Đề tài Doanh nghiệp Việt nam trong tiến trình hội nhập AFTA - Vấn đề và giải pháp

Trong những năm gần đây, với sự hướng dẫn và hỗ trợ của các cơ quan Nhà nước về khung khổ pháp lý, về đổi mới chính sách kinh tế vĩ mô, về thuận lợi hoá môi trường kinh doanh cũng như những hỗ trợ trực tiếp và gián tiếp về việc nâng cao các nguồn lực cho sự phát triển, các doanh nghiệp Việt Nam đã có những bước tiến nhất định trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế nói chung, hội nhập AFTA nói riêng. Tuy nhiên, tuỳ theo điều kiện và khả năng phát triển cụ thể, phần lớn các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, vẫn còn lúng túng cả trong nhận thức cũng như xây dựng chiến lược, kế hoạch, bước đi cần thiết trong tiến trình hội nhập, trước hết là hội nhập AFTA. Chính bản luận án này là tài liệu tạo cơ sở lý luận và phương pháp luận cho tiến trình hội nhập AFTA của các doanh nghiệp Việt Nam trong thời gian tới.

Luận án đã thực hiện được một số công việc sau đây:

- Đã hệ thống hoá một số vấn đề lý luận và cơ sở thực tiễn về hội nhập kinh tế quốc tế nói chung, hội nhập AFTA nói riêng đối với các doanh nghiệp thông qua việc làm rõ khái niệm, bản chất và các loại hình hội nhập kinh tế quốc tế; làm rõ mục tiêu, chương trình hoạt động của AFTA; khẳng định vai trò và những điều kiện cần thiết đối với doanh nghiệp Việt Nam trong tiến trình hội nhập AFTA và bước đầu rút kinh nghiệm về nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của một số quốc gia trong khu vực.

 

doc150 trang | Chia sẻ: huong.duong | Ngày: 14/09/2015 | Lượt xem: 640 | Lượt tải: 2download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Đề tài Doanh nghiệp Việt nam trong tiến trình hội nhập AFTA - Vấn đề và giải pháp, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
giá thành có thể cạnh tranh được với các nước trong khu vực để đẩy mạnh xuất khẩu. Tuy nhiên, trong lĩnh vực này chủ yếu vẫn là gia công xuất khẩu. Toàn bộ các mặt hàng quần áo và hàng may sẵn mặc dù hiện đang có mức thuế suất cao nhưng đều đã được để ở danh mục cắt giảm. Tuy nhiên, mặt hàng này vẫn còn có thể gặp phải những vướng mắc về vấn đề hạn chế số lượng hàng nhập khẩu. Đối với ngành điện - điện tử: Các nước ASEAN đã đi trước Việt Nam một bước trong việc phát triển ngành điện - điện tử. Các nước ASEAN đã đưa các mặt hàng thuộc lĩnh vực này vào danh mục cắt giảm thuế ngay để đẩy mạnh xuất khẩu các sản phẩm của mình. Hiện nay, chỉ có một số ít các sản phẩm được các nước để trong danh mục loại trừ tạm thời với một tiến trình giảm chậm như: các sản phẩm biến thế điện công suất thấp, thiết bị âm thanh, ti vi, đèn neon và điện cực của Thái lan, máy phát điện công suất thấp, đèn hình, một số thiết bị đIện của Indonesia, đài, tivi của Philippines. Đối với ngành cơ khí đóng tầu: Mặc dù là ngành được chính phủ quan tâm từ nhiều năm nay, song so với trình độ của các nước ASEAN thì Việt Nam vẫn còn yếu kém so với các nước như: Indonesia, Malaysia, Singapore, Thái lan. Đối với ngành này, phần lớn các mức thuế áp dụng hiện nay cho tầu thuỷ nhập khẩu là 0%. Để hỗ trợ lớn nhất cho ngành đóng tầu trong nước, trong tiến trình thực hiện CEPT, các mức thuế sẽ được nâng lên một cách phù hợp cho các sản phẩm đóng tàu mà trong nước có thể sản xuất, lắp ráp được và sau đó sẽ đưa vào lịch trình giảm thuế chậm nhất. Đồng thời sẽ sửa đổi các mức thuế suất đối với linh kiện, phụ tùng cơ khí, điện một cách hợp lý nhất theo tỷ lệ nội địa hoá để tạo điều kiện thu hút đầu tư nước ngoài vào sản xuất các sản phẩm, linh kiện của ngành đóng tầu. Đối với sản phẩm mỹ phẩm và chất tẩy rửa: Hiện nay, sản xuất trong nước đối với mặt hàng mỹ phẩm và chất tẩy rửa đã đáp ứng đáng kể nhu cầu trong nước về chất lượng, mẫu mã và giá cả. Tuy nhiên, phần lớn các chế phẩm dùng làm nguyên liệu cho đầu vào được nhập khẩu, mà trong đó một phần đáng kể từ ASEAN. Hiện nay các nước ASEAN đều đã đưa các mặt hàng này vào danh mục cắt giảm ngay, ngoại trừ chất tẩy rửa của Indonesia được để trong danh mục loại trừ tạm thời. Trên thực tế việc đưa các sản phẩm này vào danh mục cắt giảm thuế quan không ảnh hưởng nhiều đến khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam. Đối với ngành xi măng: So sánh với khả năng cạnh tranh của các nước trong khu vực, xi măng sản xuất trong nước sẽ phần nào có lợi thế về các chi phí vận tải, bảo hành và thị hiếu tiêu dùng. Song yếu tố quan trọng là giá thành sản xuất lại là một trong những mặt không thuận lợi của các doanh nghiệp Việt Nam và cần có một thời gian tương đối dài đầu tư thì ngành này mới có mặt bằng giá thành tương đương khu vực. Hiện nay, phần lớn các nước ASEAN đều đã đưa mặt hàng này vào danh mục cắt giảm với tiến trình giảm nhanh, ngoại trừ Malaysia. Hơn nữa, ngay với hàng rào bảo hộ hiện nay, lượng xi măng nhập khẩu từ các nước ASEAN, đặc biệt từ Indonesia và Thái lan đã chiếm một tỷ trọng lớn. Hiện mặt hàng này được Chính phủ đưa vào danh mục giảm thuế chậm nhất. Thực tế thời gian qua đã cho thấy, ASEAN đóng một vai trò quan trọng trong các hoạt động kinh tế đối ngoại của Việt nam. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu giữa Việt Nam và các nước ASEAN năm 2000 ước tính 7 tỷ USD, trong đó xuất khẩu đạt gần 3 tỷ USD chiếm 1/ 4 tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam. Tổng số vốn đầu tư trực tiếp nước ngoàI FDI từ các nước ASEAN vào Việt Nam ước tính đạt gần 4 tỷ USD tính đến 2000, chiếm tỷ trọng gần 20% tổng số vốn FDI. Như vậy, những lợi ích to lớn thu được từ các quan hệ hợp tác kinh tế – thương mại giữa Việt nam với các nước trong khối ASEAN cho thấy các nguồn lợi kinh tế là những động lực lớn nhất thúc đẩy cho quá trình xúc tiến thực thi các cam kết của Việt Nam nhằm duy trì và gia tăng hơn nữa các lợi ích thu được từ quá trình liên kết kinh tế trong ASEAN. 2.2.4. Tình hình liên quan đến sức cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam [20], [21], [23], [30], [34], [53] Theo đánh giá của Diễn đàn kinh tế thế giới năm 1999, khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam ở thứ hạng 48/59 nước được xem xét. Phần lớn hàng hoá xuất khẩu của các doanh nghiệp Việt Nam đều có giá thành cao, chất lượng không ổn định, mẫu mã chủng loại còn nghèo nàn, bao bì kém hấp dẫn, khả năng giao hàng không chắc chắn. Giải thích tình trạng này, hầu hết các doanh nghiệp đều đổ lỗi cho thiếu vốn và thiết bị lạc hậu. Hơn 90% doanh nghiệp Việt Nam có quy mô vừa và nhỏ. So sánh các doanh nghiệp vừa và nhỏ của Việt Nam với Hoa Kỳ về vốn bình quân/doanh nghiệp, các doanh nghiệp vừa và nhỏ của Hoa Kỳ so với ta lớn hơn 500 lần; tương tự các doanh nghiệp vừa và nhỏ của Nhật Bản hơn ta 300 lần, của Thái Lan hơn ta 150 lần. [53] Phần lớn các doanh nghiệp tư nhân có quy mô nhỏ, rất dễ bị tổn thương trước biến động của thị trường. Hiện có gần 30% doanh nghiệp tư nhân có mức vốn dưới 100 triệu đồng. Số doanh nghiệp tư nhân có vốn 10 tỷ đồng trở lên chỉ chiếm 1,0%, 100 tỷ đồng trở lên chỉ chiếm 0,1% tổng số doanh nghiệp. Nguồn vốn tự có và tự tích luỹ cho đầu tư còn rất hạn chế. Phần lớn họ phải đi vay từ bè bạn và gia đình, từ khu vực phi chính thức. Chỉ 1/3 số doanh nghiệp tư nhân vay được vốn từ hệ thống ngân hàng (chủ yếu là ngân hàng thương mại cổ phần) và nguồn vốn này chỉ chiếm chưa đầy 20% tổng số nguồn vốn vay của họ. Các doanh nghiệp Nhà nước tuy thuận lợi hơn trong việc tiếp cận nguồn vốn ngân hàng nhưng phần đông cũng đang hoạt động trong tình trạng thiếu vốn, chiếm dụng vốn lẫn nhau. Năm 2000, vốn bình quân của một Tổng công ty 91 là 3885 tỷ đồng, trong đó 5 Tổng công ty có mức dưới quy định 1000 tỷ đồng (Công nghiệp tàu thuỷ, cà phê, Lương thực miền Nam, Lương thực miền Bắc, thuốc lá). Trình độ công nghệ, thiết bị máy móc trong các doanh nghiệp Việt Nam rất lạc hậu so với các nước trong khu vực. Máy móc, thiết bị thuộc nhiều thế hệ, chủng loại, nguồn gốc khác nhau. Theo kết quả khảo sát của Bộ Khoa học - Công nghệ và môi trường, tại nhiều doanh nghiệp Nhà nước thuộc 7 ngành khác nhau, máy móc thiết bị của ta lạc hậu so với thế giới từ 10 đến 20 năm, mức độ hao mòn hữu hình từ 30 đến 50%. Thời gian khấu hao tài sản cố định kéo dài bình quân từ 10 đến 12 năm trong khi mức khấu hao bình quân của thế giới chỉ từ 7 đến 8 năm. Trình độ của các chủ doanh nghiệp Việt Nam nhìn chung còn rất hạn chế, đặc biệt là đối với các chủ doanh nghiệp tư nhân: chỉ có 31% đạt trình độ đào tạo từ cao đẳng trở lên. Hơn 60% số lao động trong các doanh nghiệp tư nhân chưa học hết lớp 10 và phần lớn lao động là thủ công. Xét trên cả hệ thống doanh nghiệp Việt Nam, mối liên kết giữa các doanh nghiệp còn rất lỏng lẻo, chỉ cạnh tranh mà thiếu sự hợp tác phát triển, đặc biệt giữa các doanh nghiệp Nhà nước và doanh nghiệp ngoài quốc doanh. Ngay giữa các thành viên trong một Tổng công ty cũng chưa có sự kết dính cần thiết. Mối quan hệ thầu phụ công nghiệp giữa một bên là các doanh nghiệp quy mô lớn với một bên là các doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ chỉ xuất hiện rất ít ở một số ngành và quan hệ chưa thực sự mang tính phân công, hợp tác, chỉ đơn thuần là gia công - chế biến và thu mua sản phẩm. Điều này phản ánh trình độ tổ chức sản xuất, phân công và chuyên môn hoá sản xuất giữa các doanh nghiệp còn rất yếu, chưa trở thành một nhân tố để nâng cao sức cạnh tranh [53]. Khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp phụ thuộc nhiều vào mức độ đúng đắn trong việc xây dựng chiến lược kinh doanh, mức độ vận dụng chính sách theo chiều hướng nào.Trước tiên là xem xét phản ứng của các doanh nghiệp đối với môi trường kinh doanh có phản ánh ý muốn giảm chi phí, tăng lợi nhuận hay là chỉ muốn chạy chọt tìm kiếm siêu lợi nhuận. Khi nền tảng chính sách thúc đẩy tốt quá trình phân bố các nguồn lực thông qua thị trường cạnh tranh bình đẳng và tạo dựng được áp lực cạnh tranh thông qua mở cửa nền kinh tế. Do vậy, điều cốt lõi cho các doanh nghiệp là phải nỗ lực cắt giảm chi phí, nâng cao năng suất và vì vậy họ sẽ tồn tại và mở rộng được thị trường, mở rộng được các hoạt động kinh doanh. Tuy nhiên, một khi các kích thích của chính sách có thiên hướng bảo hộ và gây ra các méo mó thị trường, thì sẽ là hợp lý cho các doanh nghiệp sử dụng các nguồn lực theo tín hiệu của bảo hộ và tìm cách thu được “siêu lợi nhuận” nhờ những méo mó đó. Điều đó có nghĩa các nguồn lực khan hiếm sẽ bị sử dụng sai lầm và lãng phí, kết quả là sẽ không đạt được tăng trưởng cao và bền vững. Kể từ khi Việt Nam tiến hành đổi mới và mở cửa kinh tế, nhận thức của các doanh nghiệp Việt Nam đã có những thay đổi căn bản. Việc xác định mức lương và giá cả ngày một sát với định hướng của thị trường hơn. Các doanh nghiệp đã vận dụng tốt các cơ hội thị trường để xuất khẩu và đa dạng hoá các hoạt động kinh doanh. Đối với những ràng buộc khắt khe hơn về tài chính và trở nên tự chủ trong quản lý, một số lượng đáng kể các doanh nghiệp Nhà nước đã nâng cao được chất lượng kinh doanh. Hiện nay, vì sự không chắc chắn của chính sách và sự phân biệt đối xử, các doanh nghiệp tư nhân, nhìn chung đã hoạt động trong mối liên hệ chặt chẽ với khu vực kinh tế nhà nước hoặc dưới “ô” Nhà nước. Hoạt động chạy chọt lợi ích vây quanh khu vực kinh tế Nhà nước của tất cả các loại hình doanh nghiệp và khu vực kinh tế đang tăng lên. Mặc dù số lượng các doanh nghiệp đã tăng lên đáng kể, nhưng về chất, mức độ cạnh tranh vẫn còn nhiều yếu kém, điều này thể hiện: Trình độ chung về công nghệ của các doanh nghiệp thấp (máy móc thiết bị ở trình độ thấp hơn so với các nước tiên tiến từ 2 đến 4 thế hệ). Thiếu kỹ thuật viên, kỹ sự và các nhà khoa học để có được một nền công nghiệp tiên tiến; cơ sở và chi phí cho công tác nghiên cứu phát triển yếu. Chất lượng và số lượng của cơ sở vật chất hạ tầng thấp. Điều kiện kho bãi và hệ thống phân phối yếu kém. Mạng lưới viễn thông quốc tế còn nhiều hạn chế: tốc độ đường truyền chậm, cước phí đắt đỏ, Kỹ năng quản lý kinh doanh chung thấp (bao gồm cả chiến lược cạnh tranh, thiết kế và phát triển sản phẩm, kiểm tra chất lượng, hoạt động hợp tác tài chính, nguồn nhân lực và tiếp thị). Năng suất lao động thấp. Thị trường lao động không hiệu quả và thiếu linh hoạt. Nền tảng hỗ trợ cho một nền kinh tế thị trường cạnh tranh yếu kém: Luật pháp quá chú trọng đến sở hữu chứ không phải là tạo ra một sân chơi bình đẳng; Chưa có luật cạnh tranh, luật chống độc quyền; Còn nhiều tồn tại đối với môi trường pháp lý có liên quan đến các yếu tố sản xuất như đất đai và lao động. Cuộc điều tra 65 doanh nghiệp công nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau trong lĩnh vực công nghiệp trên địa bàn Hà Nội cho thấy sức cạnh tranh của các doanh nghiệp còn thấp, thể hiện: Hàng hoá do các doanh nghiêp sản xuất có chất lượng chưa cao so với hàng hoá các nước trong khu vực. Phần lớn các ý kiến trả lời cho thấy, chất lượng hàng hoá do Việt Nam sản xuất chỉ ngang bằng hoặc thấp hơn hàng hoá nhập khẩu từ các nước khu vực. Giá cả hàng hoá thường cao hơn giá cả sản phẩm cùng loại của nước ngoài nhập khẩu. Nhiều nhân tố, nhất là chi phí hạ tầng cao, nguyên liệu nhập với giá cao, thuế nhập khẩu nguyên liệu cao và công nghệ sản xuất lạc hậu, đã làm tăng chi phí sản xuất và tăng giá cả hàng hoá do các doanh nghiệp Việt nam sản xuất ra. Việc tổ chức thu thập thông tin và tiêu thụ sản phẩm còn yếu kém. Trong số các doanh nghiệp điều tra, chỉ có khoảng 60% doanh nghiệp được điều tra có tổ chức bộ phận nghiên cứu triển khai để xúc tiến xuất khẩu. Hầu hết các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay chưa có hệ thống cung cấp và đảm bảo thông tin về thị trường, thị hiếu người tiêu dùng và đối thủ cạnh tranh quốc tế mà chủ yếu dựa vào sự hỗ trợ cung cấp thông tin từ Nhà nước. Theo kết quả điều tra, chỉ có 6,6% doanh nghiệp có kênh thông tin riêng từ chi nhánh, văn phòng đại diện ở nước ngoài; 5,4% doanh nghiệp nhận được thông tin từ đại diện thương mại Việt Nam ở nước ngoài; còn lại, phần lớn các doanh nghiệp thu thập thông tin không hệ thống, không cập nhật và không có giá trị ra quyết định cao từ các nguồn thông tin khác. Các biện pháp tổ chức tiêu thụ như quảng cáo, khuếch trương thương hiệu trong và ngoài nước, dịch vụ sau bán hàng chưa tốt nên khâu tiêu thụ hiện nay đang gặp rất nhiều khó khăn. Ngoài ra tỷ lệ nhân viên làm việc cho bộ phận marketing cũng rất thấp, chỉ có 2,81% lao động của các doanh nghiệp, trong đó, doanh nghiệp Nhà nước có tỷ lệ thấp nhất là 1,24%, doanh nghiệp tư nhân là 3,27%, doanh nghiệp liên doanh cao nhất là 15,39%. Chính vì vậy khả năng đo độ nhạy của thị trường, từ đó tiếp cận và chiếm lĩnh thị trường trong và ngoài nước gặp nhiều khó khăn. Khả năng mở rộng xuất khẩu, chiếm lĩnh thị trường nước ngoài còn rất hạn chế. Hơn 60% ý kiến trả lời cho rằng, hàng hoá xuất ra là tiêu thụ trên thị trường nội địa. Chỉ có 46,4% doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu hiện nay trả lời có khả năng mở rộng thị trường xuất khẩu. Các doanh nghiệp Việt Nam cũng chưa thực sự tập trung đến quá trình chuẩn bị và thực hiện AFTA và WTO. Vẫn còn nhiều doanh nghiệp chưa hiểu biết về nội dung, yêu cầu, bước đi của gia nhập AFTA và WTO. Hiện tại, hầu hết các doanh nghiệp chưa sử dụng mẫu D để hưởng thuế ưu đãi theo CEPT. Các hình thức liên kết khác như đầu tư nội bộ ASEAN (AIA) và hợp tác công nghiệp ASEAN (AICO) được rất ít doanh nghiệp quan tâm mặc dù điều kiện tham gia vào AICO đã được nới lỏng từ năm 1999. 2.3. Xem xét Năng lực cạnh tranh của Việt Nam từ khi diễn ra quá trình hội nhập AFTA 2.3.1. Xem xét năng lực cạnh tranh quốc gia [20], [25], [38], [44], [45], [57] Cho đến năm 1999, Diễn đàn kinh tế thế giới - WEF (World Economics Forum) đánh giá năng lực cạnh tranh quốc gia trên cơ sở sử dụng 8 nhóm tiêu chí với 155 chỉ tiêu, vừa kết hợp điều tra theo mẫu, vừa thăm dò ý kiến của 1500 công ty trên thế giới. Trong các xếp hạng khác nhau sự khác biệt trong xếp hạng ở các nền kinh tế phát triển, có đủ số liệu thấp hơn nhiều so với xếp hạng của những nền kinh tế đang phát triển và đang chuyển đối. Tám nhóm tiêu chí của WEF gồm: 1- Độ mở cửa của nền kinh tế (17/ 100); 2- Vai trò và hiệu lực của Chính phủ (17/100); 3- Sự phát triển của hệ thống tài chính – tiền tệ; 4- Trình độ phát triển của công nghệ (11/100); 5- Trình độ phát triển của cơ sở hạ tầng (11/ 100); 6- Trình độ quản lý của doanh nghiệp (6/100); 7- Số lượng và chất lượng của lao động (15/100); 8- Trình độ phát triển của thể chế (6/100): bao gồm hiệu lực của các cơ quan bảo vệ pháp luật. Mỗi nhóm có trọng số nhất định (tỷ trọng phần trăm trong dấu ngoặc). Việt Nam đang trong quá trình phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa nhằm xây dựng nền tảng vật chất cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đã chấp nhận xây dựng một nền kinh tế hoạt động theo cơ chế thị trường, Nhà nước Việt Nam cũng như các doanh nghiệp phải tuân theo các cơ chế trong nền kinh tế thị trường. Chính các cơ chế đó điều khiển sự vận hành của nền kinh tế; nó là một hệ thống cân bằng để đảm bảo cho thể chế kinh tế thị trường vận động và phát triển. Cạnh tranh là một trong những qui luật của nền kinh tế thị trường; cạnh tranh là phương thức sống và tồn tại của các doanh nghiệp trong môi trường kinh tế thị trường. Thông qua cạnh tranh mà các sản phẩm mới ra đời để phục vụ cho nhu cầu con người. Cạnh tranh cũng buộc các hãng sản xuất phải điều chỉnh mức giá, qui mô và hình thức sản xuất cũng như phân phối để nhằm đạt được một kết quả duy nhất là tồn tại trên thị trường. Như vậy, chúng ta có thể khẳng định lại rằng cạnh tranh chính là phương thức sống và tồn tại của các doanh nghiệp trong môi trường kinh tế thị trường. Phân tích các yếu tố trên của các doanh nghiệp Việt Nam cho thấy yếu tố nào của Việt Nam cũng đều yếu kém hơn so với các nước trong khu vực. Sau đây là một số yếu tố đáng quan tâm: Thứ nhất, độ mở cửa nền kinh tế: Hiện nay, Việt Nam đã tiến hành chính sách mở cửa, nhưng sự mở cửa này còn thua xa so với các nước trong khu vực do tính không đồng bộ và thiếu nhất quán của các chính sách thương mại và chính sách đầu tư. Còn thiếu những giải pháp mạnh, những bước đi có tính chất đột phá trong việc phát triển quan hệ kinh tế đối ngoại. Ví dụ, Trung Quốc đã hình thành các đặc khu kinh tế. Trong các đặc khu kinh tế, các doanh nghiệp trong nước và nước ngoài được hưởng một môi trường đầu tư hoàn hảo như bất cứ các nước phát triển nào, chẳng hạn như Anh, Mỹ... Các doanh nghiệp được quyền bảo vệ tài sản vĩnh viễn, được luân chuyển lợi nhuận của họ đi bất cứ nước nào, được hưởng một chế độ an ninh hơn hẳn các khu vực khác. Những người sống và làm việc trong đặc khu kinh tế đều có giấy phép đặc biệt như một loại visa và do đó đã hạn chế được rất nhiều kẻ tội phạm vào khu vực này. Qua đó, ta thấy Trung Quốc đã tạo ra một điều kiện tối đa cho các doanh nghiệp để họ tập trung vào sản xuất và kinh doanh. Nhìn lại nước ta, ta thấy đến ngay cả các doanh nghiệp Việt Nam còn phải ngại ngần về việc xin làm hộ chiếu khi muốn ra nước ngoài thăm quan và ký kết hợp đồng chứ chưa nói gì đến người nước ngoài. Như vậy, khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam so với các doanh nghiệp trong khu vực xét về góc độ độ mở cửa của nền kinh tế là yếu hơn. Thứ hai, vai trò của Chính phủ và năng lực của các cơ quan Chính phủ. Vai trò của Chính phủ thể hiện ở mức độ can thiệp của Chính phủ thông qua chính sách tài khoá, chính sách phát triển khu vực kinh tế tư nhân, còn năng lực của các cơ quan Chính phủ thể hiện trong việc hỗ trợ hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, cung cấp các dịch vụ hành chính công. Tuy vai trò của Chính phủ đã được cải thiện, năng lực của Chính phủ cũng từng bước được nâng cao nhưng vẫn còn nhiều yếu tố hạn chế và bất cập. Thứ ba, nguồn nhân lực: Việt Nam có gần 80 triệu dân. Dân số Việt Nam trẻ, số người trong độ tuổi lao động chiếm 40% dân số. Điều này có nghĩa là nước ta có một nguồn nhân lực dồi dào. Hơn nữa, nguồn nhân lực có giá rẻ. Do đó, Việt Nam và các doanh nghiệp Việt Nam hoàn toàn có lợi thế cạnh tranh với các doanh nghiệp nước ngoài vì giá nhân công rẻ. Và đây cũng là điểm mạnh để nước ta thu hút vốn đầu tư nước ngoài. Nhưng nếu phân tích yếu tố này một cách tổng thể, có sự so sánh với các nước trong khu vực và kết quả thực tế khả năng của nguồn nhân lực nước ta, ta thấy rằng nhân công Việt Nam rẻ (không rẻ hơn Trung Quốc) nhưng chất lượng lao động lại hoàn toàn thua kém so với các nước trong khu vực. Kết quả thực tế cũng chứng minh: có rất nhiều người Việt Nam được xuất khẩu lao động sang nước ngoài đã bị trả về vì không đủ trình độ tối thiểu. Ví dụ, đi làm người giúp việc nhưng không biết sử dụng máy giặt đã làm cháy máy, là cháy quần áo... Trong khi đó số người đi lao động xuất khẩu của Philippines là gần 4 triệu; chất lượng lao động của họ đủ để đáp ứng nhu cầu khách hàng thế giới. Người Philippines coi giúp việc là một nghề và họ có trường đào tạo nghề này cũng rất qui củ như các trường dạy nghề khác. Chỉ qua ba yếu tố trên, những yếu tố mà ta cho rằng là ta mạnh - cũng đã thấy được rằng năng lực cạnh tranh của Việt Nam còn rất yếu so với các nước trong khu vực và trên thế giới. Là một nền kinh tế trong quá trình chuyển đổi sang cơ chế thị trường, từng bước hội nhập kinh tế quốc tế, chỉ số năng lực cạnh tranh quốc gia của Việt Nam năm 1997 là 49/53 nước được xếp hạng, năm 1998 do các nước trong khu vực bị khủng hoảng kinh tế, Việt Nam xếp 39/53 nước, năm 1999 xếp 48/59 nước là những vị trí thấp. Cũng cần nói thêm, chỉ tiêu này chưa xét đến những nhân tố khác ảnh hưởng mạnh đến thu hút đầu tư nước ngoài như qui mô của nền kinh tế thị trường như trong trường hợp của Trung Quốc. Tuy Trung Quốc được xếp thứ hạng thấp (xếp thứ 41 năm 2000, thứ 32 năm 1999, thứ 28 năm 1998 và 29/53 năm 1997), song Trung Quốc vẫn thu hút đầu tư nước ngoài rất cao và ngày càng tăng... Từ năm 2000, WEF điều chỉnh lại các nhóm tiêu chí, gộp thành ba nhóm lớn là: sáng tạo kinh tế, khoa học công nghệ, tài chính, quốc tế hoá, trong đó trọng số của sáng tạo kinh tế, khoa học công nghệ đã tăng mạnh từ 1/9 lên 1/3. Do thay đổi như vậy, xếp hạng của Việt Nam chỉ còn 53/ 59 và năm 2001 xếp hạng 62/75 nước. Sự xếp hạng cụ thể của 8 khối tiêu chí lớn của Việt Nam năm 1999 như sau: Bảng 7 - Xếp hạng của các khối tiêu chí của Việt Nam năm 1999 Độ mở 55 Chính phủ 14 Tài chính 45 Kết cấu hạ tầng 53 Công nghệ 50 Quản lý 50 Lao động 43 Thể chế 31 Bảng 8 - Xếp hạng của các khối tiêu chí của Việt Nam năm 2000 Sáng tạo kinh tế, khoa học, công nghệ 50 Tài chính 47 Độ mở 56 Xếp hạng chi tiết năm 2001 của WEF cho Việt Nam cho thấy, chỉ số về năng lực cạnh tranh hiện tại (CCI) đứng thứ 62, xếp hạng hoạt động doanh nghiệp và chiến lược đứng thứ 64, xếp hạng chất lượng môi trường kinh doanh quốc gia đứng thứ 64. Với sự đánh giá như trên (ở đây xin phép không bình luận về độ chính xác của xếp hạng trên), có thể thấy các doanh nghiệp Việt Nam chịu thiệt thòi để duy trì và nâng cao năng lực cạnh tranh các sản phẩm và dịch vụ của mình vì nhiều yếu tố như khả năng tiếp cận thị trường vốn, công nghệ, ngoại tệ, chi phí của các dịch vụ thuộc kết cấu hạ tầng vv... đều bất lợi so với những nước được xếp hạng cao hơn. Yếu tố Chính phủ đối với Việt Nam chỉ được xếp hạng cao nhất trong khi lao động - vốn được coi là một thế mạnh của Việt Nam - chỉ được xếp hạng tương đối thấp do tỷ lệ đào tạo và chất lượng nguồn nhân lực được đánh giá thấp. Việt Nam được tổ chức Tư vấn về rủi ro kinh tế và chính trị có trụ sở tại Hồng Kông xếp hạng cao nhất về an toàn ở Đông Nam á là một tín hiệu đáng khích lệ để thu hút đầu tư nước ngoài. Đồng thời, cũng tổ chức đó lại xếp hạng Việt Nam thấp nhất về độ công khai, minh bạch (9,63/10) phản ánh sự lo ngại của giới kinh doanh về lĩnh vực này ở Việt Nam. Đặc biệt yếu tố sáng tạo kinh tế, khoa học công nghệ trong xếp hạng năm 2000 với trọng số được nâng lên càng bộc lộ những hạn chế trong môi trường kinh doanh. Các tiêu chí như mức độ sáng tạo, năng lực chuyển giao hay tiếp thu công nghệ, khả năng khởi nghiệp để thực hiện một ý tưởng sáng tạo đều được xếp hạng thấp trong khi các yếu tố về tài chính và độ mở vẫn chưa có cải thiện. Năng lực cạnh tranh không còn chủ yếu là dựa vào tài nguyên thiên nhiên, lao động rẻ nhưng không được đào tạo, đồng tiền giá trị thấp, ưu đãi khuyến khích của Chính phủ về thuế hay giá. Năng lực cạnh tranh quốc gia thông qua các chỉ tiêu năng lực cạnh tranh tăng trưởng và năng lực cạnh tranh hiện tại. Năng lực cạnh tranh tăng trưởng thể hiện qua các khía cạnh: - Năng lực đổi mới, trong đó có chất lượng của các viện nghiên cứu, việc chi tiêu của khu vực tư nhân cho hoạt động nghiên cứu và triển khai; - Năng lực khởi sự kinh doanh và khả năng cấp tín dụng; - Độ mở cửa nền kinh tế như các chỉ tiêu về tỷ giá và xuất khẩu; vấn đề xúc tiến xuất khẩu; - Các vấn đề tài chính như tỷ lệ tích luỹ của nền kinh tế, thị trường tài chính, thị trường chứng khoán, vốn tài chính đối ngoại, độ vững mạnh của các ngân hàng; Năng lực cạnh tranh hiện tại thể hiện qua các khía cạnh: - Tính chất phức tạp của hoạt động công ty như định hướng khách hàng; cấp phép công nghệ; thẩm quyền quản lý cấp cao; - Chất lượng của môi trường kinh doanh như chính sách chống độc quyền; khuôn khổ pháp lý; Ngoài ra còn có các chỉ tiêu khác: - Hoạt động của Chính phủ như thu nhập từ thuế, tỷ lệ thuế thu nhập công ty, tỷ lệ thuế giá trị gia tăng; cơ cấu chi tiêu công; bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ; - Hạ tầng như việc sử dụng Internet; e-mail; hiệu quả hoạt động hàng không; các chỉ tiêu về giao thông vận tải đường bộ, đường sắt, đường hàng không; - Công nghệ như việc hợp tác nghiên cứu với các trường đại học; giáo dục cấp 3; máy tính cá nhân; việc nghiên cứu ở các công ty; - Lao động như vấn đề tiền lương; quan hệ chủ/thợ; hiệu ứng của mức tiền lương tối thiểu; - Định chế như khuôn khổ pháp lý; vấn đề tham nhũng trong hệ thống pháp luật; tính độc lập của tư pháp; chính sách của hệ thống cảnh sát; vv... Theo các tiêu thức này, thứ hạng của Việt Nam không cao so với các nước trên thế giới và khu vực. Hơn nữa, việc cải thiện khả năng cạnh tranh diễn ra không đều, nhất là khi tác động của cuộc khủng hoảng làm cho nhiệp độ tăng trưởng giảm sút đến mức thấp nhất vào năm 1999. Do thứ bậc về cạnh tranh của nước ta đã quá thấp nên việc tụt hạng đã diễn ra không nhiều, không mạnh như một số nước trong vùng bị khủng hoảng nghiêm trọng như Indonesia, nhưng với thứ hạng năm 2000 là 53, Việt Nam hiện nay chỉ còn đứng trên 6 nước trong tổng số 59 nước so sánh là Venezuela, Nga, Zimbabwe, Ucraina, Bulgari và Ecuador. Điều đáng quan tâm là sự tụt hạng của Việt Nam (53) so với Ân độ (49), Brazil (46) trong năm 2000 đòi hỏi những nỗ lực rất lớn của nước ta để vươn lên, bởi lẽ thứ hạng năm 2000 đã được sắp xếp theo triển vọng phát triển. Bảng 9 - Sức cạnh tranh toàn cầu Tên nước 1997 1998 1999 2000 Tăng/Giảm Việt Nam 49 39 48 53 -4 Trung Quốc 29 28 32 41 -12 ấn Độ 45 50 52 49 -4 Singapore 1 1 1 2 -1 Thái Lan 18 21 30 31 -13 Malaysia 9 17 16 25 -16 Indonesia 15 31 37 44 -29 Philippine 34 33 33 37 -3 Hongkong 2 2

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docR0012.doc
Tài liệu liên quan