Đề tài Đánh giá tình hình sức khoẻ cộng đồng ô nhiễm làng nghề Đa Sỹ và các giải pháp

-

Chương I: Tổng quan lý luận về đánh giá thiệt hại. 1

1.1/ Các phương pháp chi phí - thiệt hại do ô nhiễm môi trường. 1

1.1.1/ Phương pháp chi tiêu bảo vệ. 1

1.1.2/ Phương pháp chi phí phòng ngừa. 1

1.1.2.1/ Ví dụ về phương pháp: 1

1.1.2.2/ Một số điểm cần lưu ý khi sử dụng phương pháp. 4

1.1.3/ Phương pháp định giá ngẫu nhiên. 5

1.1.3.1/ Khái niệm: 5

1.1.3.2/ Các bước tiến hành phương pháp. 5

1.1.3.3/ Một số điểm cần lưu ý khi sử dụng phương pháp này. 8

1.1.3.4/ Một số điểm kinh nghiệm khi sử dụng phương pháp này. 10

Ln( odds) = α + β1* X +β2 * Y + β3 * Z 11

1.1.3.5/ Đánh giá phương pháp đánh giá ngẫu nhiên. 12

1.1.4/ Phương pháp ước lượng hưởng thụ. 13

1.1.5/ Phương pháp chi phí thay đổi năng suất. 14

1.1.6/ Phương pháp chi phí y tế. 14

1.2/ Phương pháp chi phí y tế. 15

1.3/ Tổng quan một số nghiên cứu sử dụng các phương pháp chi phí y tế để đánh giá thiệt hại môi trường. 16

1.3.1/ Luận văn của sinh viên Bùi Thị Hà - lớp KT&QLMT khoá 45 . 16

1.3.2/ Luận văn của sinh viên Nguyễn Hương Giang, lớp KT&QLMT khoá 44. 17

Chương II: Tổng quan về hoạt động và hiện trạng môi trường tại làng nghề Đa Sỹ. 19

2.1/ Tổng quan về làng nghề Đa Sỹ - Kiến Hưng – Thành phố Hà Đông. 19

2.1.1/ Tổng quan về Thành phố Hà Đông. 19

2.1.1.1/ Điều kiện tự nhiên. 19

2.1.1.2/ Các nguồn tài nguyên. 22

2.1.2/ Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội. 25

2.1.2.1/ Tăng trưởng kinh tế. 25

2.1.2.2/ Chuyển dịch cơ cấu kinh tế. 26

2.1.3/ Thực trạng phát triển các ngành kinh tế. 27

2.1.3.1/ Khu vực kinh tế nông nghiệp: 27

2.1.3.2/ Khu vực kinh tế công nghiệp: 29

2.1.2/ Tổng quan về xã Kiến Hưng. 29

2.1.3/ Tổng quan về làng nghề Đa Sỹ. 31

2.1.3.1/ Điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội. 32

2.1.3.2/ Lịch sử làng Đa Sỹ và nghề rèn truyền thống. 34

2.1.3.3/ Hoạt động sản xuất và các sản phẩm chính. 36

2.1.3.4/ Nguyên liệu sản xuất và sơ đồ về quy trình sản xuất. 39

2.1.3.5/ Định hướng phát triển cho làng nghề Đa Sỹ. 41

2.2 /Thực trạng môi trường 43

2.3 Tác động của ô nhiễm môi trường đến sức khoẻ cộng đồng dân cư. 45

Chương III: Đánh giá tình hình sức khoẻ cộng đồng ô nhiễm làng nghề và các giải pháp. 48

3.1/ Sử dụng phương pháp chi phí y tế để định giá thiệt hại do ô nhiễm làng nghề cho người dân. 48

3.2/ Giải pháp và kiến nghị đối với việc quản lý ở làng nghề Đa Sỹ. 51

3.2.1/ Giải pháp đối với việc quản lý ở làng nghề Đa Sỹ 51

3.2.1.2/ Giải pháp về bộ máy quản lý. 52

3.2.1.3/ Giải pháp về quy hoạch làng nghề. 53

3.2.1.4/ Giải pháp về vốn. 54

3.2.1.5/ Giải pháp về sản xuất. 54

3.2.2/ Một số kiến nghị đối với làng nghề Đa Sỹ. 55

-

 

doc59 trang | Chia sẻ: maiphuongdc | Ngày: 28/07/2014 | Lượt xem: 1561 | Lượt tải: 4download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đề tài Đánh giá tình hình sức khoẻ cộng đồng ô nhiễm làng nghề Đa Sỹ và các giải pháp, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
hấn của Hà Nội trong định hướng phát triển không gian vùng đô thị Hà Nội mở rộng, tác động lan tỏa ra các vùng lân cận thành các trục phát triển theo hướng công nghiệp hóa hiện đại hóa. - Địa hình, địa mạo. Hà Đông nằm hoàn toàn trong vùng đồng bằng của tỉnh Hà Tây nên có địa hình đặc trưng của vùng đồng bằng là bằng phẳng, độ chênh địa hình không lớn, biên độ cao nằm trong khoảng 3,5m – 6,8m. Địa hình thành phố chia ra làm 3 khu vực chính: + Khu vực Bắc và Đông sông Nhuệ + Khu vực Bắc sông La Khê + Khu vực Nam sông La Khê Với đặc điểm địa hình bằng phẳng thành phố Hà Đông có điều kiện thuận lợi trong thực hiện đa dạng hóa cây trồng vật nuôi, luân canh tăng vụ tăng năng suất. Tuy vậy cũng cần củng cố hệ thống kênh mương để chủ động trong việc tưới và tiêu để nâng cao hiệu quả sản xuất. - Khí hậu. Thành phố nằm trong nền chung của khí hậu miền bắc Việt Nam và nằm trong vùng tiểu khí hậu đồng bằng của tỉnh Hà Tây với các đặc điểm như sau: + Chế độ khí hậu của vùng đồng bằng sông Hồng, chịu ảnh hưởng gió biển, khí hậu nóng ẩm và có mùa lạnh do ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc, với nhiệt độ trung bình năm là 23,80C, lượng mưa trung bình 1700mm-1800mm. + Chế độ nhiệt: nhiệt độ trung bình năm dao động 23,1-23,30C tại trạm Hà Đông. Mùa lạnh từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau và có nhiệt độ trung bình thấp nhất là 13,60C. Mùa nóng từ tháng 4 đến tháng 10, nhiệt độ trung bình thường trên 230C có tháng nóng nhất là tháng 7. + Chế độ ẩm: độ ẩm tương đối trung bình từ 83-85%. Tháng có ẩm độ trung bình cao nhất là tháng 3, tháng 4 (87-89%), các tháng có độ ẩm tương đối thấp là các tháng 11, tháng 12 (80-81%). + Chế độ bức xạ: hàng năm có khoảng 120-140 ngày nắng với tổng số giờ nắng trung bình tại trạm của thành phố là 1617 giờ. Tuy nhiên số giờ nắng không phân bổ đều trong năm, mùa Đông thường có những đợt không có nắng kéo dài 2-5 ngày, mùa Hè số giờ nắng trên ngày cao dẫn đến ảnh hưởng tới sản xuất nông nghiệp – hạn chế sinh trưởng phát triển của cây trồng trong vụ Đông Xuân và gây hạn trong vụ Hè. + Chế độ mưa: lượng mưa phân bổ không đều, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 chiếm 85-90% tổng lượng mưa trong năm và mưa lớn thường tập trung vào các tháng 6, 7, 8. Mùa khô thường diễn ra từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau chiếm 10-15% lượng mưa cả năm và thường chỉ có mưa phùn, tháng mưa ít nhất là tháng 12, 1 và tháng 2. Đặc điểm khí hậu nhiệt đới, gió mùa nóng ẩm vào mùa hạ và lạnh khô vào mùa đông, là một trong những thuận lợi để cho thành phố phát triển một nền nông nghiệp đa dạng với các loại cây trồng có nguồn gốc nhiệt đới, á nhiệt đới và ôn đới đặc biệt là các cây trồng cho giá trị sản phẩm, kinh tế cao như rau cao cấp – súp lơ, cà rốt, cây màu, cây vụ đông và hoa cây cảnh các loại. - Thủy văn. Sông Nhuệ và sông La Khê là 2 con sông ảnh hưởng trực tiếp đến việc cấp và tiêu thoát nước khu vực thành phố. Theo tính toán của Viện Quy hoạch Thủy lợi – Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn và kết quả tính toán mựa nước sông Nhuệ gần đây của trường đại học Thủy lợi thì tương lai mực nước sông Nhuệ còn cao hơn nhiều so với mực nước hiện nay. Kết quả tính toán và thực do như sau: + Nước mặt: Hiện nay cốt mặt nước sông Nhuệ mùa lũ thường ở cốt ≥ 5,600m luôn cao hơn cốt tự nhiên 5,0m ÷ 5,6m. Vì vậy về mùa mưa nơi nào chưa san lấp tôn cao thường bị úng ngập nặng. + Nước ngầm: Mực nước ngầm có áp về mùa mưa (từ tháng 3 đến tháng 9) thường gặp ở cốt (-9m) đến (-11,0m); Mùa khô (từ tháng 9 đến tháng 3 năm sau) thường ở cốt từ (-10m) đến (-13m). Còn nước ngầm mạch nông không áp thường cách mặt đất từ 1 – 1,5m. Bảng 1. Mực nước sông Nhuệ tại một số địa điểm Các mực nước Hà Đông (m) Đồng Quan (m) Mực nước quy hoạch năm 1974 5,44 4,83 Mực nước lũ năm 1985 5,60 4,78 Mực nước lũ năm 1991 4,76 3,51 Mực nước lũ năm 1992 5,13 4,30 Mực nước lũ năm 1993 4,88 3,52 Mực nước lũ năm 1994 5,79 4,92 Mực nước lũ năm 1995 5,25 4,12 Mực nước lũ năm 1996 5,15 4,80 Mực nước quy hoạch mới P = 5% 6,30 5,73 Mực nước quy hoạch mới P = 10% 5,80 5,23 (Theo thông báo số 2138 ngày 15/10/1988) Mực nước quy hoạch mới P = 5% 6,30 5,90 Mực nước quy hoạch mới P = 10% 5,80 5,40 2.1.1.2/ Các nguồn tài nguyên. - Tài nguyên đất: Điều kiện thổ nhưỡng đất đai của thành phố Hà Đông chủ yếu là đất thịt, thịt nhẹ và đất bãi dọc theo sông Đáy. Nằm trong vùng đồng bằng của tỉnh Hà Tây, thành phố Hà Đông có các loại đất chính như sau: + Đất phù sa được bồi (Pb) + Đất phù sa được bồi (Pb) diện tích là 261 ha chiếm khoảng 10% tổng diện tích đất nông nghiệp, phân bố các vùng ngoài đê của sông Đáy, tập trung chủ yếu tại các xã Biên Giang và Đồng Mai. Đất có màu nâu tươi đến nâu thẫm, theo số liệu phân tích loại đất này có phản ứng gần trung tính, thành phần cơ giới thịt nhẹ (tỷ lệ cấp hạt sét 12mg/100g đất), magiê thấp (<2,5mg/100g đất). Đây là vùng đất có nhiều tiềm năng phát triển kinh tế hàng hóa (cây ăn quả, rau xanh). Hiện nay mới bước đầu thực hiện tổ chức sản xuất, chuyển đổi cơ cấu cây trồng ở một số khu vực. + Đất phù sa không được bồi (P) + Đất phù sa không được bồi (P) diện tích là 1049 ha chiếm 37,4% diện tích đất nông nghiệp phân bố rộng khắp theo các dải đê chính của sông Nhuệ và sông Đáy tập trung chủ yếu ở các xã Dương Nội, Đồng Mai và phân bố rải rác tại các phường Phúc La, Vạn Phúc, Văn Mỗ và các xã Kiến Hưng, Yên Nghĩa, Phú Lãm. Đất có màu nâu tươi, hình thái phẫu diện khá đồng nhất. Theo số liệu phân tích, đất có phản ứng ít chua ở tầng mặt, càng xuống dưới sau pHKCL càng tăng. Hàm lượng mùn trung bình (1,6%), lân khá (0,17%), kali cao (1,58%), kali dễ tiêu khá (16mg/100g đất), lân dễ tiêu thấp (1,18mg/100g đất). Phần lớn loại đất này có địa hình bằng, chủ yếu là trồng lúa và lúa màu, là loại đất có vị trí quan trọng nhất hiện nay, dần được sử dụng hợp lý và đầu tư cho thâm canh tăng vụ, sản xuất các loại nông sản hàng hóa có giá trị kinh tế cao. + Đất phù sa gley (Pg) + Đất phù sa gley(Pg) diện tích 1472 ha chiếm 52,5% diện tích đất nông nghiệp của Thành phố, phân bố ở vùng có địa hình thấp ngập nước trong thời gian dài, mực nước ngầm nông. Đất phù sa gley tập trung chủ yếu tại 3 xã Phú Lương, Yên Nghĩa, Kiến Hưng và một phần phân bố tại các xã Dương Nội, Phú Lãm, các phường Hà Cầu, Vạn Phúc. Do phân bố ở địa hình thấp, bị ngập nước trong thời gian dài, mực nước ngầm nông, nền đất thường bị gley từ trung bình đến mạnh. Qua số liệu phân tích cho thấy tỷ lệ cấp hạt sét (<0,002mm) ở các tầng rất cao và tăng theo chiều sâu phẫu diện, đất có phản ứng chua (pHKCL = 4,3 – 4,7). Hàm lượng mùn cao (2,5%), đạm, kali tổng số cao (0,22% và 1,96%) trong khi lân tổng số thấp (0,073%), lân dễ tiêu nghèo (1,18mg/100g đất), kali dễ tiêu trung bình (10mg/100g đất). Trong thành phần các cation trao đổi hàm lượng can xi trung bình (6,1mg/100g đất), magiê thấp (2,5mg/100g đất), dung tích hấp thu trung bình 10meq/100g đất, độ no bazơ khá (tương đương 70%). Là loại đất chuyên lúa (2 lúa). Ở những chân tương đối cao, dễ thoát nước có thể sản xuất 3 vụ (2 lúa 1 màu). Trên đất này có mật độ dân cư cao, loại đất phù s agley phần lớn đã được thâm canh khá cao, có vị trí quan trọng trong sản xuất lương thực và rau màu của thành phố. - Tài nguyên nước + Tài nguyên nước mặt. Nằm trong tổng thể hệ thống sông Nhuệ: nối với sông Hồng tại Cống Chèm (Hà Nội), đoạn chảy qua địa phận Hà Tây dài 49 km, trong đó đoạn chảy qua thành phố có chiều dài 7 km, sông Nhuệ lấy nước phù sa sông Hồng qua Cống Chèm để tưới cho khoảng 60.000 ha và tiêu nước ra sông Đáy cho 107.530 ha, trong đó tỉnh Hà Tây nói chung và thành phố Hà Đông khoảng 70.000 ha. Vì vậy tác động của sông Nhuệ đến công tác thủy lợi của Hà Đông là rất lớn. Hệ thống sông Đáy: là một phân lưu chính của sông Hồng, về mùa cạn đoạn từ của Hát Môn đến Đập Đáy (Đan Phượng) chỉ còn là một lạch nhỏ vì cửa sông đã bị ngăn cách với sông Hồng bởi đê Vân Cốc và Đập Đáy, chỉ khi phân lũ mới được mở cửa Đập Đáy tiêu nước cho sông Hồng. Sau khi chương trình làm sống lại dòng sông Đáy được thực hiện thì đây là nguồn cung cấp nước tưới và tiêu quan trọng cho sản xuất nông nghiệp của tỉnh nói chung và thành phố nói riêng. Hệ thống sông ngòi trên địa bàn thành phố có lưu lượng đảm bảo cho nhu cầu tưới tiêu cho các hoạt động sản xuất nông nghiệp, công nghiệp và sinh hoạt cho cộng đồng dân cư. b. Tài nguyên nước ngầm Theo tài liệu thuyết minh địa chất thủy văn của PTS. Ngô Ngọc Cát (chủ biên – trưởng phòng nghiên cứu nước dưới đất thuộc Trung tâm địa lý Tài nguyên) thì Thành phố Hà Đông nằm trong khu vực đồng bằng nên nhìn chung nước ngầm dồi dào và ở nông, có thể khai thác phục vụ trong sản xuất và sinh hoạt với trữ lượng khá. 2.1.2/ Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội. 2.1.2.1/ Tăng trưởng kinh tế. Kinh tế có bước phát triển khá, tốc độ tăng trưởng kinh tế hàng năm đạt 12,8%, vượt 3,2% so với chỉ tiêu Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố Hà Đông lần thứ 17. GDP bình quân đầu người tăng: năm 2005 đạt 1.082 USD, vượt 42 USD/người/năm so với chỉ tiêu Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố Hà Đông lần thứ 17. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực: Tỷ trọng các ngành kinh tế của thành phố Hà Đông năm 2005 như sau: + Công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp: 53,25% (mục tiêu Nghị quyết đại hội Đảng lần thứ 17 là 48%). + Thương mại, dịch vụ: 42% (mục tiêu Nghị quyết đại hội Đảng lần thứ 17 là 47%). + Nông nghiệp: 4,75% (mục tiêu Nghị quyết đại hội Đảng lần thứ 17 là 5%). Mặc dù tốc độ tăng trưởng GDP cao, song một số nhân tố tiền đề cho sự bứt phá nhanh, bền vững còn chưa mạnh (yếu tố khoa học – công nghệ cao, công nghiệp hóa – hiện đại hóa, liên kết kinh tế, năng lực cạnh tranh và hàm lượng “chất xám”). Tiềm lực nền kinh tế của thành phố so với kinh tế của Hà Nội liền kề còn khiêm tốn , nên chưa đủ “sức” để khai thác, tận dụng lợi thế liền kề Hà Nội để tạo thế đột phá nhanh đối với sự phát triển của thành phố, cũng như phát huy vai trò động lực đối với nền kinh tế của tỉnh Hà Tây. Chất lượng giá trị gia tăng (GDP) các ngành chưa chuyển biến mạnh, tính bền vững trong tăng trưởng còn chưa cao; tốc độ đổi mới công nghệ còn chậm, năng lực cạnh tranh của nền kinh tế còn yếu. Việc liên kết kinh tế và kinh tế đối ngoại còn nhiều khó khăn hạn chế và chưa chủ động. 2.1.2.2/ Chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Cơ cấu kinh tế của thành phố Hà Đông năm 2005 thể hiện những nét đặc trưng của một đô thị với nền kinh tế phát triển, theo đó tỷ lệ của khu vực công nghiệp – xây dựng và dịch vụ khá cao, tỷ trọng của khu vực nông nghiệp thấp (chỉ chiếm 4,75% GDP). Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng của khu vực công nghiệp – xây dựng trong GDP tăng từ 49,1% năm 2001 lên 53,25% năm 2005; Tỷ trọng của khu vực nông nghiệp giảm từ 5,8% xuống 4,75% tương ứng và tỷ trọng của khu vực dịch vụ giảm từ 45,1% xuống còn 42,0%. Cơ cấu đầu tư trong các ngành, lĩnh vực còn chưa hợp lý. Bảng 2. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế (theo GDP) Đơn vị: % 2000 2001 2002 2003 2004 2005 Cơ cấu GDP 100,0 100,0 100,0 100,0 100,0 100 1. Công nghiệp – xây dựng 49,7 49,1 51,9 52,9 53,1 53,25 2. Nông nghiệp 5,4 5,4 4,8 3,9 5,7 4,75 3. Dịch vụ 44,9 45,5 43,3 43,2 41,2 42 2.1.3/ Thực trạng phát triển các ngành kinh tế. 2.1.3.1/ Khu vực kinh tế nông nghiệp: Toàn thành phố đã hoàn thành quy hoạch sản xuất nông nghiệp chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020. 5 năm qua, sản xuất nông nghiệp phát triển ổn định, sản lượng lương thực bình quân tăng 23,2%/năm. Tổng sản lượng lương thực năm 2001 đạt 7.867 tấn, năm 2006 đạt 22.165,36 tấn (sự tăng đột biến này do mở địa giới hành chính). Giá trị sản xuất trồng trọt/1ha canh tác năm 2006 đạt 37,83 triệu đồng, tăng bình quân 6,87%/năm. Bảng 3. Giá trị sản xuất nông nghiệp Đơn vị: triệu đồng Tổng số Chia ra Trồng trọt Chăn nuôi Dịch vụ Giá hiện hành 2001 35.291 20.370 13.421 1.500 2002 37.257 21.463 14.394 1.400 2003 39.300 21.063 16.837 1.400 2004 85.151 49.598 32.414 3.139 2005 86.106 51.688 32.799 1.619 2006 198.841 91.483 105.119 2.239 Giá cố định 1994 2001 30.526 17.620 11.609 1.297 2002 31.952 18.563 12.235 1.154 2003 32.226 17.272 13.806 1.148 2004 70.886 43.072 25.777 2.037 2005 69.716 42.507 26.165 1.044 2006 111.383 56.128 53.762 1.493 Nguồn: Niên giám thống kê thành phố Hà Đông năm 2006 Cơ cấu sản xuất nông nghiệp có sự chuyển dịch tích cực, phù hợp với đặc điểm kinh tế ven đô: Tỷ trọng giá trị ngành chăn nuôi và thủy sản trong nông nghiệp tăng từ 38,03% năm 2001 lên 52,87% năm 2006; tỷ trọng giá trị ngành trồng trọt giảm tương ứng từ 57,72% xuống còn 46,01%. Tuy nhiên tốc độ công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn triển khai còn chậm và thiếu tính bền vững. Bảng 4. Cơ cấu giá trị sản xuất nông nghiệp Đơn vị: % Tổng số Chia ra Trồng trọt Chăn nuôi Dịch vụ 2001 100 57,72 38,03 4,25 2002 100 57,61 38,63 3,76 2003 100 53,60 42,84 3,56 2004 100 58,25 38,07 3,69 2005 100 60,03 38,09 1,88 2006 100 46,01 52,87 1,13 Nguồn: Niên giám thống kê thành phố Hà Đông năm 2006 - Sản xuất nông nghiệp tiếp tục chuyển đổi cơ cấu theo hướng đáp ứng yêu cầu của thị trường, nâng cao chất lượng giá trị và hiệu quả. Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp phù hợp với đặc điểm nông nghiệp ven đô. 2.1.3.2/ Khu vực kinh tế công nghiệp: Với lợi thế là tỉnh tiếp giáp ngay với Thành phố Hà Nội đồng thời điều kiẹn về cơ sở hạ tang, giao thông vận tải do vậy nên công nghiệp cũng rất phát triển. 2.1.2/ Tổng quan về xã Kiến Hưng. Xã Kiến Hưng được chính thức thành lập vào 6 / 1949 trên cơ sở 3 thôn : Đa Sỹ, Mậu Lương và Hà Trì. Giữa lúc quân và dân địa phương đang cùng quân và dân cawnước tích cực cầm cự chuẩn bị tổng phản công trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Năm 1950, Kiến Hưng có thêm thôn Xa La. Sau ngày giả phóng vào tháng 4 /1955, Kiến Hưng còn lại 3 thôn là : Đa Sỹ, Mậu Lương và Xa La. Và đến tháng 4 / 1961 thì chỉ còn lại 2 thôn Đa Sỹ và Mậu Lương. Đây là những làng cổ có bề dày truyền thống lịch sử căn hoá thuộc huyện Thanh Oai xưa. Nơi đây từng nổi tiếng cả nước với “Đa Sỹ cố danh hương ” đất khoa bảng và có nghề rèn với sản phẩm dao, kéo vừa sắc, vừa bền đẹp nổi tiếng khắp trong Nam ngoài Bắc. Ngày nay, Kiến Hưng là một trong 12 xã, phường của Thành phố Hà Đông, tỉnh Hà Tây. Xã có 2 thôn là Đa Sỹ, Mậu Lương và 2 khu cơ quan dân cư ( Cầu Bươu, Đông Đường ). Theo điều tra đất đai 1 – 1 – 2000 thì toàn xã có tổng diện tích là 439,73 ha trong đó đất nông nghiệp là 302,95 ha; đất chuyên dung là 86,78 ha; đất ở là 46,88 ha; đất chưa sử dụng là 3,12 ha. Dân số tính đế thời điểm ngày 1 -4 -1999 thì toàn xã có 2540 hộ, 10275 nhân khẩu ( trong đó nữ là 5290 ), mật độ là 2334 người / km2. Địa bàn của xã Kiến Hưng nằm trải dài theo dòng sông Nhuệ. Phía Bắc giáp với khu Xa La ( phường Phúc La ) và thôn Yên Xá ( Tân Triều – Thanh Trì ). Phía Tây giáp với khu Hà Trì ( phường Hà Cầu ) và xã Văn Khê. Phía Đông giáp với thôn Hữu Lê xã Hữu Hoà ( huyện Thanh Trì – Hà Nội ). Phía Nam giáp với xã Phú Lương và xã Cự Khê ( Thanh Oai ). Địa bàn xã Kiến Hưng tuy không nằm kề bên các trục đường giao thông lớn như các phường, xã khác của Thành phố Hà Đông nhưng lại giữ vị trí rất trọng yếu về mặt quân sự với những yếu tố then chốt, có dòng sông Nhuệ chảy qua và bên kia là đường 70. Những yếu tố này tạo cho địa bàn xã Kiến Hưng như một cầu nối, một bản lề và là cơ sở để tiến vào nội Thành phố Hà Đông. Về phương diện giao thông đường bộ có: - Đường liên huyện từ nội thị (đường Bà Triệu nối với quốc lộ 6 ) qua Hà Trì xuống Kiến Hưng ( có chiều dài 3,2 km ), đi Hữu Hoà ( Thanh Trì )… - Đường 70 ( Hà Đông đi Văn Điển và nay gọi là đường 430 ) ở phía bên kia sông Nhuệ, trong đó đoạn từ cầu Hà Đông chạy song song với sông Nhuệ cho tới khu vực cầu Tó là quan trọng nhất, chi phối tới địa bàn của xã. Chẳng vậy mà năm 1947, thực dân Pháp đánh chiếm thị xã Hà Đông thì hướng chính của kẻ địch là từ Hà Nội qua Thanh Trì vượt sông Nhuệ qua Hữu Lê đánh vào Mậu Lương, Đa Sỹ rồi thọc vào thị xã Hà Đông. Về phía ta, trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, để gây cơ sở đánh địch ở thị xã Hà Đông, địa bàn xã Kiến Hưng bao giờ cũng được huyện uỷ Liên Nam, thị uỷ Hà Đông chon làm bàn đạp tạo thế xuất kích và tập kết lực lường vào nội thị. Trong cuộc cách mạng dân chủ nhân dân, nhân dân Đa Sỹ, Mậu Lương sớm tiếp thu ánh sang cách mạng của Đảng, góp phần vào thắng lợi của cuộc cách mạng Tháng Tám vĩ đại. Tiếp đó, trong các cuộc kháng chiến chống đế quốc Pháp, Mỹ xâm lược và chiến đấu bảo vệ tổ quốc, Đảng bộ và nhân dân xã Kiến Hưng đã tích cực đóng góp sức người, sức của góp phần vào thứng lợi chung của dân tộc. Mặc dù bị thiệt hại nặng nề do đế quốc Mỹ rải thảm bom B.52 song Đảng bộ và nhân dân xã Kiến Hưng hăng say lao động hàn gắn vết thương, phát triển kinh tế xã hội, làm thay đổi sâu sắc bộ mặt quê hương. 2.1.3/ Tổng quan về làng nghề Đa Sỹ. Vào thời Trần, làng Đa Sỹ gọi là Huyền Khuê. Huyền Khuê xưa gồm các làng nhỏ hợp thành là: làng Hoa ( di tích Quán đường Hoa ), làng Sẽ ( di tích chùa Sẽ - trụ sở hợp tác xã nông nghiệp Đa Sỹ hiện nay ), làng Trung ( di tích quán Trung quân - tức đình cũ )…sáp nhập lại mà thành. Đến thế kỷ 16, danh y Hoàng Đôn Hoà cùng vợ là công chúa Phương Anh ( còn gọi là Phương Dung công chúa ) ở quê nhà ( làng Huyền Khuê ) trồng thuốc, chuyên việc trị bệnh cứu dân. Dân chúng gần xa biết tiếng của danh y đã tấp nập kéo đến chữa bệnh mà phương tiện chủ yếu thời kỳ này là đi thuyền trên sông Nhuệ. Cũng từ đó Huyền Khuê được đổi tên thành Đan Khê ( nghĩa là Bến Thuốc ). Sau đó thì Đan khê lại được đổi tên là Đan Sỹ và cuối cùng đổi thành Đa Sỹ bởi vì trên mảnh đất này có nhiều người khoa bảng. Chỉ tính từ nhà Hậu Lê ( thời Trung Hưng ) đến triều nhà Nguyễn, làng đã có 1 trạng nguyên, 11 tiến sỹ, 2 bảng nhãn đó là chưa kể đến giám sinh. Trong số những vị đỗ Thám hoa, bảng nhãn, Tiến sỹ xưa kia ở làng Đa Sỹ người ta thường nhắc tới vị Tiến Sỹ Hoàng Trình Thanh được triều thần nhà Lê kính nể, ca ngợi là “ tử hiếu nhi thần trung ” nghĩa là người trung với nước, hiếu thảo với cha mẹ. Cụ Hoàng Trình Thanh đã phò tới 4 đời Vua, từ vua Lê Thái Tổ, đóng góp nhiều ý kiến quan trọng trong việc trị nước yên dân. Đặc biệt đến đời Lê Thánh Tông cụ đã dâng 7 chính sách lớn để giữ vững sơn hà được vua chấp nhận. Con cháu cụ đã nối nghiệp cha ông như Tiến sỹ Hoàng Khắc Minh, trạng nguyên Hoàng nghĩa Phú đều là những đại thần nhà Lê. Đa Sỹ có 14 dòng họ chính là : 3 dòng họ Hoàng, 4 dòng họ Nguyễn, 2 dòng họ Lê ( là Lê Văn và Lê Xuân ), 2 dòng họ Trịnh ( là Trịnh Văn và Trịnh Nguyên ), họ Đinh, họ Đặng, họ Đỗ. 2.1.3.1/ Điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội. * Điều kiện tự nhiên. - Vị trí địa lý: Làng nghề Đa Sỹ nằm cách trung tâm thị xã Hà Đông khoảng 2 km về phía nam và giới hạn bởi: Phía Bắc giáp xã Hà Trì. Phía Nam giáp sông Nhuệ. Phía Đông giáp xã Mẫu Lương. Phía Tây giáp xã Xốm. - Đặc điểm tự nhiên + Địa hình tương đối bằng phẳng, có độ cao từ +5,2 đến +5,6 m. Hướng dốc là Đông Bắc– Tây Nam. + Khí hậu thuộc tiểu vùng thị xã Hà Đông. Nằm trong vùng khí hậu đồng bằng Bắc Bộ. Có mùa đông lạnh hanh khô, mùa hè nóng ẩm mưa nhiều. + Nhiệt độ trung bình năm là 23 độ C. Nhiệt độ cao nhất trong năm là 38,2 độ C. Nhiệt độ thấp nhất trong năm là 5 độ C. + Mưa phân bố không đều thường tập chung từ tháng 5 đến tháng 10, lượng mưa lớn chiếm 60% đến 70% tổng lượng mưa cả năm. Lượng mưa trung bình năm là 1620 mm Lượng mưa cao nhất năm là 2497 mm + Độ ẩm trung bình năm là 86%. Độ ẩm cao nhất năm là 94%. Độ ẩm thấp nhất năm là 76%. * Điều kiện kinh tế xã hội. - Điều kiện kinh tế: +. Hệ thống đường giao thông vào làng nghề Đa Sỹ tuy là đường bê tong 100% nhưng vẫn còn rất bụi và xấu đặc biệt là đoạn đường đi vào khu sản xuất của các hộ gia đình, đường đang bị đào xới lên, hai bên đường cống rãnh chứa nước thải không được đậy vào nên bốc mùi lên ( mùi phân của gia súc chăn nuôi, nước thải sinh hoạt, một phần nữa là nước thải của làng nghề hỗn tạp lên ) và đặc biệt là vào mùa hè là rõ rệt nhất. +. Về hệ thống cấp nước cho làng nghề Đa Sỹ. Hiện tại nguồn nước cung cấp cho làng nghề Đa Sỹ là nước giếng khoan và nước mưa chưa có nước máy, phần lớn nước mưa là để dung cho sinh hoạt và nước giếng khoan được dùng cho sản xuất, chăn nuôi và các hoạt động trong sinh hoạt. Trong thời gian sắp tới với dự định xây dựng cụm công nghiệp tập chung thì khi đó sẽ có dự định là nguồn nước cung cấp cho điểm công nghiệp làng nghề Đa Sỹ với công suất 2.400 m3/người là nhà máy nước Hà Đông, điểm lấy nước đấu nối với đường ống D.400 trên đường Lê Hồng Phong đã có sẵn. Cấp nước cho sinh hoạt = 150 lít/người. Cấp nước cho sản xuất = 30m3/tấn sản phẩm. +. Về hệ thống điện cho làng nghề Đa Sỹ. Điện cho sinh hoạt = 230 w/người. Điện cho sản xuất = 2.264 kw/người. Điện cho công cộng dịch vụ = 10% điện cho sinh hoạt. Điện cho chiếu sáng đường = 8 kw/km. 2.1.3.2/ Lịch sử làng Đa Sỹ và nghề rèn truyền thống. Thôn Đa Sỹ thuộc xã Kiến Hưng Thị xã Hà Đông nay là Thành phố Hà Đông. Đa Sỹ là một làng Việt cổ hiến, văn hoá cổ. Trên 1000 nưm lịch sử làng có tên gọi xa xưa “ làng sẽ ” và là một làng có nền văn hiến, văn hoá cổ có nhiều nho lâm kỳ thụ, có 11 tiến sỹ và lưỡng quốc trạng nguyên “ thời Lê ” “ có trần triều thái ý Nguyễn Đăng Dũng”, “ Trần triều trung uý Nguyễn Đăng Vĩnh” thời Trần là thần hoàng làng La Thạch, có thái nội thái y viện phủ phiên lương y dược hầu phò mã Hoàng Đôn Hoà - thời Lê thế kỷ 16 cụ nay là thần hoàng làng. Về nghề rèn truyền thống của làng: theo như truyền thuyết kể lại rảng nghề rèn Đa Sỹ có từ thời Hùng Vương thứ 18. Theo tài liệu nghiên cứu của 2 giáo sư sử học là ông Trần Quốc Vượng và ông Lâm Biển thì đó là đô hồ thống tướng và tràng hoàng thống tướng đóng đinh ở làng sẽ Đa Sỹ. Nghề rèn thời bấy giờ chuyên rèn vũ khí nhằm phát triển kinh tế dân sinh. Và để nhớ ơn công lao to lớn của 2 cụ tổ nghề rèn là cụ Nguyễn Thuật và cụ Nguyễn Thuần nên dân làng Đa Sỹ đã lập lăng thờ 2 cụ vào ngày 27 -3 và ngày 25-8 ân lịch hang năm để mọi người đến cúng lễ. Sau khi hoà bình lập lại năm 1954 Đảng và chính phủ đã quan tâm xây dựng để mọi người đến cúng lễ. Cờ hồng ở nông thôn từ đầy nghề rèn thủ công Đa Sỹ đã được tập thể hoá năm 1958 Đa Sỹ thành lập cùng với tổ hợp sản xuất sau thành 4 hợp tác xã đó là : Tiền Phong – Minh Tiến – Đa Thành – Đa Tiến. Đến năm 1959 – 1960 theo yêu cầu sản xuất tập trung nên 4 hợp tác xã nhỏ đã sát nhập vào nhau thành hợp tác xã rèn Tiền Phong ngày nay. Do nhu cầu của xã hội kể cả trong dân sinh cũng như trong quốc phòng nên nghề rèn Đa Sỹ đã không ngừng được kiện toàn về nhân lực, năng lực và kỹ thuật để đáp ứng được số lượng, chất lượng phục vụ cho nền kinh tế cũng như y tế và quốc phòng. Trải dài theo thời gian làng rèn Đa Sỹ đã có được những thành tự rõ rệt đó là: Được tặng huy chương bạc ở hội chợ Giảng Võ thập kỷ 70 – 8-. Thao diễn tay nghề ở Hà Nam Ninh, 5 làng tham gia hội chợ triển lãm Vân Hồ, 1 lần tại cung văn hoá hữu nghị Việt Xô, gửi hàng vào trưng bày tại Thành phố Hồ Chí Minh kỷ niệm 300 năm Sài Gòn, rồi triển lãm bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn số 2 Ngọc Hà – Hà Nội. Được Sở Thương mại Hà Tây tặng danh hiệu “ Hiệp hội làng nghề Đa Sỹ đã có thành tích tham gia hội chợ Xuân Hà Tây năm 2005 ”. Được UBND Tỉnh Hà Tây cấp bằng công nhận “Làng nghề rèn Đa Sỹ đạt danh hiệu làng nghề công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp tỉnh Hà Tây”. Được ngành Nông nghiệp và phát triển nông thôn Hà Tây trao tặng danh hiệu “đơn vị tham gia phiên chợ giống cây trong vật tư nông nghiệp và nông sản ” Tỉnh Hà Tây vào tháng 3 năm 2005. Được UBND Thị xã Hà Đông - Tỉnh Hà Tây tặng làng nghề rèn Đa Sỹ đạt danh hiệu “ tập thể lao động xuất sắc cấp Thị xã năm 1998 ”. Được ban tổ chức “ Hội du lịch làng nghề truyền thống Hà Tây lần thứ II” chào Seagame 22 tặng cờ lưu niệm. Nhìn chung sản phẩm nghề rèn của Đa Sỹ gồm có dao, kéo, tràng, bào, đục ngày càng được nâng cao về chất lượng và thẩm mỹ. Ở Đa Sỹ chiếm 80 % số hộ làm rèn, 10 % số hộ làm các nghề khác, 6 % số hộ buôn bán nguyên liệu và mua sản phẩm, 4 % làm các ngành dịch vụ khác (đây là theo như số liệu thống kê cũ ). Năm 1998 một ban lãnh đạo làng nghề được thành lập và đến năm 2000 được tỉnh Hà Tây cấp bằng công nhận lang nghề truyền thống. 2.1.3.3/ Hoạt động sản xuất và các sản phẩm chính. Làng Đa Sỹ thị xã Hà Đông có nghề rèn truyền thống đã hình thành và phát triển hàng trăm năm nay cùng với làng Vũ Ngoại huyện Ứng Hoà ( theo như ông chủ tịch hiệp hội làng nghề cho biết làng nghề này đã được 7 đến 8 trăm tuổi ). Trước năm 1996, cả làng chỉ có hơn 300 lò rèn, làm ra hơn 2 triệu sản phẩm một năm. Đến năm 2000 số lò rèn trong thôn đã phát triển lên đến 500 lò, đến năm 2005 đã phát triển lên 600 đến 700 lò nhưng do điều kiện kinh tế trong thời gian qua có nhiều biến đổi nên một số công nhân đã bỏ nghề rèn này theo nghề khác, do vậy nên hiện nay chỉ có khoảng 400 lò ren, tuy vậy nhưng số sản phẩm làm ra không giảm vì năng suất ngày càng được nâng cao lên do đư

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • doc20633.doc
Tài liệu liên quan