Đề tài Cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam và thực trạng trong thời gian qua

MỤC LỤC

 

LỜI NÓI ĐẦU 2

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ KINH NGHIỆM CỔ PHẦN HOÁ DNNN Ở CÁC NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI 3

1. Lý luận về công ty cổ phần – cơ sở khoa học định hướng cho quá trình

cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam 3

2. Một số nét khái quát từ kinh nghiệm cổ phần hoá

các DNNN trên thế giới: 7

CHƯƠNG 2: CỔ PHẦN HOÁ DNNN Ở VIỆT NAM

VÀ THỰC TRẠNG TRONG THỜI GIAN QUA 14

1. Khu vực kinh tế nhà nước và nhu cầu phải đổi mới: 14

2. Cổ phần hoá DNNN – một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước: 16

3. Những yếu tố tác động đến quá trình cổ phần hoá DNNN ở nước ta: 17

4. Thực tế quá trình tiến hành cổ phần hoá DNNN ở nước ta

trong thời gian qua: 19

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY

CỔ PHẦN HOÁ DNNN TRONG THỜI GIAN TỚI 24

1. Những quan điểm cơ bản cần quán triệt: 24

2. Các giải pháp cơ bản để tiến hành cổ phần hoá trong thời gian tới. 28

KẾT LUẬN 30

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 31

 

 

doc31 trang | Chia sẻ: maiphuongdc | Ngày: 06/09/2013 | Lượt xem: 1340 | Lượt tải: 7download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đề tài Cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam và thực trạng trong thời gian qua, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Do phải gánh các khoản nợ to lớn trong và ngoài nước nên các nhà nước ở khu vực này đã tìm cách rút khỏi các lĩnh vực sản xuất và bán một phần hay toàn bộ các xí nghiệp nhà nước cho các nhà đầu tư tư nhân trong và ngoài nước. Cùng với sự thay đổi chế độ ngoại thương, lập ra các vùng mậu dịch tự do và các hiệp ước không thuế quan để khuyến khích cạnh tranh và buộc các doanh nghiệp phải hoạt động có hiệu quả, Chính phủ các nước này đã mở ra các điều kiện thuận lợi để khuyến khích tư bản nước ngoài đầu tư, tạo ra động lực mới cho sự tăng trưởng. * Các nước đang phát triển thuộc khu vực châu Phi: ở châu Phi, các chính phủ cũng đã bắt đầu thực hiện cổ phần hoá các DNNN trong nỗ lực nhằm phục hồi nền kinh tế và tạo cơ sở cho sự tăng trưởng mới ngay từ đầu những năm 90. Công cuộc cổ phần hoá ở các nước châu Phi nhằm vào việc tăng hiệu quả kinh tế và giảm thâm hụt ngân sách trong hoàn cảnh các nguồn tài chính truyền thống đã cạn kiệt. Quá trình cổ phần hoá ở châu Phi có xu hướng diễn ra ở các xí nghiệp vừa và nhỏ, về cả tài sản lẫn số lượng lao động. Đa số các doanh nghiệp cổ phần hoá đều nằm ở các ngành chế biến và dịch vụ còn các ngành dịch vụ công cộng, khai thác khoáng sản và dầu mỏ chỉ là ngoại lệ. Thành tích đạt được trong chương trình cổ phần hoá ở các nước châu Phi còn rất khiêm tốn. Trở ngại lớn nhất ở các nước này là thị trường vốn trong nước quá nhỏ bé, thiếu vắng một thị trường chứng khoán thực sự, hệ thống nhà nước về hành chính và luật pháp còn thiếu đồng bộ và chặt chẽ. Điều này góp phần làm suy giảm sự quan tâm của các nàh đầu tư và kinh doanh nước ngoài. * Các nước đang phát triển thuộc khu vực châu á: Quá trình cổ phần hoá ở các nước châu á khác với các nước châu Phi và châu Mỹ la-tinh là các khoản nợ nước ngoài không phải là lý do chính để tiến hanh cổ phần hoá các DNNN. Mặt khác, nền kinh tế ở các nước trong khu vực này có tốc độ phát triển nhanh và ổn định trong nhiều năm, các xí nghiệp quốc doanh ở các nước này phần lớn đều hoạt động trên cơ sở thị trường và nhằm mục tiêu lợi nhuận. Vì vậy, mục tiêu chính của cổ phần hoá ở các nước này là Nhà nước rút khỏi các lĩnh vực hoạt dộng xét thấy không cần thiết phải nắm giữ và suy trì sự độc quyền nhà nước mà chuyển giao cho khu vực tư nhân nhằm thực hiện cạnh tranh để nâng cao hiệu quả. Mục tiêu nữa của cổ phần hoá của các nước là phát triển thị trường chứng khoán trong nước, thể hiện nổi bật là ở các nước Hàn Quốc, Singapore, Malaysia,...Số tiền thu được từ quá trình bán các cổ phần của nhà nước sẽ được bù vào các khoản ngân sách dành đầu tư cho các cơ sở hạ tầng và các ngành kinh tế chiến lược mà nhà nước thấy cần có sự tham gia và kiểm soát. 2.2.3. Cổ phần hoá ở nhóm các nước XHCN trước đây thuộc Đông Âu: Khác với đa số các nước phát triển và đang phát triển, ở các nước XHCN cũ ở Đông Âu, quá trình cổ phần hoá đã trở thành cuộc thử nghiệm quan trọng đối với các chính phủ mới thành lập trong việc cam kết thực hiện chuyển sang nền kinh tế thị trường và sang một hệ thống chính trị dựa trên quyền sở hữu tư nhân và quyền tư do cá nhân. Đối với các nước này, việc tiến hành cổ phần hoá được đặt trong một chương trình cổ phần hoá rộng lớn và được thực hiện theo các cách khác nhau tuỳ theo điều kiện mỗi nước. Tuy nhiên, khu vực kinh tế nhà nước chiếm tỷ trọng gần như tuyệt đối; quy mô phạm vi quá đồ sộ mà thời gian đặt ra ngắn, khu vực kinh tế tư nhân qua nhỏ bé và yếu ớt là những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến việc tiến hành cổ phần hoá và tư nhân hoá ở nhóm nước này gặp nhiều khó và trở ngại. 2.3. Bài học kinh nghiệm rút ra từ việc nghiên cứu cổ phần hoá các DNNN trên thế giới đối với Việt Nam: Nhìn chung, qua việc nghiên cứu quá trình cổ phần hoá các DNNN trên thế giới, chúng ta có thể rút ra một số vấn đề có tính chất chung cho quá trình tiến hành cổ phần hoá các DNNN ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. * Tính phổ biến của quá trình cổ phần hoá: Sự triển khai có tính chất toàn cầu quá trình này tạo ra một tương quan hợp lý giữa sở hữu nhà nước và sở hữu tư nhân, giữa sự điều tiết của nhà nước và thị trường. Vì vậy, tiến hành cổ phần hoá một bộ phận DNNN ở Việt Nam là một vấn đề không thể bỏ qua, là một đòi hỏi khách quan để chuyển nền kinh tế thị trường có sự điều tiết định hướng của nhà nước và khai thác động lực của thị trường. * Tính đặc thù của quá trình cổ phần hoá: Đây là sự phán ánh các sặc thái khác nhau về mục tiêu, cách thức tổ chức, bước đi và các biện pháp cụ thể do những đặc điểm về kinh tế, chính trị, xã hội cũng như quan niệm về xây dựng và phát triển kinh tế của mỗi chính phủ quy định. Nước ta cũng không thể không chú ý đến tính dặc thù về các điều kiện quy định quá trình này để vậndụng vào điều kiện cụ thể của Việt Nam. * Tính chiến lược của quá trình cổ phần hoá: Hầu hết các nước đều coi cổ phần hoá là một bộ phận của quá trình cải tổ toàn bộ nền kinh tế. Do đó, đòi hỏi phải được suy xét và hành động mang tính chiến lược cao. Vì vậy, ở hầu hết các nước đều lập ra một cơ quan chịu trách nhiệm thực hiện quá trình này theo những quan điểm chiến lược đề ra. Với quy mô và tính chất quan trọng của chương trình cổ phần hoá, Nhà nướoc không thể không xem xét nó ở tầm chiến lược trong quá trình đổi mới toàn diện để phát triển nhanh nền kinh tế, đồng thời cũng cần thiết thành lập một cơ quan nhà nước chịu trách nhiệm thực hiện chương trình này. * Tính quá trình của việc thực hiện cổ phần hoá: Thực tiễn và nhiều công trình nghiên cứu ở các nước đều chỉ ra rằng việc thực hiện cổ phần hoá bao gồm nhiêu giai đoạn khác nhau. Tuy không có sự phân biệt rõ ràng giữa các giai đoạn nhưng nó có ý nghĩa chỉ đạo thực tiễn: khuyến khích tính thận trọng với các giải pháp phù hợp dựa trên những điều kiện thực tế. Việt Nam, trong hoàn cảnh thiếu nhièu điều kiện quan trọng để thực hiện cổ phần hoá thì việc quán triệt quan điểm quá trình trong cổ phần hoá các DNNN là cần thiết để chống những tư tưởng và biểu hiện nóng vội, chủ quan duy ý chí, muốn hoàn thành trong một thời gian ngắn. * Môi trường pháp lý của việc thực hiện cổ phần hoá: Để thực hiện công việc này ở các nước đều phải tạo ra một môi trường pháp lý cần thiết. Đó là các bộ luật quan trọng có ý nghĩa như là những điều kiện để xác lập và ổn định kinh tế vĩ mô, tạo ra những khuôn khổ pháp lý cho sự chuyển đổi và hoạt động của các doanh nghiệp được cổ phần hoá. Đối với Việt Nam cũng không thể không đặt ra vần đề này và trên thực tế Nhà nước cũng đã và đang ban hành nhiều bộ luật nhằm xác lập và hoàn thiện môi trường pháp lý cho các doanh nghiệp hoạt động cũng như thực hiện chương trình cổ phần hoá. * Phí tổn của quá trình thực hiện cổ phần hoá: Để thực hiện tốt chương trình này, các nước đều phải chịu một khoản phí tổn nhất định nhằm bảo đảm sự ổn định kinh tế, chính trị, xã hội cho việc thực hiện chương trình có tầm quan trọng lâu dài trong quá trình cải cách kinh tế ở các nước. Nước ta cũng cần xác định các khoản phí tổn không thể cắt giảm được, nhất là các ván đề như việc làm, bảo hiểm xã hội, kiểm toán, tư vấn,...để đảm bảo chương trình cổ phần hoá đạt được kết quả. Chương 2 Cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam và thực trạng trong thời gian qua 1. Khu vực kinh tế nhà nước và nhu cầu phải đổi mới: 1.1. Thực trạng của khu vực kinh tế nhà nước: Nước ta cũng giống như các nước XHCN trước đây thực hiên mô hình kế hoạch hoá tập trung, lấy việc mở rộng và phát triển khu vực kinh tế nhà nước bao trùm toàn bộ nền kinh tế quốc dân làm mục tiêu cho công cuộc cải tạo và xây dựng CNXH. Vì vậy, khu vực kinh tế nhà nước đã được phát triển một cách nhanh chóng bất kể hiệu quả đích thực mà nó mang lại. Các DNNN được hình thành và phát triển trên cơ sở nguồn vốn cấp phát của ngân sách nhà nước và do đó, tất cả các hoạt động đều chịu sự kiểm soát và chi phối trực tiếp của nhà nước. Song cũng giống như nhiều nước trên thế giới, khu vực kinh tế nhà nước hoạt động hết sức kém hiệu quả. Có thể minh hoạ nhận xét này qua một vài chỉ tiêu cụ thể sau đây: - Tỷ trọng tiêu hao vất chất của khu vực kinh tế nhà nước cao gấp 1,5 lần và chi phí để sáng tạo ra một động thu nhập quốc dân thường cao gấp 2 lần khu vực kinh tế tư nhân. - Mức tiêu hao vất chất của các doanh nghiệp nhà nước trong sản xuất cho một đơn vị giá trị tổng sản phẩm xã hội ở nước ta thường cao gấp 1,3 lần so với mức trung bình trên thế giới. - Chất lượng sản phẩm và hệ số sinh lời của nhiều DNNN rất thấp và không ổn định. - Hiệu quả khai thác vốn đầu tư của khu vực kinh tế nhà nước hết sức thấp trong khi khu vực kinh tế nhà nước lại sử dụng hầu hết lao động có trình độ đại học, công nhân kỹ thuật và phần lớn số vốn tín dụng của các ngân hàng thương mại quốc doanh. - Số các doanh nghiệp nhà nước thua lỗ chiếm một tỷ trọng lớn, việc làm ăn thua lỗ của các DNNN đã gây ra tổn thất lớn cho ngân sách nhà nước và là một trong những nguyên nhân gây ra bội chi ngân sách trong nhiều năm qua. 1.2. Một số nguyên nhân dẫn đến tình trạng hoạt động kém hiệu qủa của khu vực kinh tế nhà nước: Khi đề cập đến nguyên nhân dẫn đến tình trạng hoạt động kém hiệu quả của khu vực kinh tế nhà nưóc, qua các công trình nghiên cứu đã cho thấy có rất nhiều nguyên nhân, trong đó có một số nguyên nhân chủ yếu sau đây: Thứ nhất, khu vực kinh tế nhà nước sinh ra và trưởng thành trong cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp kéo dài hàng chục năm. Doanh nghiệp không còn là một đơn vị kinh tế có quyền tự chủ trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Vì vậy, khi chuyển sang cơ chế thị trường cả một khu vực kinh tế nhà nước đồ sộ, cồng kềnh bộc lộ tất cả những yếu kém, không đồng bộ và không thích ứng trong cơ chế mới. Thứ hai, các DNNN đã từ lâu không được đặt trong môi trường cạnh tranh, không gắn với thị trường, do đó chậm đổi mới công nghệ và nâng cao chất lượng sản phẩm, chế độ hạch toán kinh tế chỉ là hình thức giả tạo, hiện tượng lãi giả, lỗ thật là hết sức phổ biến. Điều tất yếu xảy ra là vốn liếng doanh nghiệp không được quan tâm bảo toàn, thiết bị cũ kỹ, công nghệ lạc hậu. Thứ ba, tổ chức bộ máy trong các DNNN không phù hợp do quan niệm về sở hữu trong các doanh nghiệp không rõ ràng, không có sự phân biệt đầy đủ quyền sở hữu nhà nước và quyền quản lý kinh doanh của giám đốc và tập thể người lao động trong doanh nghiệp. Tình trạng làm chủ tập thể chung chung kéo dài mà thực chất là vô chủ phổ biến ở hầu hết các DNNN. Thứ tư, việc phân phối thực chất không dựa trên nguyên tắc phân phối theo lao động mà thực chất là phục vụ chích sách xã hội, mang nặng tính bình quân chủ nghĩa, không kích thích người quản lý và công nhân trong các DNNN nâng cao hiệu qủa công tác và năng suất lao động. Thêm vào đó, đội ngũ cán bộ có kiến thức và trình độ quản lý không phù hợp với kinh tế thị trường, thiếu sự năng động, sáng tạo trong quản lý và kinh doanh. Như vậy, chúng ta có thể thấy tình trạng kém hiệu quả của khu vực kinh tế nhà nước về cơ bản là do cơ chế kế hoạch hoá tập trung, quan liêu bao cấp tồn tại trong những năm trước đây. Sau khi đất nước được giải phóng,việc kéo dài quá lâu cơ chế này đã kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất và đẩy nền kinh tế nước ta rơi vào khủng hoảng. Sự đổi mới tư duy về phát triển nền kinh tế nhiều thành phần có sự điều tiết, định hướng của nhà nước đã từng bước xoá bỏ cơ chế cũ, xây dựng cơ chế quản lý mới, trong đó, đổi mới khu vực kinh tế nhà nước là một yêu cầu tất yếu trong tình hình hiện nay của đất nước ta. 2. Cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước – một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước: 2.1. Xác định vai trò và cấu trúc lại khu vực kinh tế nhà nước: Quan điển phát triển nền kinh tế nhiều thành phần trong một thị trường thống nhất với ba hình thức sở hữu cơ bản (nhà nước, tập thể, tư nhân) tạo nên một hệ thống đa dạng các loại hình doanh nghiệp hoạt động bình đẳng trước cơ chế thị trường và pháp luật nhà nước, đã được Đại hội Đảng toàn quốc xác định qua các kỳ đại hội xác định và phát triển, được coi là quan điểm cơ bản trong đổi mới chính sách và cơ chế quản lý kinh tế đối với khu vực kinh tế nhà nước nói riêng và nền kinh tế nói chung, tạo những bước tiến thực sự mà trong mô hình kinh tế cũ không bao giờ đạt được. Sự thay đổi nhận thức về vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước cũng được đặt ra trong mô hình kinh tế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước. Ngay từ đai hội nghị trung ương lần thứ Sáu (khoá sáu) tháng 3 năm 1989 đã nêu rõ vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước không phải chỉ có mặt với tỷ trọng lớn ở tất cả mọi ngành mà chỉ chiếm giữ những vị trí quan trọng, then chốt trong nền kinh tế. Qua khảo cứu về lý luận cũng như thực tiễn đặt ra, Đảng và Nhà nước đã xác định cổ phần hoá các DNNN là một xu hướng tất yếu khách quan và là một giải pháp cơ bản để điều chỉnh tương quan hợp lý giữa sở hữu nhà nước và các loại sở hữu khác trong nền kinh tế thị trường hỗn hợp nhằm đạt được các mục tiêu phát triển có hiệu quả, ổn định và công bằng xã hội. 2.2. Mục tiêu cổ phần hoá một số DNNN trong giai đoạn hiện nay ở nước ta: Như đã trình bày ở phần trên, mô hình công ty cổ phần đã đáp ứng một cách khá lý tưởng sự tách biệt hai mặt của sở hữu trong doanh nghiệp, là mô hình hữu hiệu để huy động và sử dụng vốn đầu tư cũng như di chuyển các nguồn vốn sang các lĩnh vực khác nhau theo yêu cầu phát triển trong nền kinh tế thị trường. Vì vậy, các mục tiêu của cổ phần hoá về thực chất là nhằm chuyển hình thái kinh doanh một chủ với sở hữu nhà nước toàn phần trong doanh nghiệp thành công ty cổ phần hỗn hợp nhà nước – tư nhân hoặc công ty cổ phần tư nhân tạo điều kiện xác lập thị trường tài chính mà cốt lõi là thị trường chứng khoán để chuyển phương thức vay mượn từ ngân hàng sang huy động vốn trên thị trường tài chính. Theo “ Đề án thí điểm chuyển một số DNNN sang công ty cổ phần” ban hành kèm theo quyết định 202-HĐBT của chủ tịch Hội đồng bộ trưởng, nay là Thủ tướng chính phủ thì mục tiêu của cổ phần hoá bao gồm: - Chuyển một phần sở hữu về tài sản của Nhà nước thành sở hữu của các cổ đông nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp. - Huy động một khối lượng vốn nhất định ở trong và ngoài nước để đầu tư cho sản suất kinh doanh. - Tạo điều kiện để người lao động thực sự làm chủ doanh nghiệp. Đối chiếu với các mục tiêu của cổ phần hoá các DNNN ở trên thế giới, các mục tiêu đặt ra ở đây có sự chọn lựa cơ bản và khiêm tốn hơn, không đặt ra quá nhiều và quá sức như một số nước. Tuy nhiên, xem xét kỹ chúng ta có thể thấy thực hiện tốt các mục tiêu trên sẽ tạo điều kiện thực hiện các mục tiêu khác như: giảm gánh nặng ngân sách, thu hút vốn đầu tư,...Kiên định thực hiện các mục tiêu mà Đảng và Nhà nước đã đề ra, chắc chắn công cuộc cổ phần hoá một bộ phận DNNN của nước ta sẽ đi đến thành công. 3. Những yếu tố tác động đến quá trình cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước ở nước ta: Công cuộc cổ phần hoá DNNN ở nước ta hiện nay được tiến hành trong điều kiện đặc thù với những thuận lợi và khó khăn nhất định. Chúng ta có thể nêu ra sau đây một số yếu tố quan trọng. 3.1. Về các yếu tố thuận lợi: * Điều kiện và môi trường pháp lý về cơ bản đã được xác lập, đặt tất cả các doanh nghiệp hoạt động theo cơ chế thị trường. Đây là tiền đề cơ bản và cần thiết để từng bước thực hiện cổ phần hoá các DNNN. * Chính phủ đã nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề cổ phần hoá các DNNN và quyết tâm thực hiện. Điều này thể hiện ở việc ban hành các văn bản luật và dưới luật của Nhà nước nhằm thực hiện chương trình cổ phần hoá DNNN. Ngoài ra còn có các quyết định thông tư của các bộ và liên bộ để cụ thể hoá việc thực hiện vấn đề này. Điều này góp phần xác định rõ quan điểm và phương hướng chỉ đạo thống nhất ở mọi cấp, ngành cho đến từng doanh nghiệp triển khai thực hiện. * Tình hình kinh tế của đất nước đã có nhiều biến đổi theo hướng tích cực, thu nhập của nhân dân ngày càng dược nâng cao, tạo điều kiện thuận lợi về tâm lý cho mọi người muốn đầu tư thông qua hình thức mua cổ phiếu trong các DNNN được cổ phần hoá. * Hoạt động trong cơ chế thị trường trong thời gian chưa lâu nhưng đã xuất hiện những nhà quản lý doanh nghiệp có khả năng kinh doanh lớn, người lao động trong doanh nghiệp đã thích ứng được về ý thức, tác phong và hiệu quả công việc trong điều kiện cạnh tranh. * Luật đầu tư nước ngoài và sự xuất hiện nhiều chi nhánh ngân hàng kinh doanh của nước ngoài tại Việt Nam đã tạo môi trường và điều kiện để các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư bằng cổ phiếu vào các doanh nghiệp được cổ phần hoá. * Ngoài ra với những kinh nghiệm thực tiễn phong phú của các nước trên thế giới trong quá trình cổ phần hoá DNNN là những bài học bổ ích và quý giá để Nhà nước hoạch địch chính sách và tổ chức thực hiện công cuộc cổ phần hoá các DNNN ở Việt Nam. 3.2. Về các yếu tố khó khăn và cản trở: Như đã trình bày ở phần trên, khó khăn và cản trở lớn nhất trong quá trình cổ phần hoá ở nhiều nước đang phát triển và các nước XHCN ở Đông Âu cũ là khu vực tư nhân nhỏ bé và yếu ớt. Điều này cũng đúng đối với Việt Nam, sau hàng chục năm khu vực này được coi là đối tượng cải tạo XHCN. Sự nhỏ bé và yếu ớt của khu vực kinh tế tư nhân phản ánh sự kém phát triển của kinh tế thị trường, hình thái công ty cổ phần còn xa lạ với hầu hết mọi người. Điều này làm chúng ta phải tiến hành chương trình cổ phần hoá trong một thời gian dài, song song với sự hình thành và phát triển hình thái công ty cổ phần cũng như xác lập môi trường pháp lý tương ứng. Cùng với sự nhỏ bé và yếu ớt của khu vực kinh tế nhà nước là sự thiếu vắng một thị trường tài chính thực sự. Tuy hiện nay thị trường vốn và thị trường chứng khoán đã bắt đầu đi vào hoạt động nhưng hiệu quả thực tế cho thấy là chưa cao. Ngoài ra, còn có một số yếu tố đặc thù khác cũng góp phần gây khó khăn và cản trở cho việc cổ phần hoá như sự chưa ổn định về chính sách vĩ mô của nhà nước, số doanh nghiệp đủ điều kiện để cổ phần hoá không nhiều, trong khi một số doanh nghiệp đủ điều kiện thì lại không muốn cổ phần hoá,... Như vậy, quá trình cổ phần hoá các DNNN ở Việt Nam gặp khá nhiều yếu tố khó khăn. Điều này cho thấy chương trình cổ phần phải được tiến hành đồng bộ, có những bước đi cụ thể, đi đôi với quá trình đổi mới toàn bộ nền kinh tế. Không thể nôn nóng muốn rút ngắn thời gian bắng cách tiến hành đồng loạt và quy mô lớn được. 4. Thực tế quá trình tiến hành cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước ở nước ta trong thời gian qua: 4.1. Cổ phần hoá DNNN ở nước ta tiến hành chậm – nguyên nhân: Như chúng ta đã biết, cổ phần hoá một bộ phận DNNN là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta từ sau quyết định 217-HĐBT (11-1987) và được đưa vào thí điểm vào năm 1992. Tuy nhiên, tính từ khi chuẩn bị cho đến nay, mặc dù đã trải qua một thời gian khá dài nhưng kết quả đạt được là không lớn. Các doanh nghiệp được cổ phần đều có quy mô vừa và nhỏ, trị giá doanh nghiệp chỉ từ 2 tới 16 tỷ đồng, chủ yếu tập trung ở hầu hết các trung tâm kinh tế lớn như Hà Nội, TP Hồ Chí Minh. Rất nhiều tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương vẫn đứng ngoài công cuộc thực chủ trương cổ phần hoá DNNN. Chính vì vậy, việc tìm ra các nguyên nhân chủ quan cũng như khách quan làm công tác này dậm chân tại chỗ là hết sức cần thiết. Qua thực tiễn triển khai công tác cổ phần hoá, nổi lên một số nguyên nhân sau: * Về nhận thức và hành động từ các cơ quan quản lý đến các doanh nghiệp chưa đầy đủ, hoạt động chưa thường xuyên liên tục. Các cán bộ các cấp còn rất dè dặt trong công tác cổ phần hoá, nhiều người muốn thế thủ, tốt nhất là không hăng hái trong công tác này để tránh đi chệch hướng XHCN; các doanh nghiệp cũng không muốn cổ phần hoá, tư tưởng trông chờ vào nhà nước bao cấp việc làm, thu nhập, phúc lợi,...,tư tưởng các cán bộ lãnh đạo doanh nghiệp cũng không muốn cổ phần hoá, sợ mất chức vụ, sợ trách nhiệm là phổ biến. Thế là từ trên xuống dưới kết thành mảng trong nhận thức và hoạt động. Để đảm bảo an toàn và giữ vững được ghế, tránh nguy cơ đi chệch hướng XHCN, thượng sách là không sắn tay áo lao vào công tác này. * Khung pháp lý chưa đầy đủ và thiếu đồng bộ: Chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước mới chỉ dừng lại ở một quyết định, một chỉ thị của Thủ tướng chính phủ, các ngành các cấp thiếu hoặc rất chậm trong triển khai hướng dẫn thực hiện các cơ quan chỉ đạo, tức là mới chỉ hoạt động về hành chính, tạo ra sự lúng túng trong quá trình chỉ đạo thí điểm cổ phần hoá, đặc biệt là xử lý những vấn đề có tính kỹ thuật, nghiệp vụ ở cơ sở. * Hình thức cổ phần hoá DNNN còn quá sơ sài chưa mang tính đa dạng, trong khi đó các loại hình doanh nghiệp ở các ngành, các vùng có tính đặc thù riêng. * Thói quen hùn vốn vào công ty cổ phần để kinh doanh trong nhân dân ta chưa có, đặc biệt là nhân dân miền Bắc. * Các chính sách khuyến khích công nhân viên chức trong doanh nghiệp nhà nước chuyển sang công ty cổ phần chưa hấp dẫn. * Thủ tục hành chính quá rườm rà, tốn kém. * Môi trường hỗ trợ cho cổ phần hoá còn thiếu, chế độ chính sách chưa đồng bộ, thị trường vốn, thị trường chứng khoán đã hình thành nhưng hoạt động chưa có hiệu quả. * Một nguyên nhân khá quan trọng là tổ chức chỉ đạo chưa tập trung, thiếu thống nhất giữa các bộ, các ngành, trung ương, địa phương, các cơ quan chức năng chưa đủ thẩm quyền giải quyết các vấn đề phát sinh, đôi khi gặp khó khăn thì chùn bước. Với những vấn đề nêu trên, cho thấy việc cổ phần hoá là vấn đề không đơn giản. Các kết quả nghiên cứu cho thấy rằng: Cổ phần hoá một bộ phận DNNN ở nước ta là cần thiết, nhưng không thể tiến hành trong một thời gian ngắn mà cần được chuẩn bị, tiến hành thí điểm, rút kinh nghiệm trước khi tiến hành triển khai hành loạt. 4.2. Thành công bước đầu và vướng mắc còn tồn tại: 4.2.1. Một số thành công bước đầu: Tính đến thời điểm cuối năm 1999, trong cả nước đã có 18 DNNN (10 doanh nghiệp tại TP HCM và 8 doanh nghiệp tại các địa phương khác trên cả nước) thực hiện cổ phần hoá chuyển sang hoạt động theo luật công ty. Từ khi chuyển sang công ty cổ phần, các doanh nghiệp đã đạt được một số thành công bước đầu khá rõ rệt, có tiến bộ về mọi mặt, cả Nhà nước và doanh nghiệp đều có lợi. Đối với doanh nghiệp: * Lợi nhuận tăng bình quân 56,9%/năm. * Vốn tăng bình quân 45%/năm. * Nộp ngân sách tăng 34%/năm. * Lao động tăng bình quân 98%/năm. * Thu nhập người lao động tăng 20%/năm. * Tỷ suất lợi nhuận trên vốn74,6%/năm. Đối với Nhà nước, do sản xuất phát triển, doanh thu tăng, lợi nhuận tăng nên tiền thuế các công ty cổ phần nộp cao hơn khi còn là DNNN. Ngoài ra Nhà nước còn thu 37.724 triệu đồng từ cá nguồn khác như: tiền bán cổ phần, lợi tức tại các công ty cổ phần. Vốn cổ phần của nhà nước ban đầu là 28 tỷ, đến đầu năm 1998 đã tăng lên gần 65 tỷ đồng. Đối với người lao động và xã hội, thu nhập của người lao động tăng lên từ 1,5 tới 2 lần, có công ty còn cao gấp 2,5 lần, chưa kể nguồn thu từ lợi tức cổ phần khoảng 25%/năm; ngoài số lao động cũ các doanh nghiệp còn thu hút thêm khoảng trên 1000 lao động ngoài xã hội vào làm việc. Ngoài các doanh nghiệp cổ phần hoá, hiện nay một số bộ, địa phương đã thành lập công ty cổ phần theo các hình thức: giữa DNNN với DNNN, giữa DNNN với tư nhân, giữa tư nhân với nhau, khoảng 250 công ty. Như vậy, tuy số DNNN đã cổ phần hoá còn ít, thời gian hoạt dộng chưa lâu dài nhưng từ kết quả đạt được chúng ta có thể rút ra một số nhận định bước đầu như sau: - Việc huy động vốn của các công ty cổ phần chủ yếu để đầu tư chiều sâu, đổi mới công nghệ, năng lực sản xuất kinh doanh nên năng suất, hiệu quả và lợi nhuận cao hơn trước. - Quyền lợi của người lao động đồng thời là các cổ đông gắn với quyền lợi của công ty nên người lao động làm việc có tinh thần trách nhiệm hơn, mặt khác hội đồng quản trị và lãnh đạo công ty hoạt động cũng có hiệu quả hơn. - Các công ty cổ phần vẫn duy trì những mặt tốt trong công tác quản lý, điều hành, các hiện tượng tiêu cực giảm, thích ứng nhanh với cơ chế thị trường. - Việc cổ phần hoá doanh nghiệp chỉ là hình thức chuyển đổi cơ cấu sở hữu, không phải là tư nhân hoá,tạo điều kiện cho người lao động thực sự làm chủ doanh nghiệp, đồng thời khai thác và động viên mọi nguồn vốn trong xã hội vào hoạt động kinh doanh, làm cho tài sản xã hội tăng lên. 4.2.2. Một số vướng mắc cần tiếp tục tháo gỡ để đẩy nhanh chương trình và tiến độ cổ phân hoá DNNN: Mặc dù quá trình cổ phần hoá đã đạt được nhũng thành công bước đầu như đã trình bày ở phần trên nhưng thực tế thực hiện cũng không phải không còn những vướng mắc cần tháo gỡ. Đó là những vấn đề như: tính toán như thế nào để huy động vốn trong các thành phần kinh tế, trong người lao động, trong nhân dân theo hướng đa dạng hoá sở hữu; làm thế nào để tạo động lực thi đua, cạnh tranh trong sản xuất kinh doanh,thúc đẩy cải tiến quản lý,...Chính vì vậy vẫn còn nhiều trăn trở từ các doanh nghiệp đã, đang hoặc đang được chọn để cổ phần hoá. Từ thực tế còn tồn tại, xuất hiện một số kiến nghị cần tháo gỡ sau: * Về giá trị doanh nghiệp nên chọn công nhận con số của cơ quan kiểm toán, của cục quản lý vốn hay của cơ quan thuế. Hiện nay đa số có xu hướng để cho DNNN chủ động tính toán và dựa trên con số của kiểm toán sẽ có giá trị khách quan hơn và cơ sở pháp lý tốt hơn. * Nên quy định trị giá số cổ phiếu cấp cho công nhân; người lao động được hưởng cổ tức tương đương 6 tháng, 12 tháng lương cấp bậc, chức vụ hoặc 10 triêu đồng

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docCải cách kinh tế quốc doanh.doc
Tài liệu liên quan