sử dụng hoá đơn là như thế nào đã được phòng quản lý ấn chỉ, phòng tuyên truyền thực hiện rất tốt, có lẽ bởi lý do đó mà con số thể hiện số đối tượng báo mất hoá đơn đã ngày càng giảm xuống, ta có thể thấy được rõ hơn thông qua bảng số liệu sau: Bảng 06: Tình hình xử lý tổn thất hoá đơn tại Cục thuế Hà Tây Đơn vị: Số hoá đơn Năm Số đơn vị báo mất hoá đơn Số lượng hoá đơn đã báo mất Số lượng hoá đơn đã xử lý Số tiền đã xử phạt hành chính (đồng) 2003 45 213 175 45.256.000 2004 41 186 156 41.027.000 2005 34 152 139 38.725.000 (Nguồn: Báo cáo tình hình sử dụng ấn chỉ thuế Cục thuế Hà Tây) Ta nhận thấy rằng, số lượng đơn vị báo mất hoá đơn đã thực sự giảm xuống một cách đáng kể, năm 2005 đã giảm được 30% so với năm 2003, đồng thời với việc giảm được số đơn vị đánh mất hoá đơn, thì số lượng hoá đơn được xử lý cũng thực sự tăng lên, nếu như năm 2003 chỉ xử lý được 82% số hoá đơn đã báo mất, thì năm 2005 đã xử lý được 91% số hoá đơn đã báo mất, thu được cho NSNN hàng chục triệu đồng. Có được những thành tích như trên là phụ thuộc vào sự cố gắng nỗ lực rất lớn của toàn Cục thuế Hà Tây nói chung và của các cán bộ phòng quản lý ấn chỉ nói riêng. Đồng thời với việc xử lý những hóa đơn đã bị mất, Cục thuế Hà Tây cũng đã tiến hành việc xử phạt đối với các đối tượng tự in hoá đơn không chấp hành các qui định về việc đăng ký và tổ chức in hoá đơn như: Chi cục đăng kiểm Hà Sơn Bình sử dụng hoá đơn tự in không có đăng ký với cơ quan thuế nên đã bị xử phạt 2.000.00 đồng, Công ty TNHH bia Hà Tây cũng bị xử phạt về việ tự ý sử dụng hóa đơn tự in không có đăng ký với số tiền lên tới 4.500.000 đồng… Mặc dù còn không ít những khó khăn trong công tác quản lý ấn chỉ thuế, nhưng phòng quản lý ấn chỉ tại Cục thuế Hà Tây đã thực sự cỗ gắng, nâng cao tinh thần trách nhiệm để có thể đạt được những kết quả như đã nêu ra. 2.3.5 Thực trạng công tác xác minh hóa đơn Xác minh hoá đơn là một khâu rất quan trọng, quyết định đến số tiền thuế được khấu trừ, được hoàn trả đối với từng doanh nghiệp, từ đó ảnh hưởng tới số thu NSNN. Trong thời gian vừa qua, công tác xác minh, đối chiếu hoá đơn đã được Cục thuế Hà Tây rất quan tâm và thực hiện tốt. Nhiều vụ vi phạm về sử dụng hoá đơn nhằm chiếm đoạt tiền thuế đã được phát hiện và xử lý kịp thời. Một số hành vi vi phạm trong sử dụng hoá đơn đã được phát hiện thông qua công tác xác minh hoá đơn như: Sử dụng hoá đơn đã có thông báo mất, dùng hoá đơn đã thông báo mất để bán hàng hoá, ghi khống doanh số và tiền thuế, bán hoá đơn cho các đơn vị khác sử dụng… Cũng chính bởi những cố gắng, nỗ lực trong việc phát hiện kịp thời những hành vi vi phạm về sử dụng hoá đơn đó của cán bộ thuế, mà những kết quả đã đạt được trong công tác xác minh hoá đơn là rất khả quan, điều đó thể hiện qua bảng tổng kết sau: Bảng 07: Bảng tổng kết tình hình xác minh hoá đơn thông qua các năm tại Cục thuế Hà Tây Phần gửi đi xác minh Đơn vị: Số hoá đơn Năm Gửi đi xác minh Kết quả xác minh Xử lý xác minh SL phiếu XM gửi đi SL HĐ cần XM SL phiếu đã XM SL HĐ đã XM CL tiền bán hàng (đ) CL thuế GTGT (đ) Truy thu thuế (đ) Phạt HC (đ) Tổng cộng (đ) Đã nộp NSNN (đ) 2004 501 1.259 364 832 46.230.000 23.035.000 27.036.000 12.033.000 55.071.000 55.071.000 2005 243 682 198 512 98.056.000 86.325.000 84.035.000 14.002.000 98.037.000 98.037.000 (Nguồn: Báo cáo tổng năm Cục thuế HÀ TÂY) Phần nhận xác minh Năm Gửi đi xác minh Kết quả xác minh Xử lý xác minh SL phiếu XM gửi đi SL HĐ cần XM SL phiếu đã XM SL HĐ đã XM CL tiền bán hàng (đ) CL thuế GTGT (đ) Truy thu thuế (đ) Phạt HC (đ) Tổng cộng (đ) Đã nộp NSNN (đ) 2004 1.453 5.567 1.357 4.420 82.920.000 33.429.752 44.287.302 39.477.154 83.754.456 83.754.456 2005 1.632 6.141 1.063 3.986 50.502.542 19.038.00 28.683.000 12.000.000 40.683.000 40.683.000 (Nguồn: Báo cáo tổng năm Cục thuế HÀ TÂY) Chính nhờ sự cố gắng nỗ lực của cán bộ phòng quản lý ấn chỉ, mà công tác xác minh hoá đơn, chứng từ thuế đã đạt được những kết quả đáng mừng như trên, mặc dù công tác xác minh hiện nay vẫn là công việc được tiến hành một cách thủ công nhất, hầu hết các phiếu yêu cầu xác minh đều được gửi đi bằng đường công văn, công tác kiểm tra đối chiếu giữa các liên hoá đơn cũng được thực hiện chủ yếu thông qua các cán bộ của cơ quan thuế, do vậy công tác xác minh hoá đơn tại Cục thuế tỉnh Hà Tây cũng không tránh khỏi những điều còn bất cập như: Việc phân công thực hiện xác minh hoá đơn giữa Cục thuế và các Chi cục thuế liên quan tới việc

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docCD-CQ443044 Quan ly su dung hoa don tai Cuc thue Ha Tay.doc
Tài liệu liên quan