Đề tài Bàn về phương pháp tính khấu hao và kế toán khấu hao tài sản cố định trong các doanh nghiệp

Mục lục

Danh mục các từ viết tắt 1

Lời nói đầu 2

Phần 1: Những vấn đề cơ bản về khấu hao và kế toán khấu hao TSCĐ trong các doanh nghiệp 3

1.1. Những vấn đề chung về TSCĐ trong các doanh nghiệp 3

1.1.1. Khái niệm, vai trò và đặc điểm của TSCĐ 3

1.1.2. Phân loại TSCĐ trong doanh nghiệp 4

1.1.3. Đánh giá TSCĐ 6

1.1.3.1. Nguyên giá TSCĐ 6

1.1.3.2. Giá trị hao mòn 8

1.1.3.3. Giá trị còn lại 8

1.2. Tính khấu hao TSCĐ trong các doanh nghiệp 8

1.2.1. Khái niệm hao mòn và khấu hao TSCĐ 8

1.2.2. Các phương pháp tính khấu hao TSCĐ trong doanh nghiệp 10

1.2.2.1. Phương pháp khấu hao đường thẳng 10

1.2.2.2. Phương pháp khấu hao theo số dư giảm dần có điều chỉnh 12

1.2.2.3. Phương pháp khấu hao theo sản lượng 14

1.3. Kế toán khấu hao TSCĐ trong các doanh nghiệp 16

1.3.1. Chứng từ kế toán 16

1.3.2. Tài khoản kế toán 17

1.3.3. Phương pháp kế toán khấu hao TSCĐ 18

1.4. Chuẩn mực kế toán quốc tế và kinh nghiệm một số nước về tính khấu hao và kế toán khấu hao TSCĐ 23

Phần 2: Một số ý kiến đề xuất nhằm hoàn thiện phương pháp tính khấu hao và kế toán khấu hao TSCĐ trong các doanh nghiệp 26

2.1. Đánh giá phương pháp tính khấu hao và kế toán khấu hao TSCĐ trong các doanh nghiệp 26

2.1.1. Ưu điểm 26

2.1.2. Tồn tại 27

2.2. Sự cần thiết phải hoàn thiện phương pháp tính khấu hao và kế toán khấu hao TSCĐ trong các doanh nghiệp 30

2.3. Một số ý kiến đề xuất nhằm hoàn thiện phương pháp tính khấu hao và kế toán khấu hao TSCĐ trong các doanh nghiệp 31

Kết luận 34

Danh mục tài liệu tham khảo 35

 

 

doc36 trang | Chia sẻ: leddyking34 | Ngày: 24/06/2013 | Lượt xem: 6406 | Lượt tải: 38download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đề tài Bàn về phương pháp tính khấu hao và kế toán khấu hao tài sản cố định trong các doanh nghiệp, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
M TSCĐ là sự giảm dần giá trị sử dụng và giá trị của TSCĐ do tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh, do bào mòn của tự nhiên, do tiến bộ kỹ thuật… trong quá trình hoạt động của TSCĐ. - Phân loại: được chia làm hai loại: + Hao mòn hữu hình: là sự hao mòn vật lý trong quá trình sử dụng do bị cọ sát, bị ăn mòn, bị hư hỏng từng bộ phận. Hao mòn hữu hình có thể diễn ra hai dạng dưới đây: Thứ nhất: Hao mòn dưới dạng kỹ thuật xảy ra trong quá trình sử dụng. Thứ hai: Hao mòn do tác động của thiên nhiên (độ ẩm hơi nước, không khí…) không phụ thuộc vào việc sử dụng. Do có sự hao mòn hữu hình nên tài sản mất dần giá trị và giá trị sử dụng lúc ban đầu, cuối cùng phải thay thế bằng một TSCĐ khác. +Hao mòn vô hình: là sự giảm dần về giá trị tài sản cố định do tiến bộ của khoa học kỹ thuật, nhờ tiến bộ của khoa học kỹ thuật mà TSCĐ được sản xuất ra ngày càng có nhiều tính năng với năng suất cao hơn và chi phí thấp hơn. Trong một nền kinh tế càng năng động, càng phát triển thì tốc độ hao mòn càng nhanh. Vì vậy, đòi hỏi trước hết của các doanh nghiệp Nhà nước phải có một chính sách hợp lý về quản lý và trích khấu hao, như thế mới đảm bảo cho doanh nghiệp có thể đạt hiệu quả cao trong sản xuất kinh doanh. Hao mòn TSCĐ là một phạm trù khách quan, muốn xác định giá trị hao mòn của TSCĐ nào đó thì cơ sở có tính khách quan nhất là thông qua giá cả thị trường. Tức là phải so sánh giá cả của TSCĐ cũ với TSCĐ mới cùng loại. Tuy nhiên, TSCĐ được đầu tư mua sắm là để sử dụng lâu dài cho quá trình sản xuất kinh doanh, do đó việc xác định mức độ hao mòn một cách chính xác là rất khó, thậm chí là không thể. Bởi vậy làm thế nào để xác định mức độ hao mòn một cách tương đối? Đó chính là khấu hao. * Khấu hao TSCĐ Khấu hao tài sản cố định là việc tính toán và phân bổ một cách có hệ thống nguyên giá của tài sản cố định vào chi phí sản xuất, kinh doanh trong thời gian sử dụng của tài sản cố định. Như vậy khấu hao TSCĐ chính là sự biểu hiện bằng tiền của phần giá trị tài sản cố định đã hao mòn. Khác với hao mòn là hiện tượng khách quan làm giá trị và giá trị sử dụng của tài sản bị giảm dần và cuối cùng bị loại bỏ thì khấu hao lại là biện pháp chủ quan, trích dần giá trị phải khấu tài sản cố định vào chi phí kinh doanh nhằm thu hồi vốn đầu tư hay các chi phí đã đầu tư vào tài sản cố định để tái tạo lại tài sản cố định khi nó bị hỏng, bị lạc hậu; kết thúc hao mòn tài sản cố định không còn sử dụng được nữa, hay nó không còn khả năng đem lại lợi ích kinh tế. - Mục đích của việc trích khấu hao + Giúp cho doanh nghiệp tính đúng tính đủ chi phí sử dụng TSCĐ để thu hồi lại vốn đầu tư đã đầu tư vào TSCĐ khi chúng bị hư hỏng hoặc thời gian kiểm soát hết hiệu lực. + Giúp doanh nghiệp có nguồn vốn để tái đầu tư mua sắm khi cần thiết. + Về phương diện kinh tế: khấu hao cho phép doanh nghiệp phản ánh được giá trị thực của tài sản (giá trị còn lại) đồng thời làm giảm lợi nhuận dòng của doanh nghiệp. 1.2.2. Các phương pháp tính khấu hao TSCĐ trong doanh nghiệp 1.2.2.1. Phương pháp khấu hao đường thẳng Theo phương pháp này việc tính khấu hao TSCĐ được dựa vào nguyên giá và tỷ lệ khấu hao TSCĐ đó. Trong đó tỷ lệ khấu hao TSCĐ lại phải dựa vào số năm sử dụng dự kiến. Mức khấu hao trung bình hàng năm (theo phương pháp đường thẳng) của một TSCĐ khấu hao (Mkhn) được tính theo công thức sau: Mkhn = Nguyên giá của TSCĐ x Tỷ lệ khấu hao năm 1 Số năm sử dụng dự kiến Trong đó: Tỷ lệ khấu hao năm = x100 Mức trích khấu hao trung bình tháng bằng số khấu hao phải trích cả năm chia cho 12 tháng. Trường hợp thời gian sử dụng hay nguyên giá của TSCĐ thay đổi, doanh nghiệp phải xác định lại mức trích khấu hao trung bình của TSCĐ bằng cách lấy giá trị còn lại trên sổ kế toán chia cho thời gian sử dụng xác định lại hoặc thời gian sử dụng còn lại (được xác định là chênh lệch giữa thời gian sử dụng đã đăng ký trừ thời gian đã sử dụng) của TSCĐ. Mức trích khấu hao cho năm cuối cùng của thời gian sử dụng TSCĐ được xác định là hiệu số giữa nguyên giá TSCĐ và số khấu hao luỹ kế đã thực hiện đến năm trước năm cuối cùng của TSCĐ đó. Đối với những tài sản cố định được mua sắm đầu tư mới thì số năm sử dụng dự kiến phải nằm trong khoảng thời gian sử dụng tối đa và tối thiểu do Nhà nước quy định. Tuy nhiên, để xác định số năm sử dụng dự kiến cho từng TSCĐ cụ thể, doanh nghiệp phải dựa vào những căn cứ chủ yếu sau: - Tuổi thọ kỹ thuật của tài sản cố định theo thiết kế. - Hiện trạng tài sản cố định (Thời gian tài sản cố định đã qua sử dụng, thế hệ tài sản cố định, tình trạng thực tế của TSCĐ,…) - Tuổi thọ kinh tế của tài sản cố định: Được quyết định bởi thời gian kiểm soát TSCĐ hoặc yếu tố hao mòn vô hình do sự tiến bộ kỹ thuật. - Ưu, nhược điểm của phương pháp: + Ưu điểm: Đơn giản, dễ tính toán, phương pháp này cố định theo thời gian nên có tác dụng thúc đẩy doanh nghiệp nâng cao năng suất lao động, tăng số lượng sản phẩm làm ra để hạ giá thành, tăng lợi nhuận. + Nhược điểm: việc thu hồi vốn chậm, không theo kịp mức hao mòn thực tế, nhất là hao mòn vô hình (do tiến bộ khoa học kỹ thuật) nên doanh nghiệp không có điều kiện để đầu tư trang bị TSCĐ mới. Hiện nay, đây là phương pháp được dùng phổ biến trong các doanh nghiệp ở Việt Nam. 1.2.2.2. Phương pháp khấu hao theo số dư giảm dần có điều chỉnh Phương pháp trích khấu hao theo số dư giảm dần có điều chỉnh được sử dụng đối với các doanh nghiệp thuộc các lĩnh vực có công nghệ đòi hỏi phải thay đổi, phát triển nhanh và TSCĐ phải thoả mãn đồng thời các điều kiện sau: - Là TSCĐ đầu tư mới (Chưa qua sử dụng). - Là các loại máy móc, thiết bị, dụng cụ làm việc đo lường, thí nghiệm. Doanh nghiệp xác định thời gian sử dụng của TSCĐ theo quy định tại Chế độ quản lý, sử dụng và trích khấu hao TSCĐ ban hành kèm theo thông tư số 203/2009/TT - BTC của Bộ tài chính. Theo phương pháp khấu hao số dư giảm dần có điều chỉnh thì mức khấu hao hàng năm của TSCĐ được xác định theo công thức sau: Mkhn = Giá trị còn lại của TSCĐ x Tỷ lệ khấu hao nhanh Trong đó tỷ lệ khấu hao nhanh được xác định theo công thức sau: Tỷ lệ khấu hao nhanh (%) = Tỷ lệ khấu hao TSCĐ theo phương pháp đường thẳng X Hệ số điều chỉnh Hệ số điều chỉnh xác định theo thời gian sử dụng của TSCĐ quy định tại bảng dưới đây: Thời gian sử dụng của TSCĐ Hệ số điều chỉnh (lần) Đến 4 năm ( t < 4 năm) 1,5 Trên 4 đến 6 năm ( 4 năm < t < 6 năm) 2,0 Trên 6 năm ( t > 6năm) 2,5 Những năm cuối, khi mức khấu hao năm xác định theo phương pháp số dư giảm dần nói trên bằng ( hoặc thấp hơn) mức khấu hao tính bình quân giữa giá trị còn lại và số năm sử dụng còn lại của TSCĐ, thì kể từ năm đó mức khấu hao được tính bằng giá trị còn lại của TSCĐ chia cho số năm sử dụng còn lại của TSCĐ. Phương pháp khấu hao theo số dư giảm dần có điều chỉnh giúp doanh nghiệp có khả năng thu hồi nhanh vốn đầu tư, mua sắm đổi mới TSCĐ, phản ánh chính xác hơn mức hao mòn TSCĐ vào giá trị sản phẩm, phù hợp với hầu hết các sản phẩm có giá bán lúc đầu cao sau đó có xu hướng giảm dần. Đặc biệt nó phù hợp với các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công nghệ cao, công nghệ mới mà TSCĐ có tốc độ hao mòn vô hình cao, đòi hỏi phải khấu hao, thay thế, đổi mới nhanh để theo kịp sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật. Phương pháp khấu hao theo số dư giảm dần là một phương pháp tiên tiến, phù hợp với xu thế phát triển của khoa học công nghệ kỹ thuật.Tuy nhiên, việc thực hiện phương pháp này phức tạp hơn phương pháp khấu hao đều nên đòi hỏi cán bộ làm công tác kế toán phải có trình độ cao, cán bộ thuế phải am hiểu về các phương pháp tính khấu hao, và nó ảnh hưởng đến ngân sách trong những năm đầu. Mặt khác phương pháp này chỉ áp dụng được ở những doanh nghiệp mà giá thành hoặc chi phí có khả năng chịu được (doanh nghiệp có lãi). 1.2.2.3. Phương pháp khấu hao theo sản lượng - Được áp dụng để tính khấu hao các loại máy móc, thiết bị thoả mãn đồng thời các điều kiện sau: + Trực tiếp liên quan đến việc sản xuất sản phẩm. + Xác định được tổng số lượng, khối lượng sản phẩm sản xuất theo công suất thiết kế của TSCĐ. + Công suất sử dụng thực tế bình quân tháng trong năm tài chính không thấp hơn 50% công suất thiết kế. - Trình tự thực hiện phương pháp khấu hao TSCĐ theo sản lượng như sau: + Căn cứ vào hồ sơ kinh tế kỹ thuật của TSCĐ, doanh nghiệp xác định tổng số lượng, khối lượng sản phẩm sản xuất theo công suất thiết kế của TSCĐ. + Căn cứ vào tình hình thực tế sản xuất, doanh nghiệp xác định số lượng, khối lượng sản phẩm thực tế sản xuất hàng tháng, hàng năm của TSCĐ. + Xác định mức trích khấu hao trong tháng của TSCĐ theo công thức sau: Mức trích khấu hao trong tháng của TSCĐ = Số lượng sản phẩm sản xuất trong tháng X Mức trích khấu hao bình quân tính cho một đơn vị sản phẩm Trong đó: Mức trích khấu hao bình quân tính cho một đơn vị sản phẩm = Nguyên giá của TSCĐ Sản lượng theo công suất thiết kế Mức trích khấu hao năm của TSCĐ bằng tổng mức trích khấu hao của 12 tháng trong năm, hoặc tính theo công thức sau: Mức trích khấu hao năm của TSCĐ = Số lượng sản phẩm sản xuất trong năm X Mức trích khấu hao bình quân tính cho một đơn vị sản phẩm Trường hợp công suất thiết kế hoặc nguyên giá của TSCĐ thay đổi, doanh nghiệp phải xác định lại mức trích khấu hao của TSCĐ đó. - Ưu nhược điểm: + Ưu điểm: Khi tiến hành sử dụng thì TSCĐ mới trích khấu hao. Mức trích khấu hao tỷ lệ thuận với số lượng sản phẩm sản xuất vì vậy có tác dụng thúc đẩy khả năng tăng năng suất trong sản xuất. + Nhược điểm: Chỉ ứng dụng được với những TSCĐ trực tiếp sản xuất ra sản phẩm. 1.3. Kế toán khấu hao TSCĐ trong các doanh nghiệp 1.3.1. Chứng từ kế toán Kế toán khấu hao TSCĐ sử dụng các chứng từ kế toán sau: - Biên bản giao nhận TSCĐ: Biên bản này xác nhận việc giao nhận TSCĐ. Sau khi hoàn thành việc mua sắm, được cấp phát, viện trợ, nhận vốn góp liên doanh và TSCĐ thuê ngoài. Biên bản này do hai bên giao nhận lập hai bản, mỗi bên giữ một bản. Biên bản giao nhận TSCĐ (mẫu 01- TSCĐ/HĐ) lập cho từng loại TSCĐ, đối với trường hợp giao nhận cùng một lúc nhiều TS cùng loại, cùng giá trị và do cùng một đơn vị giao nhận có thể lập chung một biên bản giao nhận. - Thẻ TSCĐ: (mẫu số 02-TSCĐ) theo dõi chi tiết từng TSCĐ của đơn vị về tình hình thay đổi nguyên giá và giá trị hao mòn đã trích hàng quý, hàng năm của từng TSCĐ. Thẻ TSCĐ do kế toán TSCĐ lập, kế toán trưởng ký xác nhận và được lưu giữ ở phòng kế toán trong suốt quá trình sử dụng TSCĐ. - Biên bản thanh lý TSCĐ (mẫu số 03): là xác nhận việc thanh lý TSCĐ và làm căn cứ ghi giảm TSCĐ trên sổ kế toán. Biên bản thanh lý phải do ban thanh lý lập và có đủ chữ ký, ghi rõ họ tên của trưởng ban thanh lý, kế toán trưởng và thủ trưởng đơn vị. - Biên bản giao nhận TSCĐ sửa chữa lớn đã hoàn thành (mẫu số 04): là biên bản xác nhận việc giao nhận TSCĐ sau khi hoàn thành việc sửa chữa lớn giữa bên có TSCĐ sửa chữa với bên thực hiện việc sửa chữa và là căn cứ ghi sổ kế toán và thanh toán CPSCL TSCĐ. Biên bản giao nhận này lập thành hai bản, hai bên giao nhận cùng ký và mỗi bên giữ một bản, sau đó chuyển cho kế toán trưởng ký duyệt và lưu lại tại phòng kế toán. - Biên bản đánh giá lại TSCĐ (mẫu số 05 – TSCĐ): biên bản này xác định giá trị hao mòn, giá trị còn lại sau khi đánh giá lại và xác định mới số liệu trên sổ sách kế toán, để xác định nguyên giá, giá trị hao mòn, giá trị còn lại tăng hay giảm. Biên bản này do hội đồng đánh giá lại lập và được lập thành hai bản, một bản lưu tại phòng kế toán, một bản lưu cùng với hồ sơ kỹ thuật của TSCĐ. - Bảng tính và phân bổ khấu hao TSCĐ: sau khi lập xong, người lập ký và kế toán trưởng ký được coi là chứng từ kế toán để hạch toán khấu hao TSCĐ. 1.3.2. Tài khoản kế toán Để theo dõi tình hình hiện có, biến động tăng, giảm giá trị hao mòn của toàn bộ TSCĐ hiện có tại doanh nghiệp (trừ tài sản cố định thuê hoạt động) kế toán sử dụng tài khoản 214 "hao mòn tài sản cố định". Tài khoản này dùng để phản ánh giá trị hao mòn của toàn bộ TSCĐ hiện có tại DN, có kết cấu và nội dung phản ánh như sau: Bên Nợ: Phản ánh các nghiệp vụ phát sinh làm giảm giá trị hao mòn của tài sản cố định (nhượng bán, thanh lý …). Bên Có: Phản ánh các nghiệp vụ làm tăng giá trị hao mòn của tài sản cố định (do trích khấu hao, đánh giá tăng hao mòn…) Dư Có: Giá trị hao mòn của tài sản cố định hiện có. TK 214 - Hao mòn TSCĐ có bốn tài khoản cấp hai: + Tài khoản 2141 – Hao mòn TSCĐ hữu hình: Phản ánh giá trị hao mòn của TSCĐ hữu hình trong quá trình sử dụng do trích khấu hao (hoặc tính hao mòn) TSCĐ và những khoản tăng, giảm hao mòn khác của TSCĐ hữu hình. + Tài khoản 2142 – Hao mòn TSCĐ thuê tài chính: Phản ánh giá trị hao mòn của TSCĐ thuê tài chính do trích khấu hao (hoặc tính hao mòn) TSCĐ thuê tài chính và những khoản tăng, giảm hao mòn khác của TSCĐ thuê tài chính. + Tài khoản 2143 – Hao mòn TSCĐ vô hình: Phản ánh giá trị hao mòn của TSCĐ vô hình trong quá trình sử dụng do trích khấu hao (hoặc tính hao mòn) TSCĐ vô hình và những khoản làm tăng, giảm hao mòn TSCĐ vô hình khác. + Tài khoản 2147 – Hao mòn bất động sản đầu tư: Phản ánh giá trị hao mòn bất động sản đầu tư trong quá trình nắm giữ chờ tăng giá, cho thuê hoạt động của doanh nghiệp. 1.3.3. Phương pháp kế toán khấu hao TSCĐ * Hạch toán hao mòn TSCĐ hữu hình - Định kỳ (tháng, quý…) trích khấu hao TSCĐ và phân bổ vào chi phí kinh doanh: Nợ TK 627 (6274: Chi tiết theo từng phân xưởng):Khấu hao TSCĐ dùng cho các phân xưởng sản xuất, chế tạo sản phẩm. Nợ TK 641 (6414): Khấu hao TSCĐ sử dụng cho tiêu thụ hàng hoá dịch vụ. Nợ TK 642 (6424): Khấu hao TSCĐ dùng chung cho toàn doanh nghiệp Có TK 214 (chi tiết theo từng tiểu khoản): Tổng số khấu hao phải trích trong kỳ. - Trường hợp giảm giá trị hao mòn do nhượng bán, thanh lý: Nợ TK 2141: Giá trị hao mòn luỹ kế. Nợ TK 811: Giá trị còn lại Có TK 211: Nguyên giá TSCĐ Trường hợp giảm giá trị hao mòn do góp vốn vào công ty con, công ty liên kết, cơ sở kinh doanh đồng kiểm soát, đầu tư dài hạn khác bằng TSCĐ hữu hình: Nợ TK 221, 222, 223, 228: Giá trị vốn góp liên doanh dài hạn được ghi nhận. Nợ TK 128: Giá trị vốn góp liên doanh ngắn hạn được ghi nhận. Nợ TK 2141: Giá trị hao mòn luỹ kế Nợ TK 811: Chênh lệch giảm giá TSCĐ Có TK 711: Ứng với phần lợi ích của bên khác trong liên doanh. Có TK 3387: Ứng với phần lợi ích của mình trong liên doanh. Có TK 211: Nguyên giá TSCĐ hữu hình -Trường hợp giảm giá trị hao mòn do trả vốn góp liên doanh: Nợ TK 2141: Giá trị hao mòn Nợ TK 411 (chi tiết vốn kinh doanh): Giá trị còn lại theo thoả thuận Nợ (Có) TK 412: Phần chênh lệch Có TK 211: Nguyên giá - Trường hợp thiếu TSCĐ khi kiểm kê Nợ TK 2141: Giá trị hao mòn luỹ kế Nợ TK 138 (1381): Giá trị thiếu chờ xử lý Có TK 211: Nguyên giá - Trường hợp giảm do chuyển thành công cụ, dụng cụ nhỏ: Nợ TK 2141: Giá trị hao mòn luỹ kế Nợ TK 627,641,642 Có TK 211: Nguyên giá TSCĐ Nếu giá trị còn lại lớn sẽ đưa vào chi phí trả trước để phân bổ dần vào chi phí kinh doanh: Nợ TK 2141: Giá trị hao mòn luỹ kế Nợ TK 142, 242: Giá trị còn lại Có TK 211: Nguyên giá * Hạch toán khấu hao TSCĐ thuê tài chính Cuối kỳ, trích khấu hao theo chế độ quy định tính vào chi phí kinh doanh: Nợ TK 627, 641, 642 Có TK 2142: Số khấu hao phải trích - Khi kết thúc hợp đồng thuê TSCĐ : + Nếu trả lại TSCĐ cho bên cho thuê mà chưa trích đủ khấu hao thì giá trị còn lại của TSCĐ thuê ngoài phải tính vào chi phí chờ phân bổ (nếu giá trị lớn) hoặc phân bổ hết vào chi phí kinh doanh trong kỳ (nếu giá trị còn lại nhỏ) : Nợ TK 142 : Chuyển giá trị còn lại chưa khấu hao hết (nếu có) Nợ TK 2142: Giá trị hao mòn luỹ kế Có TK 212: Nguyên giá TSCĐ đi thuê + Nếu được quyền sở hữu hoàn toàn hay mua lại TSCĐ, thì sau khi kết chuyển nguyên giá TSCĐ phải kết chuyển giá trị hao mòn: Nợ TK 2142 Có TK 214 (2141, 2143): Giá trị hao mòn luỹ kế * Hạch toán khấu hao TSCĐ vô hình -Trong kỳ, trích và phân bổ khấu hao vào chi phí kinh doanh Nợ TK 627, 641, 642 Có TK 2143: Giá trị hao mòn - Các trường hợp nhượng bán, giảm TSCĐ vô hình do góp vốn liên doanh, trả vốn góp liên doanh: phản ánh tương tự như hạch toán khấu hao TSCĐ hữu hình. Ngoài ra, khi đã trích đủ khấu hao phải xoá sổ TSCĐ : Nợ TK 2143: Giá trị hao mòn luỹ kế Có TK 213: Nguyên giá TSCĐ vô hình - Cuối năm tài chính doanh nghiệp cần xem xét lại thời gian trích khấu hao và phương pháp khấu hao TSCĐ vô hình, nếu có sự thay đổi mức khấu hao cần điều chỉnh số khấu hao ghi trên sổ kế toán như sau: + Nếu mức khấu hao TSCĐ vô hình tăng lên so với số đã trích trong năm, số khấu hao chênh lệch tăng, ghi: Nợ TK 627, 641, 642: Số chênh lệch khấu hao tăng Có TK 2143: Giá trị hao mòn tăng thêm + Nếu mức khấu hao TSCĐ vô hình giảm so với số đã trích trong năm thì số chênh lệch khấu hao giảm ghi: Nợ TK 2143: Hao mòn TSCĐ Có TK 627, 641, 642: Số chênh lệch khấu hao giảm * Kế toán khấu hao bất động sản đầu tư. Định kỳ tính, trích khấu hao bất động sản đầu tư đang nắm giữ chờ tăng giá, đang cho thuê hoạt động, ghi: Nợ TK 632 – Giá vốn hàng bán Có TK 2147 – Hao mòn bất động sản đầu tư. Giảm hao mòn bất động sản đầu tư do bán bất động sản đầu tư: Nợ TK 2147: Hao mòn lũy kế Nợ TK 632: Giá trị còn lại Có TK 217: Nguyên giá Giảm hao mòn bất động sản đầu tư do chuyển đổi bất động sản đầu tư thành hàng hóa bất động sản Nợ TK 2147: Hao mòn lũy kế Nợ TK 1567: Giá trị còn lại Có TK 217: Nguyên giá Trường hợp chuyển bất động sản đầu tư thành bất động sản chủ sở hữu sử dụng phải kết chuyển hao mòn: Nợ TK 2147: Hao mòn bất động sản đầu tư Có TK 2141 hoặc 2143 1.4. Chuẩn mực kế toán quốc tế và kinh nghiệm một số nước về tính khấu hao và kế toán khấu hao TSCĐ Theo chuẩn mực kế toán quốc tế về tài sản cố định hữu hình số 16, điều kiện ghi nhận tài sản có thể xem là một nguyên tắc nền tảng. Tài sản chỉ được phép ghi nhận khi và chỉ khi nó có thể mang lại lợi ích kinh tế tương lai cho doanh nghiệp, nguyên giá có thể xác định một cách đáng tin cậy và tài sản được dự kiến sẽ sử dụng trong nhiều hơn một kỳ. Chuẩn mực này không áp dụng cho: - Tài sản sinh học liên quan đến hoạt động nông nghiệp; - Tài nguyên rừng và các nguồn tài nguyên tương tự tái sinh được; - Các quyền về khoáng sản, quyền thăm dò và khai thác khoáng sản, dầu, khí thiên nhiên, và các nguồn tài nguyên tương tự không tái sinh được. Chuẩn mực cũng quy định về xác định giá trị sau khi ghi nhận ban đầu- phương pháp hạch toán thay thế cho phép đó là giá trị đánh giá lại được chấp nhận như là phương pháp hạch toán thay thế được phép cho việc xác định giá trị sau khi ghi nhận ban đầu. Quyết định được thực hiện bởi ban lãnh đạo doanh nghiệp. Chuẩn mực kế toán quốc tế về TSCĐ vô hình số 38 quy định điều kiện ghi nhận TSCĐVH gồm hai tiêu chuẩn: - Có khả năng doanh nghiệp thu được lợi ích kinh tế trong tương lai gắn liền với tài sản đó. - Nguyên giá tài sản có thể được xác định một cách đáng tin cậy. Chuẩn mực này không áp dụng cho: - TSCĐVH được quy định theo IAS khác. - Tài sản tài chính (IAS 32). - Các quyền về khoáng sản, quyền thăm dò và khai thác khoáng sản, dầu, khí thiên nhiên, và các nguồn tài nguyên tương tự không tái sinh được. - Tài sản vô hình phát sinh trong các doanh nghiệp bảo hiểm từ các hợp đồng với người tham gia bảo hiểm. *Kế toán khấu hao TSCĐ của Mỹ: Ở Mỹ, cơ sở được thiết lập cho việc khấu hao TSCĐ là nguyên giá TSCĐ và giá trị thu hồi của TSCĐ. Trong đó giá trị thu hồi là phần ước tính có thể thu hồi tại thời điểm thanh lý hoặc nhượng bán TSCĐ. Và khi thiết lập công thức tính khấu hao, thì giá trị thu hồi ước tính là yếu tố không thể thiếu bất kể đó là phương pháp nào. Lấy ví dụ về phương pháp khấu hao đều theo thời gian: Số khấu hao phải trích hàng năm = Nguyên giá TSCĐ - Giá trị thu hồi ước tính Số năm hữu dụng ước tính Theo chế độ qui định các doanh nghiệp có thể sử dụng một trong các phương pháp tính khấu hao sau: - Phương pháp khấu hao đều theo thời gian - Phương pháp khấu hao theo thời gian sử dụng máy thực tế - Phương pháp khấu hao theo sản lượng sản xuất - Phương pháp khấu hao giảm dần: Có nhiều phương pháp khấu hao giảm dần có thể áp dụng, tuy nhiên có hai phương pháp được áp dụng phổ biến hiện nay đó là: khấu hao giảm dần với tỷ suất giảm dần và khấu hao giảm dần với tỷ suất không đổi. - Ngoài ra còn có các phương pháp khấu hao theo nhóm hoặc đa hợp Từ trên ta thấy sự khác biệt lớn nhất của kế toán khấu hao TSCĐ ở Mỹ so với Việt Nam đó là Mỹ sử dụng giá trị thu hồi TSCĐ trong công thức tính khấu hao. Đó là sự đúng đắn vì như thế mới phản ánh chính xác giá trị hao mòn của TSCĐ, qua đó xác định chi phí sản xuất kinh doanh hợp lý hơn. Một sự khác biệt nữa là: ở Mỹ phương pháp khấu hao nhanh được các doanh nghiệp sử dụng một cách phổ biến. Đây là phương pháp khấu hao ưu việt, nó cho phép doanh nghiệp thu hối vốn đầu tư nhanh để đầu tư, đổi mới công nghệ... Ở Việt Nam phương pháp này mới đang được thí điểm ở một số doanh nghiệp thuộc ngành công nghệ cao. *Kế toán khấu hao TSCĐ của Pháp Giống như Mỹ và Việt Nam, ở Pháp cũng có nhiều phương pháp tính khấu hao TSCĐ. Nhưng có hai phương pháp tính khấu hao được sử dụng phổ biến là phương pháp khấu hao đều theo thời gian và phương pháp khấu hao giảm dần. Theo qui định của chế độ kế toán Pháp, TSCĐ đưa vào sử dụng ngày nào thì tính khấu hao từ ngày đó. Nếu TSCĐ đang được sử dụng mà đem nhượng bán hoặc thanh lý thì sẽ tính khấu hao đến ngày nhượng bán hoặc thanh lý. Do đó, thời gian sử dụng trong năm có thể tính khấu hao theo năm, theo tháng, hoặc theo ngày tuỳ theo thời gian sử dụng TSCĐ. Điều này giúp cho việc xác định giá trị hao mòn của TSCĐ chính xác hơn việc tính khấu hao TSCĐ theo nguyên tắc tròn tháng, tròn năm. Phần 2: Một số ý kiến đề xuất nhằm hoàn thiện phương pháp tính khấu hao và kế toán khấu hao TSCĐ trong các doanh nghiệp 2.1. Đánh giá phương pháp tính khấu hao và kế toán khấu hao TSCĐ trong các doanh nghiệp 2.1.1. Ưu điểm Xuất phát từ những yêu cầu của công tác quản lý, cũng như sự đòi hỏi mạnh mẽ phải hội nhập của nền kinh tế với khu vực và quốc tế, cũng để ngày càng phù hợp với thông lệ kế toán quốc tế thì nhà nước đã ngày càng có những văn bản điều chỉnh các quy định trong công tác kế toán tài chính. Việc ban hành 26 chuẩn mực kế toán Việt Nam theo Quyết định số 100/2005/QĐ-BTC ngày 28/12/2005 của Bộ trưởng Bộ Tài chính. Trong đó có chuẩn mực số 03, 04 là các chuẩn mực về TSCĐ hữu hình và vô hình, đã làm cho công tác kế toán về TSCĐ ngày càng được hoàn thiện thêm, đặc biệt có các vấn đề khá phức tạp và nhạy cảm trong đầu tư quản lý sử dụng và thu hồi vốn đối với TSCĐ cũng như ảnh hưởng của nó tới xác định thuế thu nhập doanh nghiệp. Việc ban hành quyết định số 100/2005/QĐ-BTC trong đó có 2 chuẩn mực 03, 04, các chuẩn mực này đã có nhiều điểm phù hợp với các chuẩn mực và thông lệ quốc tế nhất là với hệ thống chuẩn mực kế toán của các nước Tây Âu và ngày càng phù hợp hơn với đặc điểm của nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN ở Việt Nam. Việc quy định thời gian sử dụng hữu ích và phương pháp khấu hao (tuy phải thực hiện nhất quán trong nhiều kỳ) nhưng đã cho phép xem xét lại định kỳ, thường là cuối năm tài chính nếu thời gian hữu ích không còn phù hợp hoặc có sự thay đổi đáng kể trong cách thức sử dụng tài sản thì được điều chỉnh thời gian sử dụng hữu ích, tỷ lệ khấu hao và thay đổi phương pháp khấu hao cho năm hiện hành và những năm tiếp theo. Việc ban hành thông tư 203/2009/TT-BTC ngày 20/10/2009 đã nâng giá trị về tiêu chuẩn TSCĐ từ 5 triệu đồng lên 10 triệu đồng việc đó đã tạo điều kiện hơn cho doanh nghiệp đẩy nhanh việc thu hồi vốn đầu tư đối với những tài sản của doanh nghiệp. Cùng với việc mở rộng hơn các phương pháp khấu hao cũng đã góp phần tạo điều kiện cho doanh nghiệp áp dụng cho phù hợp với những đặc điểm của TSCĐ và đặc điểm của doanh nghiệp. - Về cách tính khấu hao: Theo thông tư 203/2009/TT-BTC thì khấu hao tròn ngày; TSCĐ tăng ngày nào thì tính khấu hao luôn ngày đó, TSCĐ giảm ngày nào thì thôi tính khấu hao ngày đó. Trong khi quyết định số 166 cũ thì tính khấu hao tròn tháng; TSCĐ tăng hoặc giảm tháng này thì tháng sau mới tính hoặc thôi tính khấu hao. Điều này giúp cho việc xác định giá trị hao mòn của TSCĐ chính xác hơn việc tính khấu hao TSCĐ theo nguyên tắc tròn tháng, tròn năm. - Về khung khấu hao của các TSCĐ: Theo thông tư số 203/2009/TT-BTC thì thời gian trích khấu hao nhanh hơn, còn theo quyết định 166 cũ thì thời gian trích khấu hao TSCĐ chậm. Như vậy chế độ tài chính hiện hành về việc trích khấu hao TSCĐ theo thông tư số 203/2009/TT - BTC của Bộ tài chính áp dụng trong các doanh nghiệp là phù hợp với tình hình phát triển kinh doanh của các doanh nghiệp hiện nay. Vì trích khấu hao TSCĐ theo quyết định mới sẽ tạo điều kiện cho các doanh nghiệp thu hồi được vốn đầu tư vào TSCĐ nhanh hơn để tái tạo TSCĐ. 2.1.2. Tồn tại Tổ chức hoạch toán khấu hao tài sản cố định không chỉ có ý nghĩa góp phần nâng cao chất lượng quản lí và hiệu quả sử dụng mà còn có ý nghĩa thiết th

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docBàn về phương pháp tính khấu hao và kế toán khấu hao TSCĐ trong các doanh nghiệp.doc
Tài liệu liên quan