Đề tài Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp – nông thôn: Thực trạng, xu hướng và giải pháp

MỤC LỤC:

 

Chương I: Cơ sở lí luận về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn 3

I. Cơ cấu kinh tế nông nghiệp 3

1. Khái niệm về cơ cấu kinh tế nông nghiệp 3

2. Các bộ phận cấu thành kinh tế nông nghiệp 4

II. Cơ cấu kinh tế nông thôn 4

1. Khái niệm cơ cấu kinh tế nông thôn 4

2. Các bộ phận cấu thành kinh tế nông thôn 4

III. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông thôn 5

1. Khái niệm chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông thôn 5

2. Vì sao phải chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn 6

3. Nội dung của chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông thôn 9

4. Các nhân tố ảnh hưởng đến sự hình thành và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông thôn 11

Chương II: Phân tích thực trạng chuyện dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông thôn nước ta hiện nay 15

I. Thực trạng và xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn 15

1. Thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp 15

2. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn 20

Chương III: Giải pháp chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn 23

I. Mục tiêu và định hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn 23

1. Quan điểm và Mục tiêu của chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn 23

2. Định hướng của chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn 24

II. Một số giải pháp thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn 25

Kết luận 29

Phụ lục 31

Danh mục tài liệu tham khảo 34

 

 

 

doc35 trang | Chia sẻ: maiphuongdc | Ngày: 06/09/2013 | Lượt xem: 19156 | Lượt tải: 186download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đề tài Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp – nông thôn: Thực trạng, xu hướng và giải pháp, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
h của sản phẩm sản xuất ra và chức năng của nó trong quá trình tái sản xuất. Trong một vùng lãnh thổ(quốc gia,tỉnh,huyện) bao giờ cũng phát triển nhiều ngành kinh tế. Mỗi vùng lãnh thổ nông nghiệp bao giờ cũng có nhiều ngành với mối quan hệ mật thiết với nhau. Chính vì vậy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo ngành trong nông nghiệp chính là làm thay đổi các quan hệ tỷ lệ giữa các ngành trong GDP của vùng đó. Các ngành trong cơ cấu kinh tế nông thôn ra đời và phát triển gắn liền với sự phát triển của phân công lao động xã hội. Như vậy phân công lao động theo ngành là cơ sở hình thành các ngành và cơ cấu ngành. Chính vì vậy chuyển dịch vơ vấu ngành trong cơ cấu kinh tế nông thôn là một quá trình chuyển từ trạng thái cơ cấu cũ sang cơ cấu mới phù hợp hơn với sự phát triển tiến bộ của khoa học công nghệ, nhu cầu thị trường và nhằm sử dụng hiệu quả mọi yếu tố nguồn lực của đất nước. Mục tiêu chuyển dịch cơ cấu ngành trong cơ cấu kinh tế nông thôn là phải hướng tới một cơ cấu ngành hợp lí, đa dạng trong đó cần phát triển các ngành chủ lực có nhiều lợi thế để đáp ứng yêu cầu trong nước và xuất khẩu. Đồng thời phải kết hợp tối ưu giữa cơ cấu ngành với cơ cấu vùng lãnh thổ và cơ cấu các thành phần kinh tế. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo vùng lãnh thổ: Sự phân công lao động theo ngành kéo theo sự phân công lao động theo lãnh thổ, đó là hai mặt của một quá trình gắn bó hữu cơ với nhau, thúc đẩy nhau phát triển. Sự phân công lao động theo ngành bao giờ cũng diễn ra trên một lãnh thổ nhất định. Vì vậy cơ cấu kinh tế theo vùng lãnh thổ chính là sự bố trí các ngành sản xuất và dịch vụ theo không gian cụ thể nhằm khai thác tiềm năng và lợi thế so sánh của vùng. Xu thế chuyển dịch cơ cấu kinh tế vùng lãnh thổ là theo hướng đi vào chuyên môn hoá và tập trung hoá sản xuất và dịch vụ, hình thành những vùng sản xuất hàng hoá lớn,tập trung có hiệu quả cao, mở rộng mối quan hệ với các vùng chuyên môn hoá khác, gắn bó cơ cấu kinh tế của từng vùng với cả nước. Chuyển dịch cơ cấu theo thành phần kinh tế: Cơ cấu thành phần kinh tế là nội dung quan trọng của quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nói chung và cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn nói riêng. Trong nông nghiệp và nông thôn tồn tại nhiều thành phẩn kinh tế khác nhau tuỳ mỗi quốc gia, mỗi vùng mà số lượng thành phần kinh tế cũng khác nhau. Các thành phẩn kinh tế cơ bản như: kinh tế quốc doanh, tập thể, tư nhân, hộ gia đình. Trong đó kinh tế hộ gia đình và kinh tế trang trại là lực lượng chủ yếu trực tiếp tạo ra các nông, sản phẩm cho nềnkinh tế quốc dân và kinh tế hộ tự chủ đang trong xu hướng chuyển dịch từ kinh tế hộ tự cung,tự cấp sang sản xuất hàng hoá và từng bước tăng tỷ lệ hộ kiêm và hộ chuyên ngành nghề công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ. Do đó chuyển dịch cơ cấu thành phần kinh tế chính là sự thay đổi về các đơn vị sản xuất kinh doanh, xem thành phần kinh tế nào nắm vai trò tự chủ trong vịêc tạo ra các sản phẩm nông nghiệp chủ yếu cho nền kinh tế chung của xã hội. Đại hội Đảng lần thứ VI(năm 1986) đã khẳng định việc chuyển nền kinh tế nước ta từ nền kinh tế tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị trường có sự quản lí của nhà nước và coi trọng việc phát triển kinh tế nhiều thành phần.Cho nên xu thế chuyển dịch cơ cấu các thành phần kinh tế ở nước ta đó là sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế trong đó kinh tế hộ tự chủ là đơn vị sản xuất kinh doanh, lực lượng chủ yếu, trực tiếp tạo ra các sản phẩm nông- lâm-thuỷ sản cho nền kinh tế quốc dân. Vì vậy để có sản xuất hàng hoá lớn,nông nghiệp nông thôn nước ta không dừng lại ở kinh tế hộ sản xuất hàng hoá nhỏ mà phải đi lên phát triển kinh tế hộ sản xuất hàng hoá lớn, kiểu mô hình kinh tế trang trại. Đối với kinh tế hợp tác phải nhanh chóng hoàn thiện việc đổi mới hợp tác xã kiểu cũ theo luật hợp tác xã. Đồng thời khuyến khích mở rộng và phát triển các hình thức hợp tác kiểu mới, đó là những hợp tác xã có hình thức và tính chất đa dạng, quy mô và trình độ khác nhau. Hợp tác xã và hộ nông dân cùng tồn tại phát triển theo nguyên tắc tự nguyện của các hộ thành viên và bảo đảm lợi ích thiết thực giữa hai bên. 4. Các nhân tố ảnh hưởng đến sự hình thành và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông thôn: Cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn chịu sự ảnh hưởng của nhiều nhân tố khác nhau, mỗi nhân tố đều có vai trò, vị trí và tác động nhất định, có những nhân tố tác động tích cực nhưng cũng có những nhân tố tác động tiêu cực. Tổng hợp các nhân tố tác động cho phép chúng ta tìm ra các lợi thế so sánh của mỗi vùng, mỗi địa phương từ đó có thể lựa chọn một cách sơ bộ một cơ cấu kinh tế hợp lí, hài hoà, thích hợp nhất với sự tác đông của các nhân tố đó, các nhân tố ảng hưởng đến cơ cấu kinh tế nông nghiệp có thể được chia thành 3 nhóm: Nhóm nhân tố thuộc về điều kiện tự nhiên: Những nhân tố về điều kiện tự nhiên có ảnh hưởng rất lớn đến cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nhất là đối với các nước trình độ công nghiệp hoá còn thấp như nước ta. Nhóm nhân tố này bao gồm:vị trí địa lí, điều kiện khí hậu, thời tiết, đất đai,nguồn nước, rừng, khoáng sản và các yếu tố sinh học khác… Vị trí địa lí thuận lợi và các tiềm năng tự nhiên phong phú của mỗi vùng lãnh thổ là nhân tố thuận lợi cho các thành phần kinh tế phát triển. Những vùng có điều kiện tự nhiên thuận lợi thì các thành phần kinh tế quốc doanh, tập thể, tư nhân, kinh tế hộ và trang trại cũng phát triển với quy mô lớn và nhanh hơn so với các vùng khác. Nhóm nhân tố kinh tế-xã hội Nhóm nhân tố này luôn tác động mạnh mẽ tới sự hình thành và biến đổi cơ cấu kinh tế kinh tế nông nghiệpvà nông thôn.Các nhân tố xã hội ảnh hưởng tới cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông thôn bao gồm:thị trường (trong nước và nước ngoài),hệ thống chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước, cơ sở hạ tầng nông thôn, sự phát triển các khu công nghịêp và đô thị, dân số và lao động bao gồm cả số lượng và chất lượng(trình độ dân trí, trình độ chuyên môn, tập quán sản xuất…) - Thị trường: luôn gắn với kinh tế hàng hoá, thị trường có thể được hiểu là lĩnh vực trao đổi trong đó người mua và người bán các loại hàng hoá nào đó tác động qua lại lẫn nhau để xác định giá cả và số lượng hàng hoá mua bán. Mặt khác do sự phát triển của xã hội, nhu cầu đa dạng của con người cũng không ngừng biến đổi và nâng cao, đòi hỏi thị trường đáp ứng ngày càng tốt hơn. Điều này quy định sự cần thiết phải chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn theo hướng phù hợp với xu hướng biến động và phát triển của thị trường. Nhu cầu thị trường ngày càng đa dạng và nâng cao thì cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn càng phải phong phú, đa dạng hơn. Bên cạnh đó các quan hệ thị trường ngày càng mở rộng thì người sản xuất ngày càng đi vào chuyên môn hoá và tự lựa chọn thị trường. Như vậy các quan hệ thị trường góp phần cực kì quan trọng vào việc thúc đẩy phân công lao động trong nông thôn, là cơ sở hình thành cơ cấu nông thôn mới. Thị trường với bản chất của nó là tự phát dẫn đến những rủi ro cho người sản xuất và gây lãng phí các nguồn lực của xã hội vì thế cần phải có sự quản lí của nhà nước ở tầm vĩ mô để thị trường phát triển đúng hướng, lành mạnh, tránh dược rủi ro. - Hệ thống chính sách kinh tế vĩ mô của nhà nước: để can thiệp vào nền kinh tế thị trường trên cơ sở đảm bảo cho các quy luật của thị trường phát huy những tác động tích cực, hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực nhằm mục đích tạo đều kiện cho nền kinh tế tăng trưởng và phát triển với tốc độ cao và ổn định. - Cơ sở hạ tầng nông thôn đòi hỏi phải có trình độ phát triển tương ứng với yêu cầu hình thành và chuyển dịch của cơ cấu kinh tế. Bởi lẽ cơ sở hạ tầng nông thôn có ảnh hưởng trực tiếp rất lớn tới hình thành và phát triển các ngành kinh tế,các vùng kinh tế, đặc biệt là vùng chuyên môn hoá sản suất nông-lâm-ngư nghiệp, ảnh hưởng trực tiếp tới trình độ kĩ thuật công nghệ của khu vực kinh tế nông thôn và do đó là một trong những nhân tố ảnh hưởng có vai trò quyết định tới sự hình thành, vận động và biến đổi của cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn - Sự phát triển các khu công nghiệp đô thị: là một nhân tố quan trọng ảnh hưởng tới cơ cấu kinh tế nông thôn. Sự phát triển các khu công nghiệp và đô thị sẽ tạo khả năng cung cấp kỹ thuật và công nghệ ngày càng hiện đại,tạo nguồn vốn đầu tư ngày càng dồi dào cho khu vực kinh tế nông thôn, góp phần thúc đẩy quá trình hình thành và cải biến của cơ cấ kinh tế nông thôn. - Vấn đề dân số và lao động, trình độ của người lao động. 4.3 Nhóm nhân tố về tổ chức kĩ thuật: Nhóm nhân tố này bao gồm: các hình thức tổ chức sản xuất trong nông nghiệp và nông thôn, sự phát triển của khoa học công nghệ và việc áp dụng khoa học công nghệ vào sản xuất … Ngày nay khoa học công nghệ đang trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp,sự phát triển khoa học công nghệ và việc áp dụng nó vào sản xuất có vai trò ngày càng to lớn đối với sự phát triển của nền kinh tế nói chung, kinh tế nông nghiệp và cơ cấu nông thôn nói riêng vì một mặt làm xuất hiện nhiều loại nhu cầu mới, tác động đến sự thay đổi về số lượng, tăng mức nhu cầu của ngành này hay ngành khác, làm thay đổi tốc độ phát triển giữa các ngành. Mặt khác nó tạo ra khả năng mở rộng ngành nghề và tăng trưởng các ngành sản xuất chuyên môn hoá cao và phát triển các ngành đòi hỏi có trình độ công nghệ cao. Chương II PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NÔNG NGHIỆP VÀ NÔNG THÔN NƯỚC TA HIỆN NAY I. Thực trạng và xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn: 1.Thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp: Nhìn một cách tổng quát các cơ chế chính sách đổi mới đã mang lại một sinh khí mới cho khu vực nông nghiệp (bao gồm cả nông, lâm, thuỷ sản). Cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn đã có sự chuyển dịch theo hướng giảm tỉ trọng giá trị sản xuất nông nghiệp, tăng giá trị sản xuất công nghiệp và dịch vụ.Tỷ trọng nông lâm, thuỷ sản trong GDP đã giảm từ 24,5% năm 2000 xuống còn 20,9% năm 2005. Điều này phù hợp với yêu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn theo hướng CNH,HDH. [9] Vốn đầu tư trong nông nghiệp:Nhà nước đầu tư thích đáng cho lĩnh vực công nghiệp, nông thôn. Tỷ trọng đầu tư cho nông nghiệp, nông thôn 5 năm từ 1996-2000 cao hơn từ năm 91-95.Trong vòng 10 năm qua(1991-2000) vốn đầu tư cho phát triển nông nghiệp, nông thôn ước tính đạt 65,2 nghìn tỷ đồng(so với giá năm 95), chiếm tỷ trọng 10,37% vốn đầu tư toàn xã hội, trong đó 5 năm(91-95)là 8,5%.n ăm 96-2000 l à 11,4%. Năm 1995, giá trị sản xuất nông, lâm,ngư nghiệp còn chiếm tới 27,18%, công nghiệp và xây dựng chỉ chiếm 28,75%, thì đến năm 2004, các tỷ lệ này là 21,76% và 40,09%. Năm 2005, tỷ trọng giá trị sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp giảm xuống còn 20,07%,giá trị sản xuất công nghiệp và xây dựng là 40,08%. (Xem bảng 01, phần phụ lục) Cơ cấu nội bộ ngành nông-lâm-ngư: Nông nghiệp vẫn là bộ phận quan trọng nhất trong cơ cấu kinh tế ngành nông, lâm, ngư nghiệp. Đó là khu vực thu hút đại bộ phận lao động nông thôn và lao động xã hội, cung cấp những sản phẩm thiết yếu cho dân cho dân cư và cho sản xuất, là nguồn thu nhập chủ yếu của dân cư nông thôn, ảnh hưởng trực tiếp đến sự ổn định kinh tế - xã hội của đất nước. (Xem bảng 05, phần phụ lục) “Tốc độ tăng trưởng của sản xuất nông nghiệp vẫn dược duy trì( chỉ tính riêng trong giai đoạn 2001-2005 giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 5,4%/năm, giá trị tăng thểm 3,8%/năm). Công nghiệp nông thôn đã được chú trọng, từng bước phục hồi làng nghề thủ công truyền thống, cụm công nghiệp nhỏ ở các làng nghề, phát triển làng nghề mới, nhất là phát triển công nghiệp chế biến gắn với vùng nguyên liệu …Ngoài ra các loại hình dịch vụ, thương mại, tín dụng, kĩ thuật nông nghiệp cũng dược phát triển mạnh ở nhiều vùng nông thôn.Cơ cấu sản xuất nông nghiệp bước đầu chuyển đổi theo hướng sản xuất hàng hóa và đã xóa dần tình trạng độc canh cây lương thực. Cơ cấu diện tích các loại cây trồng có những thay đổi tích cực theo hướng nâng cao hiệu quả kinh tế nhất là các cây phục vụ xuất khẩu. Sản phẩm xuất khẩu ở khu vực đã tạo được chỗ đứng trên thị trường quốc tế. Chẳng hạn năm 2005 Việt nam đứng thứ nhất thế giới về xuất khẩu hạt tiêu, thứ hai về xuất khẩu gạo, cà phê và hạt điều, cao su đứng thú tư. Tỷ trọng hàng nông sản xuất khẩu chiếm khoảng 30-35% tổng khối lượng hàng nông sản. Việc đẩy mạnh sản xuất hàng nông sản đã tác động tích cực đến sản xuất nông nghiệp. Cơ cấu giữa trồng trọt và chăn nuôi đã có thay đổi theo hướng giảm tỷ trọng chăn nuôi trong khi giá trị tuyệt đối của mỗi ngành tăng khá. Giá trị sản xuất thủy sản tăng nhanh là dấu hiệu tích cực trong chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp, nhưng giá trị của sản xuất lâm nghiệp lại chiếm tỷ trọng nhỏ và có xu hướng giảm sút, mặc dù điều kiện phát triển lâm nghiệp ở nước ta là rất lớn ( năm 1990 giá trị sản xuất khu vực lâm nghiệp là 7,6%, nông nghiệp là 81,4%, ngư nghiệp là 8,3%. Năm 2003 con số tương ứng là 5,0%,76,5%,và 18,4%. Tỷ trọng các mặt hàng nông sản xuất khẩu được chế biến còn rất thấp. phần lớn sản phẩm xuất khẩu ở khu vực nông nghiệp có sức cạnh tranh yếu, dẫn đến xu hướng giảm đi rõ rệt trong tổng cơ cấu hàng xuất khẩu của cả nước( từ 29% năm 2000 xuống còn 24,4% năm 2005).” [9] Tuy nhiên nếu đặt thay đổi cơ cấu kinh tế trong mối quan hệ với thay đổi cơ cấu lao động xã hội, có thể thấy rõ rằng trong khi tỷ trọng GDP nông nghiệp trong tổng GDP giảm dần thì lao động nông nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng lao động xã hội. Việc làm cho lao động nông thôn đang là một vấn đề nan giải trong tiến trình phát triển nông nghiệp và nông thôn. Nói cách khác tuy GDP của công nghiệp và dịch vụ chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu kinh tế nhưng Việt Nam vẫn chưa thoát khỏi tình trạng là nước nông nghiệp lạc hậu, năng suất lao động thấp kém. (Xem bảng 02, phần phụ lục) Theo số liệu thống kê chính thức, trong các năm từ 1995-2004, tuy tỷ trọng lao động nông, lâm, ngư nghiệp trong tổng lao động xã hội đã giảm từ 71,25% xuống còn 58,77%, nhưng lượng tuyệt đối lại tăng thêm 896000 người tuy tốc độ thu hút thêm lao động háng năm thấp hơn so với công nghiệp, xây dựng và dịch vụ, nhưng nông lâm ngư nghiệp vẫn là khu vực kinh tế đóng vai trò quan trọng trong việc giải quyết việc làm ở nước ta hiện nay. Trong xu hướng chuyển dịch chung của cơ cấu kinh tế, tỷ trọng đóng góp của nông, lâm, ngư nghiệp vào tốc độ tăng trưởng chung củc toàn bộ nền kinh tế có xu hướng giảm dần: năm 2000, tốc độ tang trưởng chung của toàn bộ nến kinh tế là 6,79%,trong đó nông, lâm, ngư nghiệp đóng góp 1,10%,công nghiệp và xây dựng đóng góp 3,47% và dịch vụ đóng góp 2,22%;năm 2004, các tỷ lệ tương ứng là 7,69%, 0,74%, 3,93% và 3,02%. Trong xu hướng chuyển dịch chung của cơ cấu kinh tế, tỷ trọng đóng góp của nông, lâm, ngư nghiệp vào tốc độ tăng trửơng chung của nền kinh tế có xu hướng giảm dần: năm 2000, tốc độ tăng trưởng chung của toàn bộ nền kinh tế là 6,79% trong đó nông, lâm, ngư nghiệp đóng góp 1,1%, công nghiệp và xây dựng đóng góp 3,4% và dịch vụ đóng góp 2,22%; năm 2004 các tỷ lệ tương ứng là 7,69%, 0,74%, 3,93% và 3,02%. (Xem bảng 03, phần phụ lục)( 3,trang 79-79) Những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến xu hướng này là: Tỷ trọng của khu vực nông, lâm, ngư nghiệp trong GDP giảm dần. Tốc độ tăng trưởng của nông, lâm, ngư nghiệp thấp hơn tốc độ tăng trưởng của công nghiệp và dịch vụ Sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp bị tác dộng bất lợi của sự biến động bất thường của thời tiết, dịch bệnh thị trường và giá cả. Trong những năm qua, gần như năm nào sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp cũng gặp thiên tai ở những mức độ khác nhau (nắng hạn, bão lũ, sâu bệnh, cháy rừng). Đồng thời thị trường nông sản cũng có những biến động thất thường do sự tác động của các yếu tố kinh tế và phi kinh tế ở khu vực hoặc toàn cầu. Xu hướng giảm tỷ trọng nông nghiệp trong cơ cấu kinh tế và mức đóng góp của nông nghiệp vào tăng trưởng chung hòan toàn không phủ nhận vai trò hết sức quan trọng của nông nghiệp và nông thôn vào quá trình CNH,HĐH đất nước. Xét trên cả góc độ kinh tế xã hội, nông nghiệp và nông thôn vẫn chiếm vị trí trọng yếu trong nền kinh tế trong suốt quá trình CNH, HĐH đất nước.(3,trang 80-81) Vấn đề chuyển dịch cơ cấu nôi tại ngành nông nghiệp: Nét nổi bật trong phát triển sản xuất nông nghiệp nước ta trong những năm gần đây là về cơ bản đã chuyển sang nền nông nghiệp hàng hóa, phát triển theo hướng tòan diện và đạt mức tăng trưởng khá cao. Quá trình chuyển dịch cơ cấu nội tại ngành nông nghiệp vẫn diễn ra hết sức chậm chạp. Giá trị sản xuất nông nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng lớn. Hiện nay lúa vẫn tiếp tục đóng vai trò chủ đạo cả về diện tích gieo trồng(hơn 60%),về mặt cung cấp năng lượng(75%)và cả về mặt đóng góp cho xuất khẩu nông sản(23-27%).Tuy bước đầu phát triển chăn nuôi công nghiệp với hình thành một số trang trại có quy mô vừa, giống vật nuôi được cải thiện, việc sử dụng thức ăn công nghiệp trong chăn nuôi ngày càng trở nên phổ biến, nhưng trong nhiều năm, tỷ trọng giá trị chăn nuôi trong giá trị sản xuất nông nghiệp mới vượt qua được ngưỡng 20%.ở nhiều vùng, chăn nuôi vẫn chưa thoát khỏi vị trí ngành sản xuất phụ, tính chất sản xuất hàng hóa còn mờ nhạt.[3,trang 84,89] (Xem bảng 04, phần phụ lục) Trong nội bộ ngành chăn nuôi: Trong ngành chăn nuôi đã có sự thay đổi trong cơ cấu đàn gia súc và gia cầm theo hướng tăng số lượng và tỷ trọng gia súc nuôi lấy thịt, sữa, giảm gia súc cày kéo. Riêng đàn lợn có xu hướng chung là tăng trọng lượng xuất khẩu chuồng đi đôi với việc tăng tỷ lệ nạc trong đàn lợn thịt để tăng giá trị, đáp ứng yêu cầu thị trường trong nước và xuất khẩu Việc phát triển chăn nuôi tuy có hiệu quả hơn so với trồng cây lương thực, nhưng cung cấp gặp nhiều khó khăn và rủi ro do sự bấp bênh của thị trường trong nước và quốc tế, sự hạn chế về khả năng tự bảo đảm bảo con giống có năng suất cao, chất lượng tốt, bảo đảm thức ăn gia súc và khả năng phòng chống dịch bệnh ở quy mô lớn. Từ năm 2004, dịch cúm gia cầm đã gây thiệt hại nặng nề cho ngành chăn nuôi, phòng chống dịch cúm gia cầm vẫn còn là vấn đề nam giải không những với Việt Nam mà còn cả nhiều nước khác trên thế giới “Năm 2005, ngành chăn nuôi gia cầm tiếp tục bị thiệt hại nặng nề, khả năng thiệt hại trực tiếp của ngành chăn nuôi gia cầm tương đương 2%GDP trong nông nghiệp. Nhưng thiệt hại do việc không tiêu thụ được gia cầm sạch lên đến 1100 tỷ đồng/tháng” [5, tr89-90] 2. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn Trong những năm gần đây cơ cấu kinh tế nông thôn đang chuyển dịch theo hướng tích cực : giảm tỷ trọng giá trị sản xuất nông nghiệp, tăng tỷ trọng giá trị sản xuất công nghiệp và dịch vụ. Trong khi sản xuất nông, lâm, ngư nghịêp vẫn duy trì được tốc độ tăng trưởng cao và khá ổn định trong nhiều năm, thì việc phục hồi làng nghề thủ công truyền thống, phát triển làng nghề mới. phát triển công nghiệp nông thôn, đặc biệt là công nghiệp chế biến gắn với vùng nguyên liệu, cũng được chú trọng đầu tư phát triển. Trong quá trình này đã xuất hiện những mô hình tổ chức là mầm mống của xu hướng phát triển trong tương lai của nông thôn.Đó là việc hình thành và phát triển trong tương lai của nông thôn. Đó là việc hình thành và phát triển các cụm công nghiệp nhỏ ở các làng nghề truyền thống ở ngoại thành Hà nội, ở Bắc Ninh, Vĩnh Phúc…Sự phát triển này được coi là phù hợp với xu thế khách quan của phát triển công nghiệp và thủ công nghiệp ở nông thôn, không những giải quyết khó khăn về mặt bằng sản xuất, khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường mà còn phù hợp với yêu cầu đô thị hóa nông thôn một cách khoa học, tạo điều kiện thuận lợi cho việc mở rộng giao lưu hàng hóa …Trong những năm gần đây ngày càng có nhiều doanh nghiệp công nghiệp với trình độ trang bị hiện đại thuộc các ngành các thành phần kinh tế được xây dựng ở nông thôn. Cùng với sự phát triển công nghiệp và thủ công nghiệp, các hình thức dịch vụ như thương mại, tín dụng, kĩ thuật nông nghiệp, vận tải, thông tin văn hóa, giải trí…cũng được phát triển rộng rãi ở nhiều vùng nông thôn. Sự phát triển các ngành nghề phi nông nghiệp ở nông thôn( thủ công nghiệp, xây dựng. thương mại, các hoạt động dịch vụ khác)đã góp phần chuyển một phần lao động nông nghiệp có thu nhập thấp sang phát triển các ngành nghề có thu nhập cao hơn, giải quyết thêm việc làm và dần dần thay đổi bộ mặt ở nông thôn. Cơ cấu hộ nông thôn phân theo ngành chính đang có những thay đổi theo chiều hướng tích cực.” [3, tr 81 – 84] (Xem bảng 05, phần phụ lục) Tuy nhiên, sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn cũng bộc lộ nhiều khuyết điểm, bất cập, đó là: Tốc độ chuyển dịch hết sức chậm chạp. Về cơ bản cơ cấu kinh tế nông thôn vẫn mang tính chất của nền kinh tế thuần nông, nhiều ngành nghề phi nông nghiệp, nói chung vẫn chưa thoát khỏi tình trạng nghề phụ. Sự phát triển công nghiệp và các hoạt động dịch vụ ở nông thôn chủ yếu tập trung ở ngoại vi các thành phố lớn, các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ và một số tỉnh miền Trung. Khả năng thu hút lao động vào các hoạt động phi nông nghiệp vẫn hết sức hạn chế. Điều đó bắt nguồn từ quy mô và tốc độ phát triển các hoạt động này còn thấp kém. Nhiều ngành nghề phi nông nghiệp vẫn trong trạng thái phát triển bấp bênh, sản xuất phân tán, manh mún, trang bị kĩ thuật lạc hậu, năng suất và khả năng cạnh tranh thấp.Tuy trình độ phát triển chưa cao và lượng lao động dư thừa ở nông thôn còn lớn nhưng việc đảm bảo lao động cho các làng nghề hiện nay đang rất khó khăn do chất lượng lao động nông thôn thấp kém, công tác đào tạo nghề còn nhiều bất cập. Giữa các ngành nghề trong kinh tế nông thôn chưa có sự phát triển gắn kết, hỗ trợ nhau trong một tổng thể thống nhất. Xây dựng nhà máy chế biến nhưng không được bảo đảm đủ nguyên liệu hoặc nguyên liệu nông sản không tìm được thị trường tiêu thụ. Việc phát triển các hoạt động phi nông nghiệp ở vùng nông thôn diễn ra một cách tự phát, kém hiệu quả và bền vững về cả kinh tế, xã hội và môi trường. Đây là một trong những nguyên nhân cơ bản dẫn đến tình trạng cơ cấu lao động nông thôn chuyển dịch chậm.[3, trang 83, 84] CHƯƠNG III: GIẢI PHÁP CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN. I. Mục tiêu và định hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn 1. Quan điểm và Mục tiêu của chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn: Thứ nhất: Tạo thêm công ăn việc làm và thu hút lao động tại chỗ. Phục hồi tài nguyên rừng và làm tăng độ màu mỡ của đất.Đa dạng hóa cây trồng, vật nuôi trong hệ thống sinh thái nông nghiệp. Góp phần giữ gìn cải thiện vệ sinh môi trường. Thứ hai: Phát triển thị trường nông thôn trong suốt, thống nhất với thị trường cả nước để điều hòa nguồn lực. Từng bước hòa nhập với thị trường khu vực và thị trường quốc tế. Thứ ba: Thị trường nông thôn phát triển phải có tác động tích cực với chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp có hiệu quả. Phát triển thị trường nông thôn, bảo đảm khai thác có hiệu quả tiềm năng nông nghiệp, nông thôn, phát huy và phát triển tiềm năng của từng vùng, từng sản phẩm, từng ngành nghề. Thứ tư: Cần cải tiến và tổ chức lại có hệ thống, đổi mới cơ chế các hoạt động thương mại. Xây dựng thị trường đồng bộ gồm thị trường hàng tiêu dùng, vật tư, lao động… với nhiều thành phần tham gia để tăng năng suất và chất lượng sản phẩm. Mục tiêu cơ bản trong quá trình CNH,HĐH nông nghiệp nông thôn từ nay đến 2010 là phải bảo đảm an ninh lương thực quốc gia với dân số khoảng 94 triệu người năm 2010.Với đời sống vật chất và tinh thần nâng cao. Đến năm 2010 thu nhập của nông dân tăng gấp 2 lần, giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống dưới 10%...[7] 2. Định hướng của chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn: Thứ nhất: trong ngành nông nghiệp, mở rộng, nâng cao chất lượng cây công nghiệp, rau, hoa quả…đảm bảo cung cấp cho nhu cầu tiêu dùng trong nước và nguyên liệu cho các ngành chế biến, hướng ra xuất khẩu. Hình thành các vùng chuyên canh lớn cùng với công nghệ chế biến hiện đại để nâng cao chất lượng và giá trị nông sản. Phải đưa chăn nuôi trở thành ngành chính, có sản lượng và chất lượng cao. Đến năm 2010 ngành chăn nuôi phải đạt 40% GDP. Phát triển mạnh và đầu tư thỏa đáng cho công ngiệp chế biến nông sản. Thứ hai: Khôi phục và phát triển các ngành nghề ở nông thôn, đặc biệt là các làng nghề truyền thống, các cơ sở chế biến, khuyến khích các ngành công nghiệp dử dụng lao động và nguồn nguyên liệu tại chỗ như công nghiệp giấy…[7] Thứ ba: Hoàn chỉnh thị trường đã có, mở rộng thi trường mới để tiêu thụ nông, lâm nghiệp, thủy sản và hàng hóa dịch vụ phi nông nghiệp ở nông thôn. Thứ tư: Hoàn chỉnh quy hoạch sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản và ngành nghề dịch vụ ở nông thôn, theo hướng kinh tế hàng hóa gắn với thị trường. Thứ năm: Đổi mới phương thức tổ chức sản xuất nông nghiệp và kinh tế nông thôn theo hướng phát triển kinh tế nhiều thành phần gắn với chuyên môn hóa, tập trung hóa cao hơn. Thứ sáu: ứng dụng rộng rãi những thành tựu của khoa học kĩ thuật vào sản xuất và dịch vụ nhằm tăng năng suất lao động, năng suất đất đai, cấht lượng sản phẩm, giảm chi phí sản xuất, tăng sức cạnh tranh của nông sản, hàng hóa và sản phẩm ngành nghể, dịch vụ nông thôn. [4] II. Một số giải pháp thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn: Một điều cần nhấn mạ

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docChuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp – nông thôn Thực trạng, xu hướng và giải pháp.doc
Tài liệu liên quan