Chuyên đề Tăng cường huy động vốn tại Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Hà Nội

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HUY ĐỘNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 3

1.1. Khái quát về nguồn vốn của Ngân hàng thương mại 3

1.1.1. Vốn chủ sở hữu 3

1.1.1.1. Nguồn vốn hình thành ban đầu 4

1.1.1.2. Nguồn vốn bổ sung trong quá trình hoạt động 4

1.1.1.3. Các quỹ 4

1.1.1.4. Nguồn vay nợ có thể chuyển đổi thành cổ phần 5

1.1.2. Vốn nợ 5

1.1.2.1. Nguồn tiền gửi 5

1.1.2.2. Nguồn đi vay 6

1.1.2.3. Các nguồn khác 7

1.2. Hoạt động huy động vốn của NHTM 7

1.2.1. Sự cần thiết phải huy động vốn của NHTM 7

1.2.1.1. Vốn huy động là cơ sở tài chính trong mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của NHTM 7

1.2.1.2. Vốn huy động quyết định quy mô tín dụng và các hoạt động khác 8

1.2.1.3. Vốn quyết định khả năng thanh toán và bảo đảm uy tín của ngân hàng trên thị trường tài chính 8

1.2.1.4. Vốn quyết định năng lực cạnh tranh của ngân hàng 9

1.2.2 Các hình thức huy động vốn của NHTM 10

1.2.2.1 Phân loại theo đối tượng huy động 10

1.2.2.2 Phân loại theo phương thức huy động 12

1.2.2.3 Phân loại theo thời gian huy động 14

1.2.2.4 Phân theo loại tiền huy động 15

1.2.3 Hiệu quả huy động vốn và các tiêu chí đánh giá 15

1.2.3.1 Hiệu quả huy động vốn 15

1.2.3.2 Các chỉ tiêu đánh giá 17

1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến huy động vốn của ngân hàng 19

1.3.1. Nhóm nhân tố khách quan 19

1.3.1.1. Môi trường kinh tế - xã hội 19

1.3.1.2. Môi trường chính trị, pháp luật 20

1.3.2.3. Khách hàng 21

1.3.1.4. Đối thủ cạnh tranh của ngân hàng 21

1.3.2 Nhóm nhân tố chủ quan 22

1.3.2.1. Chiến lược kinh doanh của ngân hàng 22

1.3.2.2 Uy tín của ngân hàng 22

1.3.2.3 Lãi suất huy động vốn 23

1.3.2.4 Các hình thức huy động vốn 23

1.3.2.5 Mạng lưới 23

1.3.2.6 Trình độ và thái độ phục vụ của cán bộ ngân hàng 24

1.3.2.7 Trình độ công nghệ ngân hàng 24

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG HUY ĐỘNG VỐN TẠI

CHI NHÁNH NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ

PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN HÀ NỘI 26

2.1. Khái quát về chi nhánh NHNo&PTNT Hà Nội 26

2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển 26

2.1.2. Cơ cấu tổ chức 28

2.1.3. Thực trạng hoạt động kinh doanh của NH 30

2.1.3.1. Hoạt động huy động vốn 30

2.1.3.2. Hoạt động tín dụng 32

2.1.3.3. Hoạt động Kinh doanh đối ngoại 34

2.1.3.4. Về tài chính thanh toán – Ngân quỹ và dịch vụ 35

2.1.3.5. Kết quả kinh doanh 38

2.2. Thực trạng huy động vốn tại chi nhánh NHNo&PTNT Hà Nội 39

2.2.1. Quy mô và tốc độ tăng trưởng nguồn vốn huy động 40

2.2.2. Cơ cấu vốn của Chi nhánh 41

2.2.2.1. Cơ cấu vốn theo đối tượng 41

2.2.2.2. Cơ cấu vốn theo kỳ hạn 44

2.2.2.3. Cơ cấu vốn theo loại tiền 49

2.2.3. Các nghiệp vụ huy động vốn của Ngân hàng 51

2.2.3.1. Huy động tiền gửi 51

2.2.3.2. Tiền vay 52

2.2.4. Chi phí huy động vốn 54

2.2.4.1. Lãi suất huy động 54

2.2.4.2. Chi phí khác 55

2.3. Đánh giá hoạt động huy động vốn của NHNo&PTNT 55

2.3.1. Những kết quả đạt được 55

2.3.2. Hạn chế và nguyên nhân 58

2.3.2.1. Hạn chế 58

2.3.2.2. Nguyên nhân 59

CHƯƠNG III: GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM TĂNG CƯỜNG HUY ĐỘNG VỐN TẠI CHI NHÁNH NHNo&PTNT HÀ NỘI 63

3.1. Định hướng phát triển hoạt động huy động vốn tại NHNo&PTNT Hà Nội. 63

3.1.1. Định hướng phát triển chung của Ngân hàng 63

3.1.2. Định hướng phát triển hoạt động huy động vốn 65

3.2. Các giải pháp nhằm tăng cường hoạt động huy động vốn 66

3.2.1. Đa dạng hóa các hình thức huy động vốn 66

3.2.2. Sử dụng linh hoạt lãi suất huy động vốn 69

3.2.3. Mở rộng và nâng cao chất lượng các sản phẩm dịch vụ 70

3.2.4. Mở rộng mạng lưới kinh doanh và nâng cao chất lượng phục vụ 71

3.2.5. Nâng cao hiệu quả hoạt động cho vay 72

3.2.6. Áp dụng nhanh chóng và hiệu quả công nghệ Ngân hàng hiện đại 73

3.2.7. Tăng cường hoạt động Marketing ngân hàng 74

3.2.8. Nâng cao chất lượng nguồn lực và thái độ phục vụ 76

3.3 Kiến nghị 78

3.3.1 Đối với Chính phủ 78

3.3.2 Đối với Ngân hàng Nhà nước 80

3.3.3 Đối với NHNo&PTNT Việt Nam 81

KẾT LUẬN 84

 

 

doc91 trang | Chia sẻ: maiphuongdc | Ngày: 27/07/2014 | Lượt xem: 1812 | Lượt tải: 37download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Chuyên đề Tăng cường huy động vốn tại Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Hà Nội, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
HNo&PTNT Việt Nam về phát triển dịch vụ, sản phẩm. Các dịch vụ, sản phẩm được áp dụng triển khai kịp thời, có hiệu quả, rộng rãi tới các thành phần dân cư và phù hợp với từng đối tượng khách hàng. Ngoài các sản phẩm hiện có như: chuyển tiền nhanh, thu đổi ngoại tệ, dịch vụ thu chi tiền mặt tại doanh nghiệp, tại nhà khách hàng có số tiền gửi lớn, dịch vụ bảo lãnh dự thầu, thu chi hộ, thanh toán xuất nhập khẩu, thanh toán phi thương mại, dịch vụ Ngân quỹ, mua bán ngoại tệ, cầm cố chiết khấu bộ chứng từ, dịch vụ thanh toán biên mậu. NHNo&PTNT Hà Nội đã triển khai áp dụng kịp thời, có hiệu quả các dịch vụ sản phẩm mới như SMS Banking, Vn Topup, Thẻ tín dụng quốc tế, Thẻ ghi nợ quốc tế, giao dịch Thẻ ghi nợ nội địa qua thiết bị POS, kết nối khách hàng là các Tổng công ty, công ty… Ngoài ra, Chi nhánh còn chủ động kết nối thu tiền từ các đại lý của Công ty CP Rượu Hà Nội, và đang triển khai thu đại lý của MobiFone với trên 60 đại lý trên địa bàn Hà Nội và các đại lý của trên 10 tỉnh. Tính đến hết năm 2008 có trên 60.000 tài khoản cá nhân có số dư nợ trên 150 tỷ VNĐ, trong đó có 41.500 thẻ ghi nợ với số dư gần 100 tỷ đồng, doanh số hoạt động trên 50 tỷ với trên 250.000 món. Việc phát hành thẻ ghi nợ thực sự đem lại tiện lợi đối với nhân dân và hiệu quả kinh doanh cho NHNo Hà Nội. Chi nhánh cũng đã phát hành 380 thẻ tín dụng quốc tế trong năm này. Ngoài ra, Ngân hàng đã tiếp tục triển khai phương thức chi lương qua thẻ với tổng số 146 đơn vị ( trong đó, có 94 đơn vị hành chính sự nghiệp, 52 đơn vị kinh doanh) và trả lương hưu trí hầu hết các phường trên địa bàn Quận Hai Bà Trưng và nhiều cá nhân… Dịch vụ ngoại hối ngày càng ổn định và phát huy hiệu quả. Các dịch vụ chuyển tiền kiều hối, chuyển tiền nhanh WU, thanh toán séc thẻ, thu đổi ngoại tệ tiền mặt, đại lý thu đổi ngoại tệ đã được thực hiện nhanh chóng và chuẩn xác đem lại thuận lợi và hài lòng đối với khách hàng. Trong năm 2008, dịch vụ chuyển tiền kiều hối đạt gần 5 triệu USD, Western Union đạt gần 3 triệu USD, thanh toán thẻ và séc du lịch đạt gần 200 ngàn USD, đã góp phần làm tăng doanh thu từ dịch vụ của Ngân hàng. Dịch vụ thu đổi ngoại tệ với 30 đại lý thu đổi ngoại tệ mặt đạt doanh thu gần 10 triệu USD (Quy đổi các loại ngoại tệ ) tương đương với gần 170 tỷ VNĐ. Bên cạnh đó, Chi nhánh còn thực hiện thu đổi nhiều loại ngoại tệ khác như GBP, CHF, JPY, CAD, CNY, HKD, AUD, SGD, BATH nhưng số lượng còn hạn chế. 2.1.3.5. Kết quả kinh doanh Từ cuối năm 2007 và sau hai tháng đầu năm 2008, nền kinh tế Việt Nam đã phải đối mặt với nguy cơ lạm phát tăng cao. Thêm vào đó là sự ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng cho vay thế chấp nhà tại Mỹ lan rộng thành khủng khoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu tiếp tục đẩy tình trạng nợ xấu, vỡ nợ leo thang khiến số lượng ngân hàng ở Mỹ và ở nhiều nền kinh tế khác bị đóng cửa ngày càng tăng. Sự biến động về giá cả của các mặt hàng thiết yếu tăng như xăng dầu, giá vàng, tỷ giá ngoại tệ, nguyên vật liệu xây dựng. Lạm phát tăng mạnh, thâm hụt cán cân thương mại cũng đạt mức kỷ lục (hơn 14% GDP), đặc biệt những thăng trầm phức tạp của thị trường chứng khoán và thị trường bất động sản “ đóng băng” đã ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động tiền tệ và sản xuất kinh doanh của các thành phần kinh tế. Các ngân hàng gặp khó khăn về khả năng thanh khoản, tăng cường huy động vốn, và cuộc đua lãi suất bắt đầu. Tuy nhiên, các chính sách kinh tế của Nhà nước và cơ chế ngành Ngân hàng đã điều chỉnh kịp thời tạo điều kiện cho hệ thống ngành ngân hàng nói chung và NHNo Hà Nội nói riêng vượt qua được những khó khăn đó và đạt được kết quả kinh doanh toàn diện. Bảng 2.4: Kết quả tài chính của NHNo Hà Nội giai đoạn 2006- 2008 (Đơn vị: Tỷ đồng) Chỉ tiêu 2006 2007 2008 Tổng thu nhập 2553 2881,8 4240,6 Tổng chi 2377 2651,9 3971,5 Lợi nhuận trước thuế 176 229,9 269,1 ( Nguồn: Báo cáo tài chính NHNo&PTNT Hà Nội) Qua các năm hoạt động, tổng thu và tổng chi của Chi nhánh đều tăng qua các năm: tổng thu nhập năm 2007 tăng 12,9% so với năm 2006, năm 2008 tăng 47,1% so với năm 2007; Tổng chi năm 2007 tăng 11,6% so với năm 2006, năm 2008 tăng 49,8%. Điều này có thể nhận thấy rõ khi mà cả nguồn vốn huy động và dư nợ tín dụng của chi nhánh đều tăng qua các năm cùng với việc tăng nguồn thu từ các dịch vụ ngân hàng. Tuy nhiên, năm 2008 là năm có biến động bất thường về lãi suất. Đó là một thời gian dài từ quý 2 đến đầu quý 3, khi mà dưới ảnh hưởng của lạm phát căng thẳng thanh khoản và lãi suất leo thang. Phần lớn các nhà băng phải gồng mình với chi phí huy động vốn cao. Từ dưới 10%/năm, lãi suất huy động VND vọt lên trên 19%/năm. Và ở đỉnh điểm, lãi suất cho vay tối đa bị chốt ở trần 21%/năm. Trừ các chi phí liên quan, chênh lệch lãi suất để tạo lợi nhuận bị bóp nghẹt. Do đó làm tăng chi phí chung của ngân hàng. Mặc dù vậy, lợi nhuận của ngân hàng vẫn tăng qua các năm với lợi nhuận trước thuế trong năm 2007 là 229,9 tỷ đồng, năm 2008 là 269,1 tỷ đồng. Việc lợi nhuận tăng đều qua các năm thể hiện hướng phát triển đúng đắn và sự điều hành đúng đắn, linh hoạt kịp thời của Ban giám đốc Ngân hàng và sự chỉ đạo sát sao của NHNN và NHNo&PTNT Việt Nam. Sau ba năm thực hiện Đề án phát triển hoạt động kinh doanh giai đoạn 2006- 2010, mặc dù gặp nhiều khó khăn trước biến động phức tạp của nền kinh tế, sự cạnh tranh ngày càng gay gắt của các NHTM nhưng với sự đoàn kết nhất trí của cấp ủy Đảng, Ban lãnh đạo cùng sự cố gắng của tập thể cán bộ nhân viên, sự chỉ đạo kịp thời của NHNo&PTNT Việt Nam đã giúp Chi nhánh vượt qua khó khăn hoàn thành nhiệm vụ kinh doanh, góp phần vào sự nghiệp Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa Thủ đô. 2.2. Thực trạng huy động vốn tại chi nhánh NHNo&PTNT Hà Nội Cũng như các NHTM khác, chi nhánh NHNo&PTNT luôn chú trọng vào hoạt động huy động vốn, coi đây là chính sách hàng đầu trong công tác hoạch định chiến lược phát triển và nâng cao năng lưc cạnh tranh của ngân hàng. Với quan niệm vốn là nguồn tài nguyên quý giá, trong những năm qua, Chi nhánh đã đưa ra các hình thức huy động vốn đa dạng, lãi suất linh hoạt, các dịch vụ tiện ích và không ngừng nâng cao chất lượng phục vụ. Điều này đã làm tăng hiệu quả hoạt động huy động vốn của ngân hàng. 2.2.1. Quy mô và tốc độ tăng trưởng nguồn vốn huy động Trong 3 năm từ 2006 – 2008 tổng nguồn vốn huy động của chi nhánh NHNo&PTNT Hà Nội đã có sự tăng trưởng đáng kể. Bảng 2.5 Quy mô và tốc độ tăng trưởng nguồn vốn của NHNo Chỉ tiêu 2006 2007 2008 Tổng nguồn vốn huy động Tỷ đồng 12845 13821 15322 Chênh lệch tổng nguồn vốn huy động năm sau so với năm trước +/- 1244 976 1501 % +10,7 +7,6 +10,9 ( Nguồn: Báo cáo tài chính NHNo&PTNT Hà Nội) Biểu đồ 2.1: Quy mô tổng nguồn vốn ( Tỷ đồng) Nhìn vào biểu đồ ta thấy, đến 31/12/2007 tổng nguồn vốn huy động được của Chi nhánh là 13821 tỷ, tăng 976 tỷ so với năm 2007 ; và đến 31/12/2008 đạt 15322 tỷ, tăng 1500 tỷ so với năm 2007, đạt mức tăng trưởng trung bình là 9,7%. Nhìn chung, quy mô nguồn vốn của Chi nhánh lớn với tốc độ tăng trưởng khá ổn định chứng tỏ công tác huy động vốn có hiệu quả. Điều này đã giúp Chi nhánh mở rộng hoạt động kinh doanh, tăng lợi nhuận cũng như thị phần hoạt động. Đến nay, Chi nhánh NHNo&PTNT Hà Nội đã trở thành chi nhánh có quy mô hoạt động lớn trong hệ thống NHNo&PTNT Việt Nam, khẳng định được uy tín và vị thế vững chắc trên thị trường tài chính. 2.2.2. Cơ cấu vốn của Chi nhánh 2.2.2.1. Cơ cấu vốn theo đối tượng Bảng 2.6: Cơ cấu vốn theo đối tượng huy động của NHNo Hà Nội giai đoạn 2006- 2008 (Đơn vị: tỷ đồng) Chỉ tiêu 2006 2007 2008 Số tiền 06/05 % Số tiền 07/06 % Số tiền 08/07 % Tiền gửi từ dân cư 3632,0 +22,5 2536,1 -30,2 5587,7 +120,3 Tỷ trọng 28,3% 18,3% 36,5% Tiền gửi từ TCTD 1873,8 +364,5 1601,2 -14,6 1144,6 -28,5 Tỷ trọng 14,6% 11,6% 7,4% Tiền gửi từ TCKT 3854,0 -22,9 5240,9 +36,0 6063,3 +15,7 Tỷ trọng 30% 37,9% 39,6% Tiền gửi từ TCTC 3485,5 +7,8 4442,8 +27,5 2526,5 -43,1 Tỷ trọng 27,1% 32,2% 16,5% Tổng NV huy động 12845,3 13821,0 15322,1 ( Nguồn: Báo cáo tài chính NHNo&PTNT Hà Nội) Biểu đồ 2.2: Cơ cấu vốn theo đối tượng a. Tiền gửi từ dân cư Huy động vốn từ dân cư là hình thức huy động vốn truyền thống và chủ yếu của các NHTM. Tuy các khoản tiền gửi từ dân cư có thể là nhỏ lẻ nhưng nếu ngân hàng thu hút được số lượng khách hàng đông đảo thì tổng vốn huy động từ dân cư sẽ trở nên lớn đáng kể. Từ bảng số liệu cho thấy: năm 2006, nguồn vốn huy động từ dân cư của Chi nhánh là 3632 tỷ, chiếm 28,3% trên tổng nguồn vốn, tăng 22,5% so với năm 2005. Năm 2007, tuy Chi nhánh đã thực hiện đa dạng hóa các sản phẩm tiền gửi và các hình thức khuyến mãi, dự thưởng nhưng do sự cạnh tranh của các NHTM Cổ phần mới thành lập trên địa bàn Hà Nội, nguồn tiền này có xu hướng sụt giảm, giảm 1096 tỷ đồng so với năm 2006, tương ứng với 30,2%. Đến năm 2008, nguồn vốn huy động từ dân cư có sự tăng trưởng vượt bậc là 5587,7 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 36,5% trên tổng nguồn vốn và tăng 120,3% so với năm 2007. Có được điều này là nhờ Chi nhánh đã áp dụng các hình thức huy động vốn với nhiều sản phẩm dịch vụ tiện ích đối với khách hàng: tiết kiệm dự thưởng, tiết kiệm bậc thang, tiết kiệm gửi góp,…với những hình thức trả lãi linh hoạt, phù hợp với nhu cầu của các tầng lớp dân cư. Bên cạnh đó, việc áp dụng Công nghệ tin học trong hoạt động Ngân hàng và thái độ phục vụ nhiệt tình, chu đáo của các giao dịch viên đã tạo sự thoải mái và tiện lợi cho khách hàng khi đến ngân hàng. b. Tiền gửi từ Tổ chức Tín dụng Từ biểu đồ ta thấy, khoản tiền gửi từ TCTD trong ba năm qua đều chiếm một tỷ trọng rất bé và có xu hướng giảm cả về tỷ trọng lẫn tốc độ tăng trưởng. Nếu như năm 2006, nguồn tiền này là 1873,8 tỷ, chiếm tỷ trọng là 14,5% trong tổng nguồn vốn thì đến năm 2007 giảm xuống còn 1601,2 tỷ đồng, giảm 14,6% và chiếm tỷ trọng trên tổng nguồn vốn huy động là 11,6%. Sang năm 2008, vốn loại này tiếp tục giảm xuống còn 1144,6 tỷ đồng, giảm 28,55% so với năm 2007, chiếm tỷ trọng 7,4% so với tổng nguồn vốn huy động. c. Tiền gửi từ các Tổ chức Kinh tế Các doanh nghiệp gửi khoản tiền này vào ngân hàng với mục tiêu chủ yếu là thanh toán và sinh lời khoản vốn tạm thời nhàn rỗi chưa sử dụng đến của doanh nghiệp. Nguồn này có đặc điểm là chi phí thấp, quy mô lớn. Do đó, tiết kiệm được chi phí cho ngân hàng, nâng cao khả năng cạnh tranh trong cho vay và đầu tư. Biểu đồ 2.2 cho thấy qua ba năm, nguồn tiền gửi từ TCKT luôn chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng nguồn vốn. Năm 2006, tiền gửi từ các TCKT giảm 22,9% so với năm 2005, tương ứng giảm 1144,9 tỷ đồng, chiếm 30% trên tổng nguồn huy động. Đến năm 2007, vốn từ TCKT đã có sự tăng trưởng cao, đạt 5240,9 tỷ đồng tương ứng với mức tăng là 36% so với năm 2006. Tỷ trọng của nó cũng tăng lên, chiếm 37,9% trong tổng nguồn vốn huy động. Nguồn tiền gửi từ TCKT tiếp tục tăng trưởng mạnh trong năm 2008 nhờ thực hiện các biện pháp tiếp cận, phân tích và đưa ra các tiện ích cho các doanh nghiệp khi gửi tiền tại ngân hàng. Mức tăng trưởng là 15,7% tương ứng với tăng 822 tỷ đồng, chiếm 36,9% trong tổng nguồn vốn của năm 2008. d. Tiền gửi từ các TCTC Đây là khoản tiền gửi của Kho bạc Nhà nước tại ngân hàng nhằm mục tiêu thanh toán, chi trả, lưu thông tiền tệ và cung cấp thêm vốn. Dễ thấy qua biểu đồ, tình hình nguồn vốn từ các TCTC thường chiếm tỷ trọng khá cao nhưng không được ổn định. Năm 2006 đạt 3485,5 tỷ đồng, tăng 7,8% so với năm 2005, chiếm 27,1% trong tổng nguồn. Năm 2007, mức tăng trưởng đạt 27,5% tương ứng với tăng 957,4 tỷ đồng. Tỷ trọng nguồn vốn này trong năm đạt 32,2% trong tổng nguồn huy động. Nhưng đến năm 2008, nguồn tiền từ TCTC sụt giảm đáng kể 43,1%, tương ứng giảm 1916,4 tỷ đồng. Theo đó, tỷ trọng của nó trên tổng nguồn sụt giảm mạnh, chỉ đạt 16,5%. 2.2.2.2. Cơ cấu vốn theo kỳ hạn Kỳ hạn của nguồn vốn là một yếu tố quan trọng phản ánh chất lượng và tính ổn định nguồn vốn huy động của ngân hàng. Việc nghiên cứu và xây dựng kì hạn của các nguồn tiền có vai trò quan trọng để nhằm duy trì một cơ cấu nguồn vốn hợp lý đáp ứng nhu cầu vốn trung và dài hạn của nền kinh tế. Đồng thời cơ cấu vốn theo kì hạn cho thấy rõ chi phí huy động mà ngân hàng phải trả theo từng kì hạn và mức độ cao hay thấp đối với khả năng xảy ra rủi ro thanh khoản. Bảng 2.7 : Cơ cấu nguồn vốn huy động theo kỳ hạn của NHNo Hà Nội (Đơn vị: tỷ đồng) Chỉ tiêu 2006 2007 2008 Số tiền 06/05 (%) Số tiền 07/06 (%) Số tiền 08/07 (%) NV huy động không kì hạn 5829,5 +14,5 5859,1 +0,5 4059,6 -30,7 Tỷ trọng 45,4% 42,4% 26,5% NV huy động dưới 12 tháng 1775,4 -3,6 2620,5 +47,6 6799,9 +159,5 Tỷ trọng 13,8% 19% 44,4% NV huy động từ12–24 tháng 2991,5 -19,4 3090,3 +3,3 1902,3 -38,4 Tỷ trọng 23,3% 22,3% 12,4% NV huy động trên 24 tháng 2248,9 +89,7 2251,1 +0,1 2560,2 +13,7 Tỷ trọng 17,5% 16,3% 16,7% Tổng NV HĐ 12845,3 13821,0 15322,0 ( Nguồn: Báo cáo tài chính NHNo&PTNT Hà Nội) a.Nguồn vốn huy động không kì hạn Nguồn vốn huy động không kì hạn chủ yếu là tiền gửi giao dịch ( Tiền gửi thanh toán) của các cá nhân, tổ chức gửi vào với mục đích nhờ ngân hàng giữ và thanh toán hộ. Trong những năm qua, Chi nhánh đã rất chú trọng thu hút nguồn vốn này bằng việc sử dụng công nghệ ngân hàng cũng như nâng cao tiện ích của các dịch vụ đi kèm nhằm đảm bảo công tác thanh toán được thực hiện nhanh, hiệu quả, chính xác và bảo mật. Nhìn vào biểu đồ ta thấy, đây là nguồn tiền chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn vốn huy động của Chi nhánh trong ba năm qua. Năm 2006 đạt 5829,5 tỷ đồng, tăng 14,5% so với năm 2005, chiếm tỷ trọng là 45,4% trong tổng nguồn. Năm 2007, nguồn vốn không kì hạn của ngân hàng là 5859,1 tỷ đồng, tăng nhẹ so với năm 2006 là 0,5%, chiếm 42,4% trên tổng vốn huy động. Đến năm 2008, do tình hình kinh tế không ổn định, lạm phát tăng cao đã ảnh hưởng đến tiền gửi không kì hạn của Chi nhánh. Nguồn tiền gửi không kì hạn giảm xuống chỉ còn 4059 tỷ, mức giảm là 30,7%, tương ứng giảm 1799,5 tỷ đồng và chiếm 26,5% trong tổng vốn huy động. Điều này cho thấy Chi nhánh đã làm tốt công tác thanh toán, là điểm đáng tin cậy để các cá nhân và doanh nghiệp lựa chọn. b. Nguồn vốn huy động dưới 12 tháng Nguồn tiền này bao gồm tiền gửi có kì hạn và tiền gửi tiết kiệm dưới 12 tháng. Cũng như tiền gửi không kì hạn, nguồn tiền này chiếm tỷ trọng khá cao trong tổng vốn huy động của Chi nhánh nhưng lại có tốc độ tăng trưởng không ổn định, phụ thuộc vào tâm lý và quyết định của người gửi tiền. Cụ thể, năm 2006 nguồn vốn huy động dưới 12 tháng đạt 1775,4 tỷ đồng, có mức giảm nhẹ so với năm 2005 là 3,6%, chiếm 13,8% trong tổng nguồn vốn huy động. Năm 2007 vốn loại này lên tới 2620,5 tỷ đồng, đạt mức tăng trưởng 19% và tỷ trọng tăng lên chiếm 19%. Năm 2008 là năm có những diễn biến phức tạp, các ngân hàng đua nhau tăng lãi suất huy động nhằm huy động được nguồn vốn đáp ứng cho nhu cầu tín dụng tăng cao. Người dân với tâm lý e ngại lạm phát lên cao, nếu gửi tiền dài hạn sẽ làm sụt giảm giá trị đồng tiền. Thêm vào đó, việc gửi tiền với kì hạn ngắn ( dưới 12 tháng) sẽ tạo cho người gửi tiền nhiều lựa chọn hơn khi gửi tiền vào các ngân hàng có lãi suất huy động cao hơn với tiền gửi có cùng kì hạn. Điều này trực tiếp tác động đến thu nhập của người gửi tiền và do đó, tác động đến quyết định gửi tiền của khách hàng. Nắm bắt được diễn biến của thị trường, Chi nhánh đã có những điều chinh ứng phó kịp thời. Việc tăng lãi suất huy động với các hình thức khuyến mãi hấp dẫn tặng tiền và hiện vật để cạnh tranh với các ngân hàng khác cùng với uy tín lâu năm trên thị trường tài chính đã giúp cho ngân hàng thu hút được khối lượng lớn nguồn vốn có kì hạn dưới 12 tháng. Mức tăng trưởng nguồn vốn này đạt 159,5%, tương ứng tăng 4179,4 tỷ đồng so với năm 2007, chiếm 44,4% trên tổng nguồn vốn huy động. c. Nguồn vốn huy động từ 12 – 24 tháng Đây là nguồn vốn trung hạn chủ yếu dùng để tài trợ cho các dự án trung và dài hạn. Nhìn vào biểu đồ ta thấy, nguồn này chiếm tỷ trọng trung bình và có xu hướng giảm trong ba năm qua. Năm 2006, tỷ trọng của nó là 23,3% trong tổng nguồn, đạt mức 2991,5 tỷ đồng, giảm 19,4% so với năm 2005. Năm 2007, nguồn vốn huy động 12 – 24 tháng tăng nhẹ 3% tương ứng với 98,8 tỷ đồng so với năm 2006 và chiếm tỷ trọng trong tổng nguồn vốn là 22,3%. Đến năm 2008, vốn trung hạn giảm mạnh xuống còn 1902,3 tỷ, giảm 1188 tỷ đồng, tương ứng giảm 38,4% so với năm 2007, tỷ trọng của nguồn vốn loại này chiếm 12,4% trên tổng vốn huy động. Nguyên nhân của sự sụt giảm này là do nguồn tiền mang tính chất trung hạn. Trong tình trạng nền kinh tế có nhiều biến động như hiện nay thì người gửi tiền sẽ tìm đến các nguồn tiền gửi có kì hạn ngắn nhằm mục tiêu vừa an toàn vừa sinh lợi. Còn với những người gửi tiền để mong nhận được lãi suất cao thì họ không thực sự ưa thích loại hình huy động vốn trung hạn này. Nguồn vốn huy động trên 24 tháng Năm 2006, nguồn vốn dài hạn của Chi nhánh đạt 2248,9 tỷ đồng, tăng 89,7% so với năm 2005 và chiếm 17,5% trong tổng nguồn vốn. Sang năm 2007 vốn dài hạn tăng trưởng nhẹ 0,1% so với năm 2007, đạt 2251,1 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng trong tổng nguồn là 16,3%. Trong năm 2008, tuy ảnh hưởng của lạm phát cũng như suy thoái nền kinh tế toàn cầu nhưng vốn dài hạn của Ngân hàng vẫn có sự tăng trưởng. Mức tăng là 13,7%, tương ứng với 309,1 tỷ đồng so với năm 2007, chiếm 16,7% trong tổng nguồn. Có được kết quả này là nhờ Chi nhánh đã đưa ra các hình thức huy động vốn đa dạng như tiết kiệm bậc thang, tiết kiệm gửi góp từ 24 tháng trở lên, chứng chỉ tiền gửi trên 24 tháng, trái phiếu AGRIBANK kì hạn 10 năm,… Biểu đồ 2.3: Cơ cấu vốn huy động theo kỳ hạn Từ biểu đồ và qua phân tích ta thấy, tỷ trọng vốn trung và dài hạn của Ngân hàng chiếm tỷ trọng dưới 50% và có xu hướng giảm trong năm 2008. Vốn ngắn hạn ngày càng chiếm tỷ trọng cao trong tổng nguồn vốn: năm 2006 là 59,1%; năm 2007 là 61,4%; năm 2008 là 70,9% cho thấy Chi nhánh có ưu thế trong việc thu hút những nguồn tiền có chi phí rẻ. Từ đó, tạo ưu thế trong việc đưa ra lãi suất cho vay rẻ tương ứng, tạo điều kiện mở rộng hoạt động tín dụng và tài trợ các dự án. Tuy nhiên đây là nguồn ngắn hạn có kỳ hạn dài nhất là 1 năm. Do vậy, Ngân hàng cần tập trung hơn nữa vào việc khai thác nguồn có kỳ hạn dài hạn nhằm tạo sự ổn định cho nguồn vốn kinh doanh. Với nguồn vốn trung và dài hạn Ngân hàng sẽ chủ động hơn trong việc cho vay các dự án dài hạn. Tính cân xứng giữa nguồn vốn huy động và sử dụng vốn Giữa huy động và sử dụng vốn có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau. Tính vững chắc ổn định của nguồn vốn huy động không chỉ phụ thuộc vào công tác huy động vốn mà còn phụ thuộc vào quá trình sử dụng vốn. Nếu việc huy động và sử dụng vốn không phù hợp thì hoạt động kinh doanh của ngân hàng không đạt hiệu quả. Vì vậy, việc thực hiện cân đối nguồn vốn trong kinh doanh, đảm bảo tính cân xứng giữa hoạt động huy động và sử dụng vốn, đảm bảo khả năng thanh khoản của ngân hàng trong kinh doanh là vấn đề rất cấp thiết. Bảng 2.8: Hoạt động sử dụng vốn của NHNo&PTNT 2007 – 2008 (Đơn vị: Tỷ đồng) Chỉ tiêu 2007 2008 Dư nợ ngắn hạn 1446,38 1323,02 Dư nợ trung và dài hạn 1290,62 2115,11 Tổng dư nợ 2737 3438,13 Tổng NV huy động 13821 15322 Tổng dư nợ/ Tổng NV huy động 19,8% 22,4% ( Nguồn: Báo cáo tài chính NHNo&PTNT Hà Nội) Nhìn vào bảng cho thấy, sử dụng vốn của Chi nhánh mang tính dài hạn. Trong tổng dư nợ của Chi nhánh thì dư nợ trung và dài hạn có xu hướng tăng lên: năm 2007 chiếm 47,15%; năm 2008 chiếm 61,52%. Trong năm 2008, tổng dư nợ cho vay chiếm tỷ trọng 22,4% trong tổng nguồn vốn huy động; dư nợ ngắn hạn đạt 1323,02 tỷ, chiếm 38,5% trong tổng dư nợ; dư nợ trung và dài hạn đạt 2115,11 tỷ, chiếm 61,5% trong tổng dư nợ. Từ việc phân tích cơ cấu nguồn vốn theo kỳ hạn và cơ cấu dư nợ như trên cho thấy tính cân xứng giữa nguồn vốn động và sử dụng vốn dài hạn của Chi nhánh còn chưa hợp lý vì các khoản cho vay trung và dài hạn chiếm 61,5% trong tổng dư nợ trong khi nguồn vốn huy động có kỳ hạn ngắn chiếm tỷ trọng khá lớn, nguồn vốn huy động trung và dài hạn chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ, chiếm 29,1% trong tổng huy động). Ngân hàng có thể thực hiện chuyển hoán kỳ hạn của nguồn nhưng hoạt động này tiềm ẩn rủi ro lãi suất và rủi ro thanh khoản. Do đó, trong thời gian tới, Chi nhánh cần chú trọng hơn vào việc khai thác nguồn vốn có kỳ hạn dài để đảm bảo vốn tài trợ cho các dự án đầu tư dài hạn. 2.2.2.3. Cơ cấu vốn theo loại tiền Biểu đồ 2.4 : Cơ cấu vốn theo loại tiền a. Vốn nội tệ NHNo&PTNT Hà Nội là ngân hàng hoạt động trên địa bàn có nhu cầu vốn nội tệ rất lớn. Vì vậy, nhằm đáp ứng nhu cầu mở rộng, tăng cường sử dụng vốn đầu tư trong nước, cho vay các doanh nghiệp vừa và nhỏ, Chi nhánh đã coi việc huy động vốn nội tệ là nhiệm vụ chiến lược trong phát triển kinh doanh. Thực hiện chủ trương đó, trong những năm qua, nguồn vốn nội tệ của Chi nhánh đã liên tục tăng thể hiện ở bảng sau: Bảng 2.9 : Vốn huy động nội tệ giai đoạn 2006- 2008 (Đơn vị: Tỷ đồng) Chỉ tiêu 2006 2007 2008 Vốn huy động nội tệ 11487,8 12947,5 14233,5 Tỷ trọng 89,4% 93,7% 92,9% Số tăng tuyệt đối 1003 1459,7 1286 Số tăng tương đối (%) +9,6 +12,7 +9,9 ( Nguồn: Phòng Kế hoạch – Tổng hợp) Với tỷ trọng trong tổng nguồn vốn huy động luôn ở mức trên 89% chứng tỏ vốn nội tệ là nguồn vốn chủ yếu của Chi nhánh. Năm 2006, vốn nội tệ đạt 11487,8 tỷ đồng, tăng 9,6% tương ứng với 1003 tỷ so với năm 2005. Sang năm 2007, nguồn vốn nội tệ tăng mạnh 12,7%, tương ứng với mức tăng 1459,7 tỷ đồng so với năm 2006. Nguồn vốn nội tệ tiếp tục tăng trong năm 2008 ở mức 9,9%, tăng 1286 tỷ so với năm 2007. Trong môi trường ngày càng cạnh tranh gay gắt, để nâng cao hiệu quả huy động vốn, Chi nhánh đã đưa ra các hình thức huy động đa dạng đi kèm với các dịch vụ tiện ích mà khách hàng được hưởng khi giao dịch tại ngân hàng. Từ đó, vừa tối đa hóa lợi ích của khách hàng, vừa tăng thu hút vốn nội tệ cho ngân hàng. Các sản phẩm tiền gửi Ngân hàng đã và đang cung cấp như tiết kiệm bậc thang, tiết kiệm gửi góp, tiết kiệm dự thưởng với nhiều kì hạn, thẻ ATM…cùng với các dịch vụ của ngân hàng hiện đại như dịch vụ thông tin tài khoản qua Phone banking, Internet banking,…Ngoài ra, Chi nhánh còn giữ mối quan hệ với các khách hàng cũ đồng thời xây dựng kế hoạch tiếp cận với các khách hàng tiềm năng. Do đó, nguồn vốn nội tệ của Ngân hàng vẫn tăng cao và tăng đều qua các năm, đáp ứng nhu cầu vốn nội tệ đầu tư cho các dự án nội địa. b. Vốn ngoại tệ Trong xu thế hội nhập nền kinh tế quốc tế, nhất là từ khi Việt Nam trở thành viên chính thức của Tổ chức thương mại Thế giới WTO nhu cầu buôn bán xuất nhập khẩu hàng hóa với các nước khác tăng cao. Do đó, nhu cầu về ngoại tệ cũng tăng cao. Vì vậy, cùng với việc tăng cường huy động vốn nội tệ Chi nhánh đã rất chú trọng và phát triển nguồn vốn ngoại tệ. Vốn ngoại tệ của Chi nhánh được huy động thông qua các hình thức thu hút tiền gửi USD, EUR,…và thu từ hoạt động kinh doanh ngoại tệ, thanh toán quốc tế, thanh toán biên mậu,.... Tình hình huy động vốn ngoại tệ của Ngân hàng qua các năm được thể hiện qua bảng sau: Bảng 2.10 : Vốn huy động ngoại tệ giai đoạn 2006 – 2008 (Đơn vị: tỷ đồng) Chỉ tiêu 2006 2007 2008 Vốn ngoại tệ 1357,6 873,5 1088,6 Tỷ trọng 10,6% 6,3% 6,2% Số tăng tuyệt đối +241 -484,1 +215,1 Số tăng tương đối (%) +21,6 -35,6 +24,6 ( Nguồn: Phòng Kế hoạch – Tổng hợp) Năm 2006, vốn ngoại tệ đạt 1357,6 tỷ đồng, chiếm 10,6% trên tổng nguồn vốn và tăng 21,6% so với năm 2005. Sang năm 2007, nền kinh tế có nhiều biến động bất lợi: tỷ giá USD không ổn định, giá vàng tăng cao, người dân chủ yếu đầu tư vào vàng mà bỏ qua kênh đầu tư ngoại tệ. Do đó, nguồn vốn huy động bằng ngoại tệ giảm mạnh 35,6% tương ứng với 484,1 tỷ đồng so với năm 2006 và chỉ chiếm tỷ trọng trong tổng vốn là 6,3%. Tuy trong năm 2008 nền kinh tế tiếp tục có nhiều diễn biến phức tạp nhưng vốn ngoại tệ của Ngân hàng đã có sự tăng trưởng, đạt 1088,6 tỷ đồng, tăng 24,6% so với năm 2007, chiếm 6,2% trên nguồn vốn huy động. Nhìn chung, tỷ trọng vốn ngoại tệ của Ngân hàng vẫn chiếm tỷ trọng thấp, dưới 11% trong tổng nguồn vốn. Vì vậy, Chi nhánh cần có những giáp pháp tăng cường huy động loại vốn này hiệu quả hơn nhằm đáp ứng kịp thời nhu cầu vốn cho hoạt động thương mại quốc tế. 2.2.3. Các nghiệp vụ huy động vốn của Ngân hàng 2.2.3.1. Huy động tiền gửi Để huy động ngày càng nhiều hơn nguồn vốn nhàn rỗi từ các thành phần trong nền kinh tế, NHNo&PTNT Hà Nội đã thiết kế các sản phẩm tiền gửi cho từng đối tượng. Cụ thể, với nhóm khách hàng Doanh nghiệp, danh mục sản phẩm tiền gửi của Ngân hàng bao gồm: Tiền gửi không kì hạn ( Tiền gửi thanh toán), Tiền gửi có kỳ hạn lãi suất trả sau, Tiền gửi có kỳ hạn lãi sau định kỳ, Tiền gửi có kỳ hạn lãi trước, Tiền gửi lãi suất gia tăng theo thời gian. Đối với nhóm khách hàng cá nhân Chi nhánh cũng đã thực hiện đa dạng hóa các sản phẩm tiền gửi tiết kiệm như: Tiết kiệm không kỳ hạn bằng VND và bằng ngoại tệ, Tiết kiệm có kì hạn trả lãi sau toàn bộ, Tiết kiệm có kỳ hạn trả lãi sau định kỳ, Tiết kiệm có kỳ hạn trả lãi trước toàn bộ, Tiết kiệm có kỳ hạn trả lãi trước định kỳ, Tiết kiệm hưởng lãi bậc thang theo thời gian gửi, Tiết kiệm hưởng lãi bậc thang theo lũy t

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • doc22002.doc
Tài liệu liên quan