Đề tài Giải pháp nhằm nâng cao năng lực và hiệu quả hoạt động của khoa học - công nghệ của nước ta hiện nay

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

NỘI DUNG 3

1. Cách mạng khoa học- công nghệ 3

2. Vai trò của khoa học- công nghệ 4

3. Thực trạng của khoa học công nghệ trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hoá ở Việt Nam. Những thành công và hạn chế của khoa học công nghệ trên một số lĩnh vực của nền sản xuất vật chất 6

3.1. Nhận định chung 6

3.2. Một số thành công của KH- CN trong CNH-HĐH đất nước 8

3.2.1. Nông nghiệp 8

3.2.2. Công nghiệp 9

3.2.3. Năng lượng 9

3.2.4. Giao thông vận tải 9

3.2.5. Viễn thông 10

3.3. Một số hạn chế của KH - CN trong CNH- HĐH đất nước 11

3.3.1. Đầu tư cho khoa học- công nghệ còn ở mức thấp 11

3.3.2. Lực lượng cán bộ nòng cốt thiếu và già yếu 11

3.3.3. Sự phân bố lực lượng lao động khoa học không hợp lý 12

4. Một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực và hiệu quả hoạt động của khoa học - công nghệ của nước ta hiện nay 13

KẾT LUẬN 15

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 17

 

 

doc19 trang | Chia sẻ: maiphuongdc | Ngày: 15/01/2014 | Lượt xem: 936 | Lượt tải: 5download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đề tài Giải pháp nhằm nâng cao năng lực và hiệu quả hoạt động của khoa học - công nghệ của nước ta hiện nay, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ật là then chốt đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Trong điều kiện cuộc cách mạng khoa học và công nghệ đang tác động một cách sâu rộng trên phạm vi toàn thế giới như hiện nay, xu hướng chuyển giao công nghệ giữa các quốc gia, các khu vực và lục địa trở thành đòi hỏi cấp bách thì chúng ta càng thấy được vị trí và vai trò quan trọng hơn bao giờ hết của khoa học kĩ thuật đối với từng ngành kinh tế nói riêng và tổng thể nền kinh tế quốc dân nói chung cũng như với quá trình công nghiệp hoá- hiện đại hoá đất nước. Qua quá trình học hỏi từ thầy cô, bạn bè và tham khảo từ các tư liệu, em đã phần nào thấy được vai trò của khoa học- kỹ thuật trong lực lượng sản xuất đối với sự nghiệp công nghiệp hoá- hiện đại hoá đất nước.Bởi vậy, trong tiểu luận này, em xin được trình bày những hiểu biết của mình về đề tài này. Do thời gian nghiên cứu và tập hợp kiến thức về đề tài này còn hạn chế nên bài tiểu luận của em chắc chắn sẽ không tránh khỏi những thiếu sót. Sự nhận xét, góp ý bổ sung kiến thức của các thầy cô và các bạn sẽ rất bổ ích đối với em. Em xin chân thành cảm ơn cô giáo đã hướng dẫn, giúp em hoàn thành tiểu luận này. NỘI DUNG 1. Cách mạng khoa học- công nghệ Bước vào thế kỉ XVII, XVIII cuộc cách mạng khoa học- công nghệ bắt đầu bùng nổ ở các nước Tây Âu, và sau đó nó đã nhanh chóng lan rộng trên phạm vi toàn cầu. Cùng với lịch sử phát triển lâu dài, các nội dung của cách mạng khoa học- công nghệ ngày càng phong phú và đa dạng, trong đó có thể chỉ ra những nội dung nổi bật sau: Một là, cách mạng về phương pháp sản xuất- đó là tự động hoá với nội dung mới nhất là việc sử dụng rộng rãi người máy để thay thế con người trong quá trình vận hành sản xuất. Hai là, cách mạng về năng lượng: bên cạnh những nguồn năng lượng truyền thống như thuỷ điện, nhiệt điện thì ngày nay có rất nhiều nguồn năng lượng mới được phát hiện và ứng dụng trong sản xuất như năng lượng nguyên tử, năng lượng mặt trời. Ba là, cách mạng về vật liệu mới: từ tình trạng thực tế là các vật liệu tự nhiên đang dần khan hiếm và cạn kiệt, con người đã sáng tạo ra rất nhiều vật liệu nhân tạo mới đặc biệt thay thế rất hiệu quả cho các vật liệu tự nhiên. Bốn là, cách mạng về công nghệ sinh học, đây là lĩnh vực mà thành tựu của nó có ý nghĩa ứng dụng rộng rãi trong các lĩnh vực công nghiệp, nông nghiệp, y tế, hoá chất, bảo vệ môi trường sinh thái. Năm là, cách mạng về điện tử và tin học, là lĩnh vực đang được thế giới đặc biệt quan tâm, trong đó phải kể đến lĩnh vực máy tính điện tử. Như vậy, khoa học- công nghệ ngày nay không chỉ đơn thuần là những phương tiện, thiết bị do con người sáng tạo ra mà còn là các bí quyết biến các nguồn lực sẵn có thành sản phẩm. Với ý nghĩa đó thì trong giai đoạn hiện nay khoa học và công nghệ gắn bó chặt chẽ với nhau: khoa học là tiền đề trực tiếp của công nghệ còn công nghệ là kết quả của khoa học. Cách mạng khoa học- công nghệ đã góp phần quan trọng trong việc giúp cho lực lượng sản xuất có bước phát triển mới, thúc đẩy quá trình cấu trúc lại nền kinh tế thế giới, làm thay đổi sâu sắc mọi mặt đời sống xã hội... Vì thế, trong thời đại ngày nay, công nghiệp hoá phải gắn liền với hiện đại hoá, nghĩa là tranh thủ ứng dụng những thành tựu của Cách mạng khoa học- công nghệ hiện đại ngay trong quá trình công nghiệp hoá. “... công nghiệp hoá là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động kinh tế, xã hội, từ sử dụng sức lao động thủ công là chính sang sử dụng phổ biến sức lao động cùng với công nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại, tạo ra năng suất lao động xã hội cao”- Văn kiện Hội nghị lần thứ VII Ban Chấp hành TW khoá VII. Tóm lại, công nghiệp hoá, hiện đại hoá có một phạm vi rộng lớn, bao trùm nhiều ngành, nhiều lĩnh vực, trong đó khoa học- công nghệ đóng một vai trò hết sức quan trọng, là vấn đề cơ bản nhất, cốt lõi nhất. 2. Vai trò của khoa học- công nghệ Trong thời đại cách mạng khoa học kĩ thuật và công nghệ, thông tin khoa học bùng nổ mạnh mẽ như ngày nay, khi mà nền khoa học thế giới đang có sự phát triển như vũ bão, khoa học đang trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp; khi mà công nghệ đang trở thành nhân tố quyết định chất lượng sản phẩm, chi phí sản xuất... tức là đến khả năng cạnh tranh của hàng hoá, hiệu quả của sản xuất kinh doanh thì khoa học- công nghệ đang đóng vai trò là “nền tảng và động lực của công nghiệp hóa- hiện đại hoá” như Nghị quyết TW2 của Ban chấp hành TW Đảng khoá VIII đã xác định..Trên cơ sở đó, khoa học - công nghệ cũng quyết định lợi thế cạnh tranh và tốc độ phát triển kinh tế nói chung, công nghiệp hóa- hiện đại hoá nói riêng của các quốc gia. Là một nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội trong điều kiện nền kinh tế kém phát triển nên tiềm lực khoa học -công nghệ của nước ta còn yếu.Muốn tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá thành công thì phải xây dựng một tiềm lực khoa học- công nghệ thích ứng với đòi hỏi của sự nghiệp công nghiệp hoá.Trình độ phát triển khoa học- công nghệ vừa là tiềm lực trí tuệ và sáng tạo của một dân tộc, vừa là sự tiếp thu, kế thừa tinh hoa trí tuệ của nhân loại. Với nước ta, Đảng Cộng sản Việt Nam đã cụ thể hoá chủ trương ứng dụng công nghệ, đó là kết hợp công nghệ truyền thống với công nghệ hiện đại, tranh thủ đi nhanh vào công nghệ hiện đại ở những khâu quyết định.Và ngay từ buổi đầu tiến hành đổi mới đất nước, Đảng đã xác định vai trò đặc biệt quan trọng của khoa học- công nghệ trong sự phát triển của lực lượng sản xuất, nâng cao trình độ quản lý của Nhà nước và năng lực lãnh đạo của Đảng, đảm bảo chất lượng cũng như tốc độ phát triển nền kinh tế.Công nghiệp hoá- hiện đại hoá đất nước vì mục tiêu lâu dài là dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh; và vì mục tiêu trước mắt theo như tinh thần của Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng là “Đưa nước ta thoát khỏi tình trạng kém phát triển, nâng cao rõ rệt đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại”.Muốn vậy thì khoa học công nghệ phải trở thành một trong những “ quốc sách hàng đầu”. Chỉ bằng con đường CNH- HĐH dựa trên việc phát triển khoa học và công nghệ mới có thể đưa nước ta từ nghèo nàn lạc hậu trở thành một nước giàu mạnh văn minh. Việc đưa khoa học và công nghệ trước hết là phổ cập những tri thức khoa học và công nghệ cần thiết vào sản xuất và đời sống xã hội là một nhu cầu cấp thiết của xã hội ta hiện nay.Nghị quyết TW2 cũng đã nhấn mạnh phải thật sự coi “ Sự phát triển khoa học và công nghệ là sự nghiệp cách mạng của toàn dân, phát huy cao độ khả năng sáng tạo của quần chúng. Bởi lẽ dù chúng ta có tiến hành cuộc cách mạng khoa học và công nghệ, có đưa trang thiết bị kỹ thuật tân tiến nhất, những quy trình công nghệ hiện đại nhất vào nước ta thì cũng không có gì để có thể đảm bảo đẩy mạnh được CNH- HĐH nếu không có được những con người am hiểu và sử dụng chúng.Do đó xã hội hoá tri thức khoa học và công nghệ là một trong những nhu cầu thiết thực và cấp bách nhất để đẩy mạnh sự nghiệp CNH – HĐH đất nước. Quá trình CNH – HĐH đất nước đi đôi với quá trình phát triển và nâng cao trình độ công nghệ. Điều đó được thực hiện trong quá trình điện khí hóa, cơ giới hoá, tự động hoá, tin học hoá, hoá học hoá và sinh học hoá.Trong các ngành, các lĩnh vực cụ thể của nền kinh tế quốc dân, các thành phần kinh tế, các vùng kinh tế của đất nước, việc đưa những công nghệ hiện đại vào ứng dụng sẽ mang lại hiệu quả kinh tế cao, tăng quy mô tích luỹ vốn.Từ đó tạo khả năng thu hút và thúc đẩy CNH-HĐH các ngành,các lĩnh vực và thành phần kinh tế. Bên cạnh đó, ngày nay, cuộc cách mạng khoa học- công nghệ hiện đại và xu hướng toàn cầu hoá đời sống kinh tế ngày càng sâu rộng, đã và đang tạo ra mối liên hệ và sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế dân tộc, đồng thời tạo ra khả năng và điều kiện để các nước tham gia vào phân công hợp tác quốc tế. Với vai trò to lớn đó, khoa học- công nghệ đã cho phép các nước chậm phát triển như Việt Nam có thể mở rộng quan hệ kinh tế với nước ngoài để tranh thủ mọi điều kiện thuận lợi như vốn, kĩ thuật, kinh nghiệm tổ chức quản lý...thông qua việc đa phương hoá các quan hệ và đa dạng hoá các hình thức hoạt động kinh tế đối ngoại trên nguyên tắc bình đẳng, hợp tác cùng có lợi. Điều đó thực sự có ý nghĩa quan trọng trong tiến trình thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước hiện nay. 3. Thực trạng của khoa học công nghệ trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hoá ở Việt Nam. Những thành công và hạn chế của khoa học công nghệ trên một số lĩnh vực của nền sản xuất vật chất 3.1. Nhận định chung Trong tiến trình của cách mạng Việt Nam, Đảng ta luôn luôn coi trọng KH-CN.Nghị quyết 37 của Bộ chính trị( khoá IV) là nghị quyết về chính sách KH- CN với chủ trương gắn chặt hơn nữa hoạt động khoa học với đời sống xã hội, hướng KH- CN phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội, khắc phục tình trạng phân tán, tự phát, thúc đẩy việc hình thành cơ chế quản lý mới, đã đánh dấu bước phát triển mới của KH- CN; nghị quyết 26 của Bộ chính trị( khoá IV) và nghị quyết 01 của Bộ chính trị( khoá VII) đã đề ra nhiệm vụ phải đưa KH- CN trở thành động lực mạnh mẽ thúc đẩy công cuộc đổi mới toàn diện đất nước; nghị quyết TW 7(khoá VII) về phát triển công nghiệp và công nghệ đến năm 2000 theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và xây dựng giai cấp công nhân trong giai đoạn mới cũng đã khẳng định: KH- CN là nền tảng của công nghiệp hoá,hiện đại hoá đất nước. Thời gian qua, KH- CN Việt Nam tuy còn có những hạn chế và thiếu sót nhất định song về cơ bản nó đã phát huy được vai trò to lớn và trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp trong tiền trình công nghiệp hoá,hiện đại hóa đất nước. Vừa qua, Chính phủ đã phê duyệt một loạt các đề án, ban hành các Nghị định liên quan đến KH- CN. Tất cả đều có nội dung hết sức quan trọng mang tính định hướng cho KH- CN Việt Nam trong thời gian tới, trong số đó nổi bật lên đề án về phát triển thị trường KH- CN Việt Nam.Theo đó,giữa các nhà khoa học và doanh nghiệp cần có một thị trường rõ ràng, cần những nhà môi giới về KH- CN để đưa bên cung và bên cầu ở lĩnh vực này xích lại gần,hiểu rõ vị trí,vai trò của nhau...Và như vậy, KH- CN Việt Nam chắc chắn sẽ nhanh chóng trở thành “hàng hoá” có thể đi vào sản xuất kinh doanh được. Cuộc gặp gỡ, làm việc giữa Thủ tướng Phan Văn Khải và các nhà khoa học Việt Nam diễn ra cuối tháng 9 năm 2005 vừa qua được nhiều người xem là “ Hội nghị Diên Hồng” của KH- CN Việt Nam. Trong đó, Bộ trưởng Bộ khoa học- công nghệ Hoàng Văn Phong đã nhấn mạnh nghị định 115 ban hành đầu tháng 9 năm 2005, quy định về cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các tổ chức KH- CN công lập: “ Với nghị định này, KH- CN Việt Nam đã được “cởi trói” về cơ chế và sớm phát huy hết được những tiềm lực vốn có. Tất cả điều đó đồng nghĩa với việc các nhà khoa học sẽ có nguồn thu nhập chính đáng, đúng với công sức mình bỏ ra. Họ làm ra công nghệ mới, thị trường( bao gồm cả Nhà nước và các doanh nghiệp có nhu cầu) sẽ bỏ tiền đầu tư cho họ nghiên cứu, triển khai hoặc mua lại đúng mức mà thị trường đã định giá...”. Bộ trưởng cũng khẳng định thêm “ Theo tôi, hiện nay chính sách cơ vản đã khá thông thoáng. Vấn đề là thực hiện, vận dụng những chính sách đó ra sao? Nếu tất cả cùng đồng lòng, tôi tin KH-CN Việt Nam sẽ có những bước chuyển biến mới, tích cực trong thời gian tới!”. Như vậy là trong thời gian qua, KH- CN Việt Nam tuy còn có những hạn chế và thiếu sót nhất định song về cơ bản nó đã phát huy được vai trò to lớn, đã, đang và sẽ trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp trong tiền trình công nghiệp hoá,hiện đại hóa đất nước, góp phần tích cực vào việc hoạch định đường lối, chính sách, điều tra nghiên cứu đánh giá tiềm năng tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ đa dạng sinh học, nghiên cứu ứng dụng công nghệ mới phục vụ phát triển kinh tế- xã hội và quốc phòng, an ninh cũng như rất nhiều các lĩnh vực khác trong đời sống xã hội. 3.2. Một số thành công của KH- CN trong CNH-HĐH đất nước 3.2.1. Nông nghiệp Nhờ áp dụng những tiến bộ khoa học- công nghệ, chúng ta đã đạt được rất nhiều kết quả đáng kể, trong đó nổi bật nhất là các công trình nghiên cứu và thực nghiệm về tuyển chọn, lai tạo các giống cây trồng, vật nuôi có năng suất cao và phù hợp với đặc điểm sinh thái từng vùng.Nhờ vậy đã nâng cao trình độ kỹ thuật- công nghệ trong sản xuất nông nghiệp của nước ta lên mức xấp xỉ các nước ở Đông Nam á( năm 2000).Theo đánh giá của các chuyên gia, KH- CN đã đóng góp từ 30% đến 40% vào tăng trưởng sản lượng lương thực.Hai mươi năm kể từ ngày đổi mới, năng suất lúa bình quân của chúng ta đã tăng gần 3 lần, trên 50 giống lúa mới được đưa vào sản xuất đại trà, trong đó có gần 20 giống kháng rầy, một số giống lúa cạn, lúa chịu hạn thích hợp với miền núi, trung du và những vùng thiếu nước khác.Tính đến năm 1998 tổng sản lượng lương thực đạt hơn 31 triệu tấn và Việt Nam từ chỗ thiếu lương thực đã vươn lên trở thành nước đứng thứ 3 trên thế giới về xuất khẩu gạo, sau Mỹ và Thái Lan. Về thuỷ hải sản, việc áp dụng kĩ thuật mới đã tạo công ăn việc làm cho 350000 ngư dân ven biển, góp phần cải thiện và tăng kim ngạch xuất khẩu của ngành thuỷ sản, năm 1993 đạt 368triệu USB thì đến năm 2000 đã đạt 1000 triệu USB, tăng hơn 10 lần năm 1980.Việc nuôi trồng thuỷ hải sản đã bước đầu có sự đầu tư khoa học thích đáng trong việc tận dụng mặt nước ao, hồ, nước biển, nước lợ, kết hợp sản xuất nông nghiệp với nuôi tôm cá, phát triển nuôi trồng với giữ gìn môi trường, môi sinh...Toàn ngành hiện có trên 60 cơ sở nuôi trồng hải sản đủ tiêu chuẩn sản xuất hàng xuất khẩu. 3.2.2. Công nghiệp Trong công nghiệp, hàng loạt các kỹ thuật tiên tiến được đưa vào sản xuất làm thay đổi dây chuyền sản xuất trở thành tự động hoá hoàn toàn. Do đó, các sản phẩm công nghiệp của chúng ta có chất lượng ngày càng được nâng cao: hàng may mặc, đồ điện, hàng tiêu dùng, máy tính điện tử... nhất là trong chế tạo máy, thiết bị phụ tùng và đổi mới công nghệ, kinh doanh sản xuất ô tô, xe máy, nhằm giải quyết nguyên vật liệu, thiết bị thay thế. Trong công nghiệp dầu khí và một số ngành công nghiệp khác, đội ngũ cán bộ khoa học trong nước đã đủ khả năng tiếp thu và làm chủ công nghệ mới. Công nghệ chế biến nông- lâm- thuỷ hải sản cũng đang có những bước chuyển biến đáng kể. 3.2.3. Năng lượng Xuất hiện nhiều công trình nghiên cứu khoa học công nghệ tập trng vào công tác quy hoạch, sử dụng hợp lý các nguồn năng lượng.Đổi mới công nghệ xây dựng các nhà máy thuỷ điện, nhiệt điện, nghiên cứu các phương pháp giảm tổn thất năng lượng trong truyền tải điện năng... Nhờ đó, hệ thống năng lượng đã phát triển nhanh chóng: 80% địa bàn xã ở khu vực nông thôn, hơn 50% hộ gia đình đã có điện sử dụng. 3.2.4. Giao thông vận tải Khoa học kỹ thuật đã góp phần quan trọng vào việc nâng cấp và phát triển mạng lưới giao thông đường bộ, đường sắt, đường thuỷ, .... Bằng việc áp dụng công nghệ mới, chúng ta đã xây dựng được một số công trình có ý nghĩa đặc biệt quan trọng như : đóng tàu biển trọng tải 3000tấn, công trình hạ tầng cất cánh sân bay Tân Sơn Nhất, thắng thầu nhiều công trình giao thông ở Lào, Campuchia...với việc áp dụng công nghệ mới trong gia cố nền móng và thi công mặt đường. 3.2.5. Viễn thông Viễn thông nước ta hiện được xếp vào một trong những nước có tốc độ phát triển nhanh trong khu vực.Với chiến lược đi thẳng vào kỹ thuật hiện đại- kỹ thuật số,vận dụng sáng tạo công nghệ thông tin liên lạc, đến nay chúng ta đã có mạng lưới thông tin liên lạc đáp ứng các loạidịch vụ với chất lượng cao.Bên cạnh đó, việc ứng dụng kỹ thật hệ phân cấp số (SDH) trong tuyến cáp quang Bắc- Nam đã tăng dung lượng truyền dẫn trên mỗi đôi sợi cáp quang lên 30000 kênh thoại tiêu chuẩn và khẳng định tính ưu việt cáp quang cả về mặt kỹ thuật và kinh tế.Ngoài ra, hệ thống di động toàn cầu phát triển cũng cho phép chúng ta tổ chức được mạng thông tin di động trong nước và quốc tế. Chỉ số máy điện thoại trên 100 dân đã tăng lên đáng kể từ 0,2 năm 1991 đến 1,0 năm 1995. Và tính đến những tháng đầu năm 2006, nước ta đã hoàn thành chỉ tiêu phát triển điện thoại nông thôn tới 100% số xã. Thị trường tin học trong nước những năm qua có tốc độ tăng trưởng hàng năm nhanh, trung bình khoảng 40 – 50%. Số máy tính cá nhân tăng từ vài trăm máy năm 1991 lên tới 100000 máy năm 1996. Chúng ta cũng đã sử dụng thành công một số mạng tin học trong nước phục vụ chuyển thư tín điện tử, thông tin khoa học, công nghệ, thương mại... Hiện các cơ quan của Đảng và Chính phủ đang bắt đầu chuyển từ giai đoạn sử dụng riêng lẻ sang hình thức sử dụng mạng cục bộ và mạng diện rộng. *) Một đặc điểm đáng chú ý về nguồn lực con người ở nước ta là đã có đội ngũ cán bộ khoa học công nghệ hơn 800.000 người có trình độ đại học, 8.775 phó tiến sĩ- tiến sĩ, gần 3000 giáo sư- phó giáo sư, hơn 45000 cán bộ nghiên cứu triển khai thuộc hơn 300 viện nghiên cứu- trung tâm và hơn 20.000 nhà khoa học vừa nghiên cứu, vừa giảng dạy trong trên 105 trường đại học, cao đẳng, hơn 80 cơ sở đào tạo sau đại học. Đây thực sự là vốn quý cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nước. 3.3. Một số hạn chế của KH- CN trong CNH- HĐH đất nước 3.3.1. Đầu tư cho khoa học- công nghệ còn ở mức thấp Cho đến nay, so với các nước tiên tiến nhất trên thế giới thì trình độ kỹ thuật- công nghệ của Việt Nam lạc hậu từ 50 đến 100 năm còn so với các nước tiên tiến ở mức trung bình thì chúng ta lạc hậu từ 1 đến 2 thế hệ . Tuy nhiên,theo số liệu thống kê từ năm 1965 đến nay, mức đầu tư tài chính từ ngân sách nhà nước thực tế dành cho hoạt động nghiên cứu và triển khai khoa học công nghệ vẫn chỉ ở mức thấp,chiếm từ 0,2% đến 0,82% thu nhập quốc dân trong khi đó quy định trong các văn bản và chỉ thị của Đảng và Chính phủ là dành 2% ngân sách hàng năm cho hoạt động khoa học. Chi phí bình quân hàng năm cho một cán bộ khoa học công nghệ từ ngân sách nhà nước khoảng 1000 USB, rất thấp so với mức bình quân của thế giới hiện là 55.324 USB. Với mức độ đầu tư như vậy nên chỗ làm việc chật chội, thiết bị lạc hậu, thiếu phòng thí nghiệm và dụng cụ thí nghiệm....Các cơ quan khoa học và công nghệ chỉ có thể hoạt động cầm chừng, chỉ giải quyết được các vấn đề trước mắt mà không thể tạo ra được thành quả khoa học có tầm chiến lược. Ngày 17/10/2005,trả lời câu hỏi của báo điện tử Dân trí.com.vn, Bộ trưởng Bộ KH- CN Việt Nam Hoàng Văn Phong cũng đã đưa ra nhận định “ Cơ chế hiện nay còn nhiều bó buộc, bất cập và không huy động được các nhà khoa học làm việc hết mình”. Thực vậy, hiện nay chúng ta mới chỉ phát huy được khoảng 20% đến 25% khả năng của đội ngũ cán bộ KH- CN Việt Nam.Đó là một hạn chế rất lớn mà nếu không có biện pháp khắc phục kịp thời và triệt để thì sẽ gây ra rất nhiều trở ngại cho sự phát triển KH- CN của nước ta,và từ đó chắc chắn sẽ ảnh hưởng rất lớn đến tiến trình công nghiệp hoá,hiện đại hoá đất nước. 3.3.2. Lực lượng cán bộ nòng cốt thiếu và già yếu Kết quả điều tra 233 cơ quan khoa học công nghệ chủ yếu thuộc trung ương cho thấy: trong số 22.313 cán bộ công nhân viên thì số người có trình độ trên đại học là 2.509 người, cao đẳng và đại học 11.447 người và dưới cao đẳng là 8.357. Trong số các cán bộ có trình độ tiến sĩ chỉ có 15,1% là nữ, cũng trong số các cán bộ có trình độ học vấn cao này thì chỉ có 19,9% giữ các chức vụ lãnh đạo. Tuổi thọ trung bình của cán bộ khoa học có học hàm học vị khá cao. Bình quân chung là 57,2 tuổi; trong đó giáo sư là 59,5 tuổi; phó giáo sư là 56,4 tuổi. Số cán bộ học vị, học hàm cao ở tuổi 50 chỉ chiếm 12%, trong khi tuổi từ 56 trở lên là 65,7%.Khi một bộ phận lớn các cán bộ khoa học chủ chốt đang về già và sẽ không có khả năng làm việc thì đội ngũ cán bộ trẻ thay thế lại chưa được chuẩn bị bồi dưỡng đào tạo.Nguy cơ hẫng hụt đội ngũ cán bộ khoa học công nghệ đầu ngành sẽ diễn ra trong tương lai rất gần nếu chúng ta không có những thay đổi kịp thời. 3.3.3. Sự phân bố lực lượng lao động khoa học không hợp lý Có thể nói sự phân bố lực lượng lao động mất cân đối giữa các ngành, các khu vực, giữa các thành phần kinh tế đã gây hậu quả xấu cho quá trình phát triển nền kinh tế – xã hội đất nước, và càng làm sâu sắc thêm sự chênh lệch và phát triển giữa các vùng, các ngành. 3.3.4. Trong hoạt động KH- CN Việt Nam hiện nay còn khá nhiều “vấn nạn” như chạy đề tài, dự án và dùng kinh phí nghiên cứu khoa học để bổ sung thu nhập khiến chất lượng nghiên cứu thấp hoặc mang tính triển khai chậm chạp. Thậm chí xảy ra thực trạng là có đề tài không thể nghiệm thu được hoặc có nghiệm thu thì cũng chỉ mang hình thức mà hoàn toàn không có chất lượng. Bên cạnh đó, chúng ta cũng phải đánh giá một cách khách quan rằng cho tới thời điểm hiện tại thì khoa học- công nghệ Việt Nam vẫn chưa thực sự đi sâu vào đời sống xã hội, phục vụ đắc lực cho các lĩnh vực của sản xuất vật chất; “Khoa học- công nghệ chưa đáp ứng kịp yêu cầu của công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước”(Dự thảo báo cáo chính trị tại Đại hội X của Đảng). Như vậy, bên cạnh những thành tựu ban đầu mà chúng ta đã đạt được trên bước đường thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước nhờ việc áp dụng tiến bộ khoa hoc- công nghệ thì cũng tồn tại không ít những khó khăn, bất cập giữa khoa học- công nghệ và hoạt động kinh tế đòi hỏi phải khắc phục. 4. Một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực và hiệu quả hoạt động của khoa học- công nghệ của nước ta hiện nay Vừa qua, tại Hội nghị lần thứ 13, Ban Chấp hành TW Đảng khoá IX đã quyết định thông qua toàn văn dự thảo Báo cáo chính trị của Ban chấp hành TW Đảng khoá IX trình Đại hội X của Đảng. Một trong những nội dung quan trọng được đề cập đến trong dự thảo là chiến lược phát triển kinh tế xã hội đất nước 10 năm, từ 2001 đến 2010 mà trong đó Đảng ta khẳng định phải “ Nâng cao năng lực và hiệu quả hoạt động của khoa học và công nghệ.Phấn đấu đến năm 2010, năng lực khoa học và công nghệ nước ta đạt trình độ của các nước tiên tiến trong khu vực trên một số lĩnh vực quan trọng.” Để làm được điều đó, chúng ta cần thực hiện được một số giải pháp cũng như phương hướng cơ bản sau đây: - Phát triển khoa học tự nhiên theo hướng tập trung nghiên cứu cơ bản định hướng ứng dụng, đặc biệt trên các lĩnh vực Việt Nam có nhu cầu và thế mạnh. Phát triển công nghệ, đẩy mạnh có chọn lọc việc nhập công nghệ, mua sáng chế kết hợp công nghệ nội sinh để nhanh chóng đổi mới và nâng cao trình độ công nghệ của các ngành có lợi thế cạnh tranh, có tỉ trọng lớn trong GDP, các ngành công nghiệp phụ trợ và tạo nhiều việc làm cho xã hội; phát triển công nghệ cao, nhất là công nghệ thông tin và công nghệ sinh học. Phát triển hệ thống thông tin quốc gia về nhân lực và công nghệ. - Phát triển khoa học xã hội hướng vào việc tiếp tục góp phần làm sáng tỏ những nhận thức về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta; giải đáp những vấn đề mới của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; con đường, bước đi của quá trình công nghiệp hóa,hiện đại hoá; những nguyên tắc,nội dung cơ bản của vấn đề phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, đổi mới hệ thống chính trị, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân. Thường xuyên tổng kết thực tiễn để phát triển lý luận; dự báo tình hình và xu thế phát triển của thế giới, khu vực và trong nước; cung cấp luận cứ khoa học cho việc hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước. - Đổi mới cơ chế quản lý khoa học và công nghệ theo hướng Nhà nước đầu tư vào các công trình nghiên cứu quốc gia đạt trình độ khu vực và thế giới, xây dựng tiềm lực khoa học- công nghệ của một số lĩnh vực trọng điểm. Đa dạng hoá các nguồn lực đầu tư cho khoa học và công nghệ và huy động các thành phần kinh tế tham gia các hoạt động khoa học- công nghệ. Nâng cao chất lượng và khả năng thương mại của các sản phẩm khoa học và công nghệ; đẩy mạnh việc đổi mới công nghệ trong các doanh nghiệp. - Trọng dụng nhân tài, các nhà khoa học đầu ngành, tổng công trình sư, kỹ sư trưởng, kỹ thuật viên lành nghề và công nhân kỹ thuật có tay nghề cao. Có chính sách thu hút các nhà khoa học, công nghệ giỏi ở trong nước và trong cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài. - Phát triển thị trường công nghệ trên cơ sở đổi mới cơ chế, chính sách để phần lớn sản phẩm khoa học công nghệ (trừ nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu phục vụ xây dựng đường lối, chiến lược, chính sách phát triển) trở thành hàng hoá. Thông tin rộng rãi,tạo môi trường cạnh tranh để các sản phẩm khoa học- công nghệ được mua bán thuận lợi trên thị trường. - Nhà nước khuyến khích thông qua các chính sách hỗ trợ phát triển, công nhận, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với các công trình khoa học và hoạt động sáng tạo, hoàn thiện và ứng dụng công nghệ mới. Có chính sách hấp dẫn các công ty xuyên quốc gia đầu tư và chuyển giao công nghệ mới cho các doanh nghiệp Việt Nam, nhưng đồng thời các doanh nghiệp của chúng ta cũng cần phải nhận thức rõ được vai trò của khoa học- công nghệ trong sản xuất kinh doanh, đặc biệt là trong thời điểm hết sức nhạy cảm như hiện nay khi việc Việt Nam gia nhập WTO đang đến gần. - Cần có những biện pháp cụ thể để từng bước tháo gỡ và giải quyết “vấn nạn đầu cơ” KH- CN, ví dụ như đưa ra các chính sách về lương bổng, đãi ngộ các nhà khoa học và đổi mới cơ c

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docKTCT (4).doc
Tài liệu liên quan