Đề tài Chính sách và thành tựu giáo dục Singapore: Những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

MỤC LỤC

 

1. Giới thiệu chung về Singapore 5

2. Những chính sách giáo dục tiêu biểu của Singapore 6

2.1. Ngân sách đầu tư cho giáo dục 6

2.2 Chính sách song ngữ 8

2.2.1.Vì sao chọn chính sách song ngữ 8

2.2.1.1.Chính sách song ngữ vì hòa bình sắc tộc 8

2.2.1.2.Tiếng Anh – ngôn ngữ quốc tế 10

2.2.2. Sự phản đối của người Hoa 11

2.2.3. Những mặt hạn chế của chính sách 11

2.3. Chính sách thu hút nhân tài 12

2.3.1. Lí do chọn chính sách thu hút nhân tài 12

2.3.2. Các biện pháp đưa ra để thực hiện chính sách này và những kết quả đạt được 13

2.4. Kết hợp cả giáo dục phương Đông và phương Tây 15

2.5. Phương pháp dạy ít hơn, học nhiều hơn 16

2.5.1. Tại sao chọn chính sách này 16

2.5.2.Chính sách được thực hiện như thế nào 17

2.5.3. Thách thức đối với mô hình giáo dục này 19

2.6. Đầu tư dạy môn toán và khoa học trong trường học 19

3. Những thành tựu tiêu biểu đã đạt được 20

4.Bài học kinh nghiệm cho giáo dục Việt Nam 22

4.1. Tăng cường việc dạy và học tiếng Anh 22

4.2. Chú trọng đầu tư chất lượng giáo viên bằng các biện pháp thực tế 23

4.3. Việt Nam nên có những ngành nghề đào tạo kĩ thuật, đào tạo những công nhân lành nghề đang còn rất thiếu trong bối cảnh công nghiệp hóa hiện đại hóa 24

4.4. Nhân tài và thu hút nhân tài 25

Kết luận 27

Tài liệu tham khảo 28

 

doc29 trang | Chia sẻ: maiphuongdc | Ngày: 12/09/2013 | Lượt xem: 3837 | Lượt tải: 51download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đề tài Chính sách và thành tựu giáo dục Singapore: Những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
tiểu học nhất thiết phải học song ngữ đó là tiếng Anh và tiếng mẹ đẻ.Việc xác định chính sách song ngữ trong giáo dục Singapore là một quyết sách hoàn toàn đúng đắn vì Singapore là một cộng đồng đa dân tộc, mỗi một tộc người có một bản sắc văn hóa ,ngôn ngữ riêng và dân tộc nào cũng muốn duy trì bản sắc dân tộc đó Singapore không có tôn giáo nào là quốc giáo. Theo số liệu điều tra dân số tháng 7/ 2003 dân số Singapore là 4.608.595 người trong đó người Hoa chiếm 76,4%, Ấn Độ chiếm 6,4%, người Singapore 14,9%, các dân tộc khác 2,3% (Phạm Mộng Hoa : “ Địa lí kinh tế xã hội các nước ASEAN ” tập 1 ). Như vậy Singapore vẫn là một quốc gia đa dân tộc cho đến ngày nay. Chính sách song ngữ là chính sách nhằm mục đích tạo nên sự hòa bình giữa các sắc tộc. Mỗi một thời kì ở Singapore lại có một chính sách ngôn ngữ riêng phù hợp với thời kì đó. Dưới thời thuộc địa Singapore đã có một cộng đồng nói nhiều thứ tiếng. Người Anh để mặc dân chúng quyết định cách giáo dục con cái. Chính phủ xây dựng một số lượng giới hạn trường tiếng Anh nhằm đào tạo thư kí, thủ kho, … cũng như những trường dạy tiếng Malay cho người Malay. Người Ấn điều hành các trường tiểu học hoặc các lớp dạy học bằng tiếng Ấn, Tamil. Người Hoa xây dựng trường học nhờ vào tài chính của những người thành đạt trong cộng đồng để dạy tiếng Hoa. Do các sắc tộc khác nhau được dạy dỗ bằng ngôn ngữ của chính họ cho nên họ có sự gắn bó về mặt tình cảm với tiếng mẹ đẻ rất sâu sắc. Họ không dễ dàng gì từ bỏ ngôn ngữ của mình để nói một ngôn ngữ hoàn toàn khác. Họ cũng giống như 5 triệu người sống ở Quebec kiên trì giữ gìn tiếng Pháp trong một đại lục có đến 300 triệu người nói tiếng Anh . Hơn nữa một vấn đề cấp thiết cần được giải quyết ngay đó là phải có một ngôn ngữ chung trong lực lượng vũ trang Singapore vì sẽ rất khó khăn để chỉ huy một tập thể mà nói nhiều thổ ngữ khác nhau cũng như phải đương đầu với một viễn cảnh bước vào trận chiến mà không hiểu nhau dù có sử dụng bất kì ngôn ngữ nào trong 4 ngôn ngữ chính thức đi chăng nữa. Do đó chính sách song ngữ đã giữ nguyên tiếng mẹ đẻ trong giáo dục sẽ không làm mất đi truyền thống của họ làm họ cảm thấy giá trị văn hóa dân tộc mình được lưu giữ giữa một quốc gia đa văn hóa đa dân tộc. 2.2.1.2.Tiếng Anh –ngôn ngữ quốc tế Trong xu hướng toàn cầu hóa như hiện nay, Tiếng Anh là ngôn ngữ quốc tế, ngôn ngữ nơi làm việc và đặc biệt rất phù hợp với một cộng đồng giao thương như Singapore. Tiếng Anh sẽ phá vỡ những rào cản ngôn ngữ và văn hóa trong giao tiếp lớp trẻ đồng thời xóa bỏ đi những bất công trong cơ hội tìm kiếm việc làm giữa các thí sinh tốt nghiệp trường tiếng Anh và các trường tốt nghiệp thứ tiếng khác. Thông thạo tiếng Anh là một công cụ cho họ tiếp cận được những tri thức tiên tiến nhất trên thế giới hiện nay, phục vụ đắc lực cho sự nghiệp công nghiêp hóa hiện đại hóa, mang đến cho người Singapore sự tự tin và khẳng định mình trong thế giới châu Á mà từ xa xưa con người không biết đến cái tôi của mình và tạo điều kiện cho sự tiếp xúc với văn hóa phương Tây lấy cá nhân làm trung tâm cũng thâm nhập ngày càng mạnh ở nước này. Năm 1971, tiếng Anh trở thành ngôn ngữ quốc gia, ngôn ngữ hành chính thống nhất của Singapore. . Vì thế chính sách song ngữ được đưa ra là để nguyên giá trị vốn có của nó với 4 ngôn ngữ chính thức là tiếng Malay, tiếng Hoa (phổ thông) tiếng Tamil và tiếng Anh. Do đó chính phủ đề ra việc học 3 thứ tiếng Quan Thọai , Malay, Tamil ở các trường tiếng Anh và giới thiệu việc học tiếng Anh trong các trường dạy bằng tiếng Hoa, tiếng Hoa tiếng Malay và Tamil. Thực tế đã chứng minh việc sử dụng đồng thời cả tiếng Anh là một nhân tố quan trọng. Năm 1966 Đại học Nanyang( Natah) là đại học dạy bằng tiếng Hoa sau này phải đối đầu với những khó khăn. Cơ hội kiếm việc làm cho những người tốt nghiệp ở trường này rất ít. Số lượng sinh viên đến học ở Đại học Singapore ngày càng tăng vì Đaih học Singapore lúc đó sử dụng giảng dạy cả tiếng Anh trong trường đại học là một điều kiên jthuaanj lợi để sinh viên sau khi tốt nghiệp có cơ hội tìm liếm việc làm cao. Những sinh viên giỏi hơn ở các trường tiếng Hoa thi lấy chứng chỉ Anh ngữ của trường Cambridge với tư cách là thí sinh tự do để có thể vào học ở Đại học Singapore. Đại học Nanyang phải hạ điểm chuẩn đầu vào cũng như tiêu chuẩn tốt nghiệp nhưng việc làm này đồng nghĩa với việc là giảm đi uy tín của trường và giá trị của những người tốt nghiệp (Lí Quang Diệu : “Bí quyết hóa rồng ”). Do vậy càng thấy được vai trò của việc học tiếng Anh trong một cộng đồng đa sắc tộc ở Singapore là rất cần thiết . 2.2.2.Sự phản đối của người Hoa Khi chính sách này của chính phủ được đưa ra họ cũng phải đối mặt với một làn sóng phản đối mạnh mẽ của những người gốc Hoa. Khi đề ra chính sách song ngữ thì hiệp hội nhà giáo người Hoa, các ủy ban quản lí trường tiếng Hoa, chủ bút, chủ báo và phóng viên báo tiếng Hoa đã phản đối. Cuối năm 1970 tờ báo tiếng Hoa lớn nhất là Nanyang SiangPang viết nhiều bài báo buộc tội chính quyền đàn áp ngôn ngữ, nền giáo dục văn hóa của người Hoa. Họ vẽ chân dung của Thủ tướng Lí Quang Diệu như một kẻ đàn áp trong một chính phủ “toàn những kẻ ngoại lai quên tổ tông” ( Lí Quang Diệu : “ Bí quyết hóa rồng ”) 2.2.3 Hạn chế của chính sách này Tuy chính sách song ngữ có những đóng góp đáng kể trong sự phát triển giáo dục, kinh tế, xã hội, con người ở Singapore nhưng chúng ta cũng không thể phủ nhận những mặt hạn chế của chính sách này như : - Chính sách song ngữ bằng tiếng Anh và tiếng Malay, tiếng Hoa hay tiếng Tamil đều là gánh nặng lên vai học sinh vì 3 ngôn ngữ mẹ đẻ này hoàn toàn không can hệ gì đến tiếng Anh.Tiếng Quan Thoại ( tiếng Hoa phổ thông ) thuộc ngữ hệ Hán Tạng, tiếng Malay thuộc ngữ hệ Nam Đảo, tiếng Tamil thuộc ngữ hệ Nam Á.Bản thân 3 thứ tiếng này cùng nằm trong một châu lục nhưng cũng không có mối liên quan gì tới nhau, chứ chưa xét đến mối liên hệ với một ngôn ngữ phương Tây là tiếng Anh. - Khi dùng tiếng Anh làm ngôn ngữ giảng dạy những giá trị Nho giáo truyền thống không thể được củng cố trong toàn trường học bởi vì cả giáo viên lẫn học sinh đều là những người thuộc nhiều chủng tộc và sách giáo khoa không được viết bằng tiếng Hoa. Chính sách “nhiều tiếng nói một ngôn ngữ” cũng là một nguy cơ làm giảm đi giá trị truyền thống đạo đức trong sinh viên qua việc tăng tiếp xúc với văn hóa phương tây. -Họ được giáo dục bằng tiếng Anh từ nhỏ nên rất thuần thục tiếng Anh. Những người có bằng cấp ở Singapore muốn du học và làm việc tại những môi trường tốt hơn như Anh, Úc là điều rất dễ dàng vì họ có trong tay chìa khóa tiếng Anh vì thế đây cũng là môt hạn chế do nó thúc đẩy tình trạng chảy máu chất xám ở Singapore. 2.3.Chính sách thu hút nhân tài 2.3.1. Lí do chọn chính sách thu hút nhân tài Đối với bất kì một quốc gia nào trên thế giới nhân tài là một hạt nhân, một yếu tố trọng yếu góp phần mang lại thành công cho đất nước vì có nhân tài sẽ là một đòn bẩy thúc đẩy sự phát triển của đất nước. Nguyên Thủ tướng Lí Quang Diệu đã phát biểu : “ Nếu thắng trong cuộc đua giáo dục sẽ thắng trong cuộc đua kinh tế”tức là nếu lĩnh vực giáo dục được đầu tư phát triển, đào tạo ra nguồn nhân lực chất lượng cao thì sẽ là một điều kiện thuận lợi đưa đất nước đi tới thành công. Thực trạng Singapore sau khi tách ra khỏi Liên Bang Malaisia rất khó khăn. Chính phủ Singapore nhận thức rằng ngoài tiềm năng con người và vị trí địa lí tự nhiên trời cho, Singapore không có một nguồn tài nguyên nào và cách duy nhất để tồn tại và phát triển là đầu tư cho giáo dục, phát triển kĩ năng con người để họ trở thành trụ cột của đất nước. Thêm vào đó, cuối những năm 70, Singapore phải đối mặt với thực trạng có 5 % người có trình độ ra đi khỏi Singapore và những khó khăn về nguồn nhân tài càng trở nên nghiêm trọng hơn khi các quốc gia phương Tây thay đổi chính sách nhập cư chấp nhận người di dân châu Á. Điển hình như : Australia sửa đổi chính sách vào tháng 3 năm 1966, Canada tháng 10 năm 1967, Mĩ tháng 7 năm 1968.. ( Lí Quang Diệu : “ Tuyển tập 40 năm chính luận ” ) Thủ tướng Lí Quang Diệu đã thực hiện chính sách thu hút nhân tài ở cả trong và ngoài nước. 2.3.2.Các biện pháp được đưa ra để thực hiện chính sách này và những thành tựu đã đạt được. Chính phủ cho thành lập hai ủy ban phát triển nhân lực trong nước: một ủy ban có nhiệm vụ giúp những người có năng lực làm đúng nghề và một ủy ban kết hợp họ lại thành xã hội. Đối với những người thuộc loại xuất sắc ủy ban sẽ có kế hoạch sắp xếp việc làm phù hợp với trình đọ của họ ngay trước khi tốt nghiệp. ( hay còn gọi là ủy ban dịch vụ tư vấn chuyên gia và chuyên nghiệp (PIPS). Kết quả là vào những năm của thập niên 90 dòng nhân tài chảy vào thông qua việc tuyển dụng đạt gấp 3 lần dòng chảy ra ) . Lập hai cơ quan thu hút nhân tài từ Ấn Độ và các nước trong khu vực nhằm giữ chân người có trình độ và thu hút thêm nhân lực có khả năng ở bên ngoài vào ( có những chính sách ưu đãi nhà ở, lương bổng, phương tiện đi lại) ( hay còn gọi là ủy ban chiêu mộ nhân tài ngoại quốc CATS ( Lí Quang Diệu : “ Tuyển tập 40 năm chính luận ”).Ủy ban này đã đưa ra vài trăm học bổng cho các sinh viên giỏi đến từ Trung Quốc, Ấn Độ và các nước khác trong khu vực với hi vọng một số sẽ ở lại vì những cơ hội việc làm tốt hơn. Những người sau này khi trở về nước vẫn có thể giúp đỡ cho các công ty của Singapore ở nước ngoài. Chính sách thu hút nhân tài ở Singapore chú trọng cả nhân tài trong và ngoài nước vì chính phủ xác định rõ ràng rằng Singapore là một quốc gia đa dân tộc và đặc điểm này vẫn còn tồn tại tới tận ngày hôm nay và người ngoại quốc tới nhập cư tại Singapore cũng chiếm một số lượng đáng kể trong tổng số dân của đảo quốc này. Chính vì thế Chính phủ Singapore xác định : “Đối với người Singapore vì lợi ích của toàn thể nhân dân, không phân biệt chủng tộc, tôn giáo, ngôn ngữ cần phải đào tạo những tài năng trẻ ở mức độ cao nhất để phát huy hết tiềm năng của họ. Đồng thời vì những người bình thường ở Singapore chúng ta cần để những người có tài được hưởng thù lao xứng đáng, thưởng cho những đóng góp của họ đối với sự phát triển về mọi mặt của đất nước. Nếu mất một nhân tài có học vấn Singapore sẽ như người bị chặt mất một khúc cánh tay phải, chẳng làm nên chuyện gì được ( Lí Quang Diệu : “ Tuyển tập 40 năm chính luận ”) Trong 30 bài phát biểu được tuyển chọn của thủ tướng Lí Quang Diệu có tới 9 bài đề cập đến vấn đề nhân tài, đào tạo nhân tài, chiêu mộ nhân tài tới định cư, đóng góp của các nhân tài, sự đãi ngộ nhân tài…Ông Lí Quang Diệu đã vô cùng sáng suốt khi nhận định rằng “ nếu những kẻ bất tài và cơ hội nắm quyền ở nước ta thì nhân dân sẽ phải trả giá đắt” và “ không gì có thể thay thế được những bộ trưởng tài giỏi” ( Lí Quang Diệu : “ Tuyển tập 40 năm chính luận” ) Chính phủ Singapore ngoài việcc thu hút nhân tài trong nước còn đề ra những chính sách hấp dân thu hút nhân tài từ nước ngoài đó là khuyuến khích họ định cư tại Singapore, sau này được hưởng quyền công dân, mua những căn biệt thự cao cấp của Cục nhà ở và phát triển và của công ty phát triển thành phố. Cần thu hút những nhân tài lao động trí óc, nếu họ là người châu Á học càng có khả năng thích ở lại đây lâu dài, nếu họ là người ngoài châu Á (vì ở Singapore đưa ra một điều kiện sống và làm việc cao hơn và chất lượng hơn các quốc gia của họ) thì chính phủ Singapore tạo nghề nghiệp cho họ suốt đời chứ không phải là hợp đồng nhất thời. Thực tế cho thấy những nhân tài từ nước ngoài tới đã đóng góp một phần không nhỏ cho thành công của Singapore tiêu biểu như : thập kỉ 80 các ngành ở Singapore phần lớn là người nước ngoài lãnh đạo : Chủ tịch Cục quản lí thị trấn Dụ Lang Đường Nghĩa Phương đến từ tỉnh An Huy Trung Quốc, Chủ tịch Cục điện tín Dung Vĩnh Thành đến từ Thượng Hải…( Lía Quang Diệu : “ Tuyển tập 40 năm chính luận ”) . Sự tập trung cao độ nhân tài từ bên ngoài vào đã tạo cho giới lãnh đạo Singapore có thêm nguồn nhân lực dồi dào và chất lượng cao .Do đó ngành giáo dục Singapore cũng là một trọng điểm trong việc thu hút nhân tài từ nước ngoài vào đó là việc mời nhiều hơn các giảng sư có trình độ cao hơn để nâng cao chất lượng của trường Đại học đào tạo những sinh viên ưu tú hơn. Thủ tướng Lí Quang Diệu đã viết trong hồi kí của mình : “Trong trường đại học thầy cô giáo là người da trắng, da đen, da vàng hay da nâu hay hỗn chủng điều đó không quan trọng. Điều quan trọng là họ có năng lực, có nhiệt tình hay không. Nếu muốn có thầy cô giáo tốt chúng ta phải trả lương theo tiêu chuẩn quốc tế. Đồng thời chúng ta sẽ khuyến khích để có thêm nhiều hơn nữa học giả Singapore trở thành giảng sư đại học”( Lí Quang Diệu : “ Tuyển tập 40 năm chính luận ”) .Chúng ta thấy rõ rằng điều quan trọng trong chính sách của Singapore đó là họ đã không phân biệt chủng tộc, tôn giáo, mà chú trọng việc cần đào tạo ra những tài năng ở mức độ cao nhất để phát huy hết tiềm năng của họ đối với sự phát triển về mọi mặt của đất nước. Bộ Giáo dục Singapore vừa quyết định từ tháng 4-2008 sẽ tăng lương giáo viên. Theo luật mới, lương giáo viên được tăng 12% và với người giảng dạy tốt có thể tăng 18%. Để đảm bảo đợt tăng lương này, Chính phủ Singapore phải chi thêm 380 triệu đô la Singapore/năm. Ngoài ra, tuỳ vào thành tích giảng dạy, giáo viên sẽ được thưởng tương đương 1 tháng đến 2,25 tháng lương. Như vậy, mức lương mới của giáo viên đứng lớp bình quân trên 3 năm sẽ tăng từ 52.000 lên 58.000 đô la Singapore, cao nhất có thể lên đến 65.000 đô la Singapore[1]. Mức lương hấp dẫn và đảm bảo cho cuộc sống của họ nên đó sẽ là một điều kiện thuận lợi để họ tập trung cho chuyên môn của mình từ đó mà chất lượng giáo dục sẽ cao lên, hơn nữa cũng là một trong những biện pháp để hạn chế tình trạng tham nhũng trong ngành giáo dục. 2.4. Kết hợp mô hình giáo dục theo kiểu phương Đông và phương Tây Singapore là một đất nước của những người nhập cư từ rất nhiều quốc gia đặc biệt là ở khu vực châu Á. Chính vì thế ở Singapore nét văn hóa phương Đông được giữ gìn và phát huy một cách mạnh mẽ trong đó người Hoa chiếm phần lớn dân số ở đảo quốc này và văn hóa của họ cũng chiếm ư thế hơn so với các quốc gia khác. . Thực tế trong thời đại hội nhập và phát triển như hiện nay việc kết hợp những giá trị truyền thống phương Đông và giá trị hiện đại của phương Tây cũng là một việc làm hết sức cần thiết. Về mặt giáo dục và đào tạo chính phủ Singapore đã nhận thấy điểm mạnh của hệ thống giáo dục phương Đông là định hướng thi cử và trọng nhân tài. Điểm mạnh của hệ thống giáo dục phương Tây chú trọng phát triển cá tính và phát triển toàn diện . Do đó việc kết hợp cùng lúc hai mô hình giáo dục này sẽ đào tạo ra những con người Singapore mới toàn diện, có nhân cách, biết giữ gìn các giá trị đạo đức chân chính, sống khoan dung và có lòng tự hào về bản thân mình và đất nước mình. Ở Singapore các nền văn hóa, tôn giáo tín ngưỡng đều được trân trọng. Tuy nhiên với một số dân là người Hoa chiếm ưu thế thì Nho giáo vẫn chiếm vị trí chủ đạo.Thủ tướng Lí Quang Diệu cho rằng Khổng học giáo dục nhân cách tốt hơn, và muốn duy trì một xã hội tốt đẹp thì không thể không giữ gìn các giá trị truyền thống, xây dựng một người Singapore mang đậm màu sắc Trung Hoa truyền thống : tôn trọng kỉ cương, cần cù lao động, tự lực, tôn trọng thành quả chung, củng cố gia đình,ý thức về bổn phận và nghĩa vụ, ham học. Chính phủ rất chú trọng việc giáo dục Nho học trong thế hệ thanh thiếu niên, chính vì thế từ năm 1984 Bộ giáo dục Singapore đã chính thức đưa môn học Khổng giáo thành môn lí luận cho tất cả các trường phổ thông. Song song với đó, nhà trường còn tổ chức cho học sinh tham gia các họat động ngoại khóa, giải trí, thể thao, nghệ thuật biểu diễn ….là những hoạt động bên lề của giáo dục. Những chính sách trên cho thấy, Singapore là một đất nước hiện đại, tuy nhiên những giá trị văn hóa truyền thống mà tiêu biểu ở đây là Singapore kết hợp được giá trị của Nho giáo và phát huy song song với sự giáo dục theo kiểu phương tây. Sự kết hợp ấy đã mang lại cho Singapore một ưu thế đóng góp không nhỏ cho sự phát triển giáo dục mà còn cả trong các lĩnh vực kinh tế ( tôn trọng chữ tín, cạnh tranh lành mạnh) chính trị ( chống tham ô,tham nhũng, gây dựng được lòng tin tuyệt đối ở nhân dân) … 2.5.Phương pháp dạy ít hơn, học nhiều hơn 2.5.1.Tại sao lại đưa ra chính sách này Trước năm 1997 giáo dục Singapore vẫn còn mang nặng những đặc điểm của nền giáo dục theo kiểu truyền thống Á Đông. Phương pháp giảng dạy đó còn máy móc, chỉ giúp cho sinh viên ghi nhớ kiến thức và để vượt qua các kì thi, không giúp phát huy tính sáng tạo trong học sinh sinh viên. Năm 2005 Bộ giáo dục Singapore đưa ra khẩu hiệu dạy ít Hơn, học nhiều hơn ( Teach less, learn more), nhằm tăng cường khả năng tư duy, dộc lập trong suy nghĩ, tìm tòi, sáng tạo trong học sinh, sinh viên. Học các kĩ năng sống, hòa nhập với cộng đồng, hòa nhập với thế giới, kĩ năng lãnh đạo. kĩ năng xử kí tình huống. Đây là những kĩ năng cần thiết cho con người trong thời đại ngày nay khi mà thế giới đang ngày càng tiến tới sự hội nhập, hợp tác. 2.5.2.Chính sách được thực hiện như thế nào? Mô hình “Dạy ít, học nhiều” được thực hiện từng bước một chứ không phải là một bước chuyển đột ngột. Một ví dụ về việc thực hiện mô hình này là sự ra đời của chương trình “Project Work” vào năm 2000, cho phép sinh viên học cách làm việc nhóm và áp dụng kiến thức vào thực tế[7]. Theo Bộ giáo dục Singapore, Project Work là một phương pháp đào tạo, theo đó các môn học sẽ được tích hợp, kết nối với nhau giúp sinh viên khám phá sự gắn kết và thống nhất giữa chúng. Project Work sẽ giúp sinh viên phát triển kỹ năng trong 4 lĩnh vực sau: Áp dụng kiến thức: Sinh viên được học các kỹ năng nghiên cứu cơ bản, áp dụng và lưu chuyển kiến thức giữa các môn học khác nhau và tạo mối liên hệ giữa chúng. Truyền thông: Sinh viên học cách truyền đạt ý tưởng một cách rõ ràng và hiệu quả. Hợp tác: Sinh viên phát triển các kỹ năng xã hội thông qua các bài tập làm việc nhóm nhằm đạt mục tiêu chung. Học tập độc lập: Sinh viên phải chịu trách nhiệm và tự quản lý sự học của mình, phát triển thái độ học tập và nghiên cứu tích cực. Project Work được chú trọng hơn ở trường Trung học cơ sở, Trung học phổ thông. Đối với trường tiểu học, Bộ giáo dục đưa ra chính sách “Giáo dục tích cực” (Strategies for Effective Engagement and Development – SEED), kêu gọi giáo viên xây dựng các chiến lược hiệu quả để kích thích tinh thần học tập của học sinh ngay từ khi các em mới bước chân vào trường học.[15] Theo chính sách này, các trường tiểu học sẽ phải cải thiện cả chương trình giảng dạy và phương pháp đánh giá chất lượng giáo dục. Ví dụ, Trường tiểu học Rulang đã tổ chức lại chương trình học để học sinh hào hứng và tham gia tích cực hơn vào bài giảng. Các em được học các kiến thức và kỹ năng thông qua những hoạt động vui tươi, hấp dẫn và phù hợp. Để hỗ trợ việc đổi mới giáo dục, Bộ giáo dục Singapore cam kết thực hiện những thay đổi về cấu trúc chương trình học và cung cấp những nguồn lực cần thiết. Bộ sẽ tăng cường tính linh hoạt, chủ động của các trường bằng cách rút gọn chương trình giảng dạy tới 10-20% để tạo “thời gian trống”. Giáo viên được tự do giành thời gian trống thực hiện các bài giảng do họ tự thiết kế, áp dụng nhiều phương pháp giảng dạy, đánh giá đa dạng để đáp ứng tốt hơn nhu cầu của từng học sinh. Bộ giáo dục giảm 2 giờ làm mỗi tuần cho mỗi giáo viên để họ có thêm thời gian lên kế hoạch giảng dạy và trao đổi kinh nghiệm chuyên môn. Theo chiến lược “Dạy ít, học nhiều”, Giáo dục Singapore tập trung nâng cao chất lượng học tập của sinh viên bằng cách tạo thêm nhiều “khoảng trống” trong chương trình học để giáo viên có thể thực hiện những kế hoạch giảng dạy riêng, cùng sinh viên định hình một môi trường giáo dục riêng và bồi dưỡng nghiệp vụ. Với mô hình “Dạy ít, học nhiều”, kiểu học vẹt, học vì thành tích sẽ bị loại bỏ. Thay vào đó, sinh viên sẽ chủ động hơn trong học tập, khám phá tri thức thông qua các thí nghiệm, trải nghiệm thực tế, học các kỹ năng sống và xây dựng nhân cách nhờ chiến lược đào tạo hiệu quả và sáng tạo. Ngoài ra, sinh viên cũng có thêm nhiều cơ hội học tập và rèn luyện toàn diện để phát triển tư duy, nhân cách và những tố chất để thành công trong tương lai. Mô hình “Dạy ít, học nhiều” đã được áp dụng ở nhiều trường học Singapore, đơn cử như Trường trung học Bedok South, học sinh được học làm phim và thiết kế poster cho Quỹ Trái tim Singapore, thiết kế bộ sạc điện thoại nhờ phần mềm máy tính…Không chỉ thế, trường học còn tạo điều kiện để các em biến thiết kế của mình thành sản phẩm thực sự. Với những hoạt động như vậy, học sinh đã đồng thời được học nhiều môn học khác nhau: Âm nhạc, nghệ thuật, thiết kế, công nghệ. . Về tài chính, Bộ giáo dục dành khoảng 40 triệu đô la Singapore để xây dựng cơ sở vật chất cho trường học nhằm đảm bảo tính chủ động của giáo viên và học sinh. Các trường có thể được trang bị các lớp học đặc biệt phù hợp với cả hoạt động tập thể, hoạt động nhóm, “phố sinh thái” để học về khoa học tự nhiên, hoặc một nhà hát để học nghệ thuật biểu diễn.[7] 2.5.3. Thách thức đối với mô hình giáo dục này Nhiều người cho rằng hệ thống giáo dục cũ có thể tiếp tục vận hành theo mô hình hiện tại mà vẫn đem lại kết quả tốt. Đó chính là một thách thức lớn đối với chiến lược “Dạy ít, học nhiều” bởi những cách tân theo kế hoạch của chính phủ sẽ là đem lại những bất lợi do tồn tại từ lâu một hệ thống giáo dục theo kiểu truyền thống. Để thực hiện thành công mô hình “Dạy ít, học nhiều”, giáo viên và những người quản lý giáo dục phải hiểu rằng học tập tích cực. Một người học tích cực là người dành toàn tâm toàn ý cho việc học tập, càng tích cực bao nhiêu thì chất lượng học tập càng tăng bấy nhiêu. Theo kiểu giáo dục truyền thống, giáo viên cung cấp thông tin và kiến thức để học sinh học thuộc và “nhai đi nhai lại”. Theo mô hình mới này, người học phải là người chủ động trong quá trình học; giáo viên chỉ đóng vai trò hướng dẫn, khuyến khích và hỗ trợ. 2.6. Đầu tư giảng dạy môn toán và khoa học trong các trường học Chính phủ Singapore xác định cần chú trọng giáo dục các môn khoa học tự nhiên, toán học trong trường học. Hiện nay, Singapore là quốc gia được xếp hàng đầu trong cả hai lĩnh vực toán và khoa học tại một cuộc nghiên cứu tập trung ở lứa tuổi học sinh lớp 4 ( tiểu học) và lớp 8 ( trung học ) được tiến hành tại 49 quốc gia vào năm 2002-2003 đã xác nhận chất lượng cao của các chương trình đào tạo toán và khoa học tại các trường công lập của Singapore[10]. Bộ giáo dục Singapore thu hút rất nhiều nhà khoa học hàng đầu về các lĩnh vực khoa học và kĩ thuật làm giảng sư tại các trường đại học và trả cho họ mức lương cực kì hấp dẫn cùng điều kiện làm việc tốt. Ngày 14/01/2009 Bộ giáo dục Singapore đa trao cho mười nhà khoa học xuất sắc trong các lĩnh vực khoa học công nghệ, khoa học nano, năng lượng mặt trời, y khoa,…đến từ các quốc gia như Mĩ, Nhật , Trung Quốc…đã nhận được học bổng hỗ trợ nghiên cứu hàng năm trị giá 15 triệu $ do Quỹ nghiên cứu quốc gia Singapore (NRF) trao tặng .[2] Các nhà khoa học trên được tuyển chọn từ 186 ứng cử viên trên toàn thế giới. Mỗi người nhận được học bổng trị giá 1,5 triệu USD, số tiền này phục vụ cho chu kỳ nghiên cứu công trình khoa học của họ trong vòng ba năm ở Singapore. Ngoài học bổng, các nhà khoa học này còn  được trả lương tương ứng khi làm việc trong các viện nghiên cứu trong thời gian ở đảo quốc này. Đây là lần thứ hai NRF trao học bổng hỗ trợ nghiên cứu cho các nhà khoa học trên khắp thế giới nhằm thu hút các nhân tài trẻ đến Singapore làm việc. Báo Straits Times dẫn lời tiến sĩ Francis Yeih, giám đốc quỹ NRF cho biết tổ chức này đang nhắm đến mục đích thu hút  khoảng 50-100 nhà khoa học trẻ trên thế giới đến Singapore bằng học bổng NRF, nhằm xây dựng lực lượng khoa học hùng mạnh đến Singapore nghiên cứu và làm việc trong mọi lĩnh vực khoa học. Mười nhà khoa học này là nhóm thứ hai nhận học bổng của NRF kể từ năm 2007.[2] 3. Thành tựu đạt được từ những chính sách này. Từ những chính sách giáo dục đó Singapore đã đạt được rất nhiềut hành tựu xuất sắc như sau : Theo thống kê năm 1996 tỉ lệ người biết chữ trong độ tuổi 15 trở lên là 92,2 % trong đó nam giới là 96,4 % , nữ giới là 87,8%.[3,24] Học sinh của Singapore được giáo dục bằng tiếng Anh ngay từ những năm đầu bước vào tiểu học, học song song cùng chính sách song ngữ. Lợi thế về tiếng Anh đó là điều kiện thuận lợi để họ tiếp cận những nền tri thức tiên tiến nhất trên thế giới.Khả năng giao tiếp tiếng Anh tốt cùng với những yếu tố chủ quan và khách quan khác đã giúp Singapore trở thành trung tâm tài chính, tiền tệ lớn và khối lượng giao dịch tiền tệ cao ( năm 1975 có 70 ngân hàng nước ngoài và 36 đại diện của nhiều công ty tài chính quốc tế, đến năm 1985 Singapore có 192 ngân hàng thương mại và 34 công ty hành chính, 84 công ty bảo hiểm) Trong 100 ngân hàng lớn trên thế giới thì có đến 70 ngân hàng đặt chi nhánh họat động tại Singapore (Phạm Thị Ngọc Thu : “ Bí quyết hóa rồng của Singapore ”). Tính đến năm 2006 Singapore có đến 6000 công ty đa quốc gia họat động thuận lợi. Bên cạnh đó, Singapore còn là một điểm du lịch hấp dẫn ở khu vực và trên thế giới là do có tiềm năng về lĩnh vực này như : một quốc gia đa dân tộc, nhiều bản sắc văn hóa, cơ sở h

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docNhững chính sách giáo dục tiêu biểu của Singapore.doc
Tài liệu liên quan