Đề tài Giải pháp thúc đẩy các hoạt động của Ngân hàng thương mại trên thị trường chứng khoán Việt Nam

CHƯƠNG I 3

HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 3

TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN 3

1.1. TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN 3

1.1.1. KHÁI NIỆM THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN 3

1.1.2. CẤU TRÚC CỦA THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN 4

1.1.2.1. PHÂN LOẠI THEO HÀNG HÓA 4

1.1.2.2. PHÂN LOẠI THEO QUÁ TRÌNH LUÂN CHUYỂN VỐN 5

1.1.2.3. PHÂN LOẠI THEO HÌNH THỨC TỔ CHỨC CỦA THỊ TRƯỜNG 5

1.1.3. VAI TRÒ CỦA THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN 6

1.1.4. CÁC CHỦ THỂ THAM GIA TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN 8

1.1.4.1. CHÍNH PHỦ 8

1.1.4.2. CÁC DOANH NGHIỆP 9

1.1.4.3. CÁ NHÂN VÀ HỘ GIA ĐÌNH 10

1.1.4.4. TRUNG GIAN TÀI CHÍNH 10

1.1.4.5. CÁC TỔ CHỨC KHÁC LIÊN QUAN ĐẾN THỊ TRƯỜNG 11

1.2. HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN 12

1.2.1. NHTM VÀ CÁC MÔ HÌNH HOẠT ĐỘNG CỦA NHTM TRÊN TTCK 12

1.2.1.1. TỔNG QUAN VỀ NHTM 12

1.2.1.2. CÁC MÔ HÌNH HOẠT ĐỘNG CỦA NHTM TRÊN TTCK 14

1.2.2. CÁC HOẠT ĐỘNG CỦA NHTM TRÊN TTCK 16

1.2.2.1. HOẠT ĐỘNG PHÁT HÀNH CHỨNG KHOÁN 16

1.2.2.2. HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN 17

1.2.2.4. HOẠT ĐỘNG TƯ VẤN CHỨNG KHOÁN 21

1.2.2.5. HOẠT ĐỘNG MÔI GIỚI CHỨNG KHOÁN 22

1.2.2.6. HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ DANH MỤC ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN 23

1.2.2.7. CÁC HOẠT ĐỘNG KHÁC 24

1.3. CÁC ĐIỀU KIỆN CẦN THIẾT ĐỂ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI HOẠT ĐỘNG TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN 25

1.3.1. CÁC ĐIỀU KIỆN PHÁP LÝ 25

1.3.2. UY TÍN, TIỀM LỰC TÀI CHÍNH, QUY MÔ VÀ CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG 26

1.3.3. CÔNG NGHỆ NGÂN HÀNG 27

1.3.4. TRÌNH ĐỘ NHÂN SỰ 28

CHƯƠNG 2 29

THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 29

TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM 29

2.1. SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA TTCK VIỆT NAM 29

2.2. HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC NHTM TRÊN TTCK VIỆT NAM 32

2.2.1. KHÁI QUÁT VỀ CÁC NHTM VIỆT NAM 32

2.2.2. HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC NHTM TRÊN TTCK VIỆT NAM 33

2.2.2.1. HOẠT ĐỘNG PHÁT HÀNH CHỨNG KHOÁN 33

2.2.2.2. HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN 35

2.2.2.3. HOẠT ĐỘNG BẢO LÃNH PHÁT HÀNH CHỨNG KHOÁN 38

2.2.2.4. HOẠT ĐỘNG TƯ VẤN CHỨNG KHOÁN 40

2.2.2.5. HOẠT ĐỘNG MÔI GIỚI CHỨNG KHOÁN 41

2.2.2.6. HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ DANH MỤC ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN 43

2.2.2.7. CÁC HOẠT ĐỘNG KHÁC 44

2.3. ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC NHTM TRÊN TTCK VIỆT NAM 46

2.3.1. KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC 46

2.3.2. HẠN CHẾ - NGUYÊN NHÂN 48

2.3.2.1. HẠN CHẾ 48

2.3.2.2. NGUYÊN NHÂN 48

CHƯƠNG III 60

GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM 60

3.1. ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN TTCK VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2010 60

3.2. GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY CÁC HOẠT ĐỘNG CỦA NHTM TRÊN TTCK VIỆT NAM 62

3.2.1. GIẢI PHÁP VĨ MÔ 62

3.2.1.1. HOÀN THIỆN CƠ SỞ PHÁP LÝ CHO HOẠT ĐỘNG CỦA NHTM TRÊN TTCK 62

3.2.1.2. PHÁT TRIỂN TTCK 64

3.2.2. CÁC GIẢI PHÁP VI MÔ 70

3.2.2.1. TĂNG CƯỜNG TIỀM LỰC TÀI CHÍNH CHO CÁC NHTM 70

3.2.2.2. NÂNG CAO TRÌNH ĐỘ NHÂN SỰ 72

 

doc83 trang | Chia sẻ: huong.duong | Ngày: 29/08/2015 | Lượt xem: 656 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đề tài Giải pháp thúc đẩy các hoạt động của Ngân hàng thương mại trên thị trường chứng khoán Việt Nam, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
i các hình thức trái phiếu vô danh, ghi danh và trái phiếu ghi sổ. Tuy nhiên, hiện mới chỉ có NHĐT&PTVN là đã phát hành trái phiếu dài hạn ra công chúng và đăng ký lại trái phiếu để niêm yết trên TTGDCK với tổng giá trị đăng ký là 1069 tỷ đồng. Thực tế mới niêm yết 157.7 tỷ Việt Nam đồng trái phiếu vô danh. Trái phiếu của NHĐT&PTVN có lãi suất thả nổi tương đối hấp dẫn và được người đầu tư cá thể nắm giữ rộng rãi nên giao dịch thường xuyên hơn trái phiếu Chính phủ. Song số lượng giao dịch cũng rất hạn chế. Để tăng tính hấp dẫn cho các trái phiếu, ngân hàng đã cung cấp các tiện ích cho khách hàng như cho phép sử dụng trái phiếu để cầm cố để vay vốn tại NHĐT&PTVN với lãi suất thấp hơn lãi suất cho vay cùng loại tối đa đến 0.5% và khách hàng được vay tới 90% giá trị trái phiếu cầm cố. Khách hàng cũng có thể sử dụng trái phiếu này để làm đảm bảo mở tài khoản sử dụng thẻ tín dụng, thẻ rút tiền tự động qua máy ATM, được sử dụng thay cho tiền ký quỹ trong thanh toán quốc tế... NHNTVN cũng đã thực hiện đợt phát hành trái phiếu ngoại tệ đầu tiên từ 24/9/2001 đến ngày 23/11/2001. Đây là trái phiếu có lãi suất thả nổi với thời hạn 5 năm và được phát hành theo cả 3 phương thức là trái phiếu đích danh, trái phiếu vô danh và trái phiếu ghi sổ. Từ ngày 15/9/2003, NHNN&PTNTVN phát hành 3000 tỷ đồng Trái phiếu, với kỳ hạn 2-5 năm. NHCT, NHĐT&PTVN ..đang tiếp tục thực hiện phát hành trái phiếu của mình để tăng quy mô vốn nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh trong quá trình hội nhập. Theo luật định, các NHTM cổ phần có thể phát hành cổ phiếu lần đầu để thành lập và phát hành các lần tiếp theo để tăng vốn theo yêu cầu của NHNN hoặc do nhu cầu phát triển hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Tuy nhiên, vốn góp của các NHTM cổ phần chủ yếu là hùn vốn của các NHTM Nhà nước, của các tổng công ty Nhà nước và một số cổ đông lớn. Tất cả các NHTM cổ phần mới chỉ thực hiện phương thức phát hành riêng lẻ. Chưa có một loại cổ phiếu nào của các NHTM được niêm yết trên thị trường tập trung và cũng chưa có ngân hàng nào tổ chức phát hành cổ phiếu ra công chúng. Như vậy có thể thấy, hoạt động phát hành chứng khoán của các NHTM còn chưa nhiều. Điều này là do những nguyên nhân xuất phát từ chính các NHTM cũng như từ phía các cơ quan quản lý, sự phát triển của thị trường tài chính Việt Nam. Thứ nhất là sự yếu kém của các NHTM. Các NHTM có quy mô vốn nhỏ, chất lượng kinh doanh còn thấp khi phát hành chứng khoán, tính thanh khoản trên thị trường rất thấp. Hơn nữa, do sợ bị chia sẻ hoặc bị quyền kiểm soát, các ngân hàng không muốn phát hành cổ phiếu ra công chúng để huy động vốn. Thứ hai là do thủ tục quá chặt chẽ khi NHTM phát hành chứng khoán để niêm yết trên TTCK. Các NHTM muốn phát hành chứng khoán trên TTCK phải chịu được sự đồng ý của cả NHNN và UBCKNN, mà trên thực tế quan điểm của hai cơ quan này vẫn còn nhiều sự khác nhau. Vì vậy, các NHTM vẫn tập trung huy động vốn ngắn hạn qua phát hành kỳ phiếu và các loại chứng chỉ tiền gửi. Thứ ba, do thị trường tài chính chưa phát triển làm cho các tổ chức phát hành không xác định được yếu tố chi phí vốn và khả năng phát hành thành công sẽ không cao. Các nhân tố này ảnh hưởng không nhỏ, hạn chế khả năng phát hành trái phiếu của các NHTM. Nâng cao năng lực tài chính, mà chủ yếu tăng vốn chủ sở hữu, đó là nội dung cơ bản để cơ cấu lại hệ thống NHTM Việt Nam trước xu thế hội nhập. Theo dự kiến của NHNN Việt Nam, cả 5 NHTM quốc doanh sẽ được cổ phần hóa và niêm yết trên TTCK. Trước mắt, trong năm tới, sẽ tiến hành cổ phần hóa đối với NHNTVN và Ngân hàng phát triển nhà Đồng bằng sông Cửu long. Tuy nhiên, những quy định cụ thể vẫn còn phải chờ như Nhà nước nắm giữ bao nhiêu cổ phần sau khi cổ phần hóa, cổ phiếu bán cho đối tượng nào, thậm chí đã có những vấn đề rất mới như phát hành trái phiếu chuyển đổi thành một số cổ phiếu sau một thời gian nắm giữ. Cũng trong thời gian sắp tới, hai NHTMCP là ACB và Sacombank sẽ là những ngân hàng đầu tiên tiến hành niêm yết cổ phiếu trên TTCK. Điều này sẽ là những tiền đề góp phần cho sự phát triển của các NHTM nói riêng và TTCK nói chung. 2.2.2.2. Hoạt động đầu tư chứng khoán Hoạt động đầu tư chứng khoán được xem là hoạt động quan trọng của các NHTM. Với tư cách là nhà đầu tư có tổ chức, hoạt động đầu tư chứng khoán của NHTM cũng là yếu tố trợ giúp cho việc tăng chất lượng và hiệu quả thị trường. Các NHTM thực hiện hoạt động đầu tư chứng khoán trực tiếp hoặc thông qua hoạt động tự doanh của các CTCK thuộc ngân hàng. Cho tới nay, chưa có một NHTM nào có chiến lược cụ thể đối với hoạt động đầu tư chứng khoán. Điều này được thể hiện qua danh mục đầu tư. Các NHTM là thành viên quan trọng của thị trường đấu thầu tín phiếu kho bạc. Thị trường đấu thầu Tín phiếu Kho bạc qua NHNN được đưa vào hoạt động từ năm 1994. Đây là một kênh huy động vốn rất quan trọng để đáp ứng kịp thời vốn cho Ngân sách Nhà nước nói riêng và cho nền kinh tế nói chung. Theo đó, tạo tiền đề cho phát triển TTCK. Đến nay, thị trường đấu thầu Tín phiếu Kho bạc có 44 thành viên trong đó có 6 NHTM Nhà nước; 16 NHTM cổ phần. Trong năm 2002, NHNN đã tổ chức được 58 phiên đấu thầu Tín phiếu Kho bạc, tổng khối lượng trúng thầu Tín phiếu kho bạc đạt 7245 tỷ đồng trong đó thành viên tham gia chủ yếu vẫn là các NHTMNN, chiếm đến 97,2% tổng lượng trúng thầu. Đối với các NHTM việc đầu tư vào Tín phiếu Kho bạc không chỉ là một hình thức đầu tư đơn thuần mà còn là một hình thức dự phòng đảm bảo khả năng thanh khoản. Các NHTM tham gia đại lý phát hành Trái phiếu Chính phủ và là thành viên của thị trường đấu thầu Trái phiếu Chính phủ. Trung tâm giao dịch chứng khoán là đầu mối phát hành Trái phiếu Chính phủ thông qua hoạt động đấu thầu. Tính đến cuối năm 2003, Trung tâm đã tổ chức được 75 phiên với tổng khối lượng phát hành được là 3588 tỷ đồng. Tuy nhiên thành viên tham gia chủ yếu là các NHTMNN, các CTCK, NHTMCP. Các NHTM còn đầu tư vào trái phiếu công trình, trái phiếu đô thị tuy nhiên hầu như mới chỉ có một số NHTMNN là thực hiện còn các NHTM khác vẫn đứng ngoài cuộc. Đợt phát hành trái phiếu đô thị của TPHCM bắt đầu thực hiện từ đầu tháng 9/2003 với tổng mệnh giá là 1200 tỷ đồng, kỳ hạn 5 năm, lãi suất 9%/ năm. Trong số đó, NHNTVN và NHĐT&PTVN đã đăng ký mua 950 tỷ đồng, số còn lại 250 tỷ đồng do CTCK VCBS bảo lãnh phát hành cũng đã được khách hàng đăng ký mua hết. Thực hiện Luật các tổ chức tín dụng và chủ trương của Chính phủ, các NHTMNN đã tham gia đầu tư vào cổ phiếu các doanh nghiệp, trong đó, khoảng 70% là đầu tư vào cổ phiếu của các tổ chức tín dụng. Tuy nhiên danh mục đầu tư của các NHTM chưa đa dạng và quy mô đầu tư chưa tương xứng với tiềm năng. Một phần là do các NHTM còn tập trung ở các thị trường truyền thống, chưa chủ động tìm kiếm và đầu tư sang các lĩnh vực khác, mặt khác, tính tự chủ của các NHTM còn chưa cao do sự quản lý chặt chẽ của các cơ quan quản lý Nhà nước. Ngoài hoạt động đầu tư chứng khoán trực tiếp, các NHTM có thể thực hiện hoạt động này thông qua nghiệp vụ tự doanh của các CTCK thuộc ngân hàng. Theo nghị định 144/NĐ-CP, số vốn pháp định tối thiểu để các CTCK có thể hoạt động tự doanh là 12 tỷ đồng, đây là nguồn tài chính cơ bản đảm bảo hoạt động tự doanh của công ty. Hiện nay, cả 6 công ty chứng khoán của các NHTM đều được cấp phép thực hiện nghiệp vụ này. Các CTCK mua chứng khoán niêm yết và chứng khoán không niêm yết. Tuy nhiên do hạn chế về vốn, lượng chứng khoán còn hạn chế nên lượng chứng khoán do các CTCK nắm giữ không nhiều. Các CTCK chia hoạt động tự doanh làm hai mảng: tự doanh trái phiếu và tự doanh cổ phiếu. Hoạt động tự doanh phổ biến của các CTCK hiện nay là mua chứng khoán niêm yết lô lẻ dựa trên cơ sở thỏa thuận về giá cả, sau đó tập hợp lại thành lô chẵn để bán lại trên thị trường. Đây là hoạt động mang lại lợi nhuận cao cho các CTCK thuộc ngân hàng. Vào quý I/2001, tổng giá trị tự doanh CTCK ACBS đạt doanh thu trên 5 tỷ. Đến quý II/2001, tổng giá trị tự doanh của các CTCK giảm mạnh còn 50% so với quý I, chỉ có VCBS là tăng nhẹ. Sang đến quý III, quý IV chỉ tiêu này có tăng, tuy nhiên tổng giá trị tự doanh của các CTCK năm 2001 là trên 80 tỷ đồng so với lượng phí thu được từ hoạt động môi giới là trên 90 nghìn tỷ thì con số này chưa thực sự thuyết phục trong khi các CTCK đăng ký nghiệp vụ này đều có tiềm lực vốn khá lớn ( ít nhất là 20 tỷ đồng). Trong quý II/2002, nghiệp vụ tự doanh tiếp tục tăng ở các công ty như ARSC, ACBS với tổng giá trị tự doanh của các công ty tăng gấp 2 lần so với quý trước. Đến quý III và quý IV, tuy giá trị tự doanh ở các công ty đều giảm, thậm chí ở ARSC qua cả hai quý đều không có một hoạt động giao dịch tự doanh nào nhưng tổng giá trị giao dịch toàn thị trường vẫn tăng gấp 3 lần so với quý II là do nghiệp vụ này được VCBS khai thác mạnh với giá trị 91 tỷ trong quý III và đặc biệt tháng 11 thì tới 90% giá trị toàn thị trường là hoạt động tự doanh trái phiếu của công ty này. Trong năm 2003, một số thành viên VCBS, BSC, ARSC, IBS đã khai thác tối đa vốn điều lệ của mình cộng với sự hỗ trợ của ngân hàng mẹ, thực hiện hoạt động tự doanh mua lại trái phiếu chính phủ, trái phiếu ngân hàng và đã thực hiện bán lại trên thị trường thứ cấp. Trong khi đó, hoạt động tự doanh cổ phiếu chưa thực sự tương xứng với quy mô và tầm hoạt động của các CTCK của NHTM. Nhìn chung, do đánh giá, nhận định và chiến lược kinh doanh của từng công ty là khác nhau nên mức độ và chủng loại chứng khoán được đầu tư giữa các công ty cũng khác nhau. Hoạt động tự doanh của các công ty chủ yếu tập trung vào mua bán lô lẻ, mua bán chứng khoán niêm yết. BSC, IBS đã tập trung phần lớn trong tổng giá trị vốn tự doanh cuả mình vào trái phiếu NHĐT&PTVN và Trái phiếu Chính phủ. Còn ACBS đầu tư vào cổ phiếu chưa niêm yết nhưng chủ yếu là đầu tư chứng khoán dài hạn, trong khi VCBS đầu tư chủ yếu vào Trái phiếu Chính phủ. Việc các CTCK thuộc NHTM tích cực tham gia vào thị trường bằng nghiệp vụ tự doanh đã góp phần tăng sức cầu đáng kể cho thị trường nhất là trong giai đoạn thị trường giảm sức cầu. Tuy nhiên, hoạt động tự doanh của các CTCK tập trung chủ yếu vào đầu tư trái phiếu đã được niêm yết. Đây là loại chứng khoán có độ an toàn cao. Trên thực tế, chỉ một số ít công ty tiến hành đầu tư vào một vài loại cổ phiếu mang tính thí điểm, thực hiện mua cổ phiếu lô lẻ và bán lại cho thị trường. Do vậy, tổng thu từ nghiệp vụ này còn chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng thu của các CTCK. 2.2.2.3. Hoạt động bảo lãnh phát hành chứng khoán Khi các doanh nghiệp có nhu cầu vốn, họ có thể tìm cách phát hành chứng khoán. Doanh nghiệp có thể tự đảm nhiệm việc phân phối chứng khoán. Tuy nhiên, trong trường hợp này, doanh nghiệp sẽ phải đối mặt với nhiều vấn đề, mà một trong các rủi ro là doanh nghiệp không huy động đủ vốn, đáp ứng yêu cầu kinh doanh. Theo quy định của pháp luật, doanh nghiệp phải thực hiện phát hành qua hình thức bảo lãnh hoặc đại lý. Bảo lãnh phát hành là điều bắt buộc đối với một đợt phát hành ra công chúng nếu tổng giá trị cổ phiếu phát hành theo mệnh giá lớn hơn 10 tỷ đồng. Theo nghị định 144/2003/NĐ-CP, để thực hiện nghiệp vụ bảo lãnh chứng khoán thì tổ chức bảo lãnh phải đáp ứng các điều kiện: Có giấy phép hoạt động bảo lãnh. Tổ chức bảo lãnh không có liên quan tới tổ chức phát hành. Tổ chức bảo lãnh phát hành không được bảo lãnh phát hành một số lượng chứng khoán có giá trị lớn hơn 30% vốn tự có. Vốn pháp định cho hoạt động này là 22 tỷ đồng. Nhu cầu vốn của Chính Phủ, các doanh nghiệp, các Quỹ hỗ trợ phát triển và các trung gian tài chính Việt Nam rất lớn, mở ra một tiềm năng lớn cho các NHTM thực hiện nghiệp vụ đại lý, bảo lãnh phát hành. Tuy nhiên, cho đến thời điểm hiện nay, việc các NHTM đứng ra bảo lãnh chứng khoán chưa được phát triển. Thực tế này một mặt do nhu cầu bảo lãnh phát hành của các công ty niêm yết trên TTGDCK chưa có. Mặt khác, có thể thấy ngay chính các CTCK, NHTM cũng còn dè dặt trước lĩnh vực này. Trong năm 2001, chỉ có IBS là có doanh thu từ hoạt động đại lý, bảo lãnh phát hành. Ngân hàng Công thương đã bước đầu thành công trong nghiệp vụ đại lý phát hành chứng khoán thông qua 2 đợt phát hành trái phiếu của công ty tài chính Việt Nam (VIFC) với tổng giá trị đạt 20 tỷ đồng. Tháng 10 năm 2001, IBS đại lý phát hành cổ phiếu cho NHTM cổ phần Kỹ thương với tổng mệnh giá lên tới 60 tỷ đồng, trong đó có 30 tỷ đồng cổ phiếu được phát hành ra công chúng. Năm 2002, chưa có CTCK nào thuộc ngân hàng thực hiện bảo lãnh phát hành cổ phiếu. Công ty VCBS thực hiện bảo lãnh 6 đợt phát hành Trái phiếu Chính Phủ qua Quỹ hỗ trợ phát triển. Một số CTCK khác như ARSC, ACBS và VCBS đã làm đại lý phát hành kỳ phiếu của một số tổ chức tín dụng như Ngân hàng Phát triển nhà đồng bằng Sông Cửu Long, NHNN&PTNTVN hoặc đại lý phát hành cổ phiếu công ty cổ phần bảo hiểm Nhà rồng. Trong năm 2003, các công ty VCBS, ARSC, IBS đã thực hiện tham gia bảo lãnh và đại lý phát hành hàng ngàn tỷ đồng Trái phiếu chính phủ, trái phiếu đô thị. Các CTCK BSC, ARSC, VCBS đã tham gia và đạt kết quả cao trong đấu thầu Trái phiếu Chính phủ qua TTGDCK TPHCM...Ngoài ra, các công ty còn ký tiếp các hợp đồng bảo lãnh phát hành trái phiếu cho Quỹ hỗ trợ phát triển Việt Nam. Một loại trái phiếu doanh nghiệp do tổng công ty dầu khí Việt Nam phát hành, đợt đầu từ tháng 9/2003 với tổng mệnh giá 300 tỷ đồng để huy động vốn cho các dự án dầu khí, thời hạn 5 năm, lãi suất năm đầu tiên là 8,7%/ năm, do NHĐT&PTVN bảo lãnh phát hành và NHCTVN bảo lãnh thanh toán. Đối với cổ phiếu, lần đầu tiên, VCBS đã thực hiện bảo lãnh phát hành theo phương thức cam kết chắc chắn cho một công ty cổ phần với tổng giá trị bảo lãnh gần 6 tỷ đồng vào cuối năm 2003. Hiện nay, theo chủ trương cải cách hệ thống các NHTM của Chính Phủ, để tăng nguồn vốn đáp ứng nhu cầu hoạt động, các NHTM sẽ phát hành cổ phiếu để nâng vốn chủ sở hữu, đồng thời các ngân hàng sẽ tăng cường phát hành trái phiếu để huy động vốn trung và dài hạn. Các Tổng công ty cũng đang trong quá trình cổ phần hóa và sẽ phát hành trái phiếu, cổ phiếu để huy động vốn. Đây là cơ hội để các NHTM phát triển nghiệp vụ đại lý, bảo lãnh phát hành chứng khoán. Thực tế cho thấy, các NHTM đang cạnh tranh rất mạnh mẽ trong việc phát hành trái phiếu, cạnh tranh đứng ra làm đại lý phát hành và bảo lãnh thanh toán trái phiếu đô thị, trái phiếu chính phủ, trái phiếu công trình và trái phiếu của các Tổng công ty. Xu thế cạnh tranh đó sẽ thúc đẩy sự phát triển của TTCK Việt Nam. 2.2.2.4. Hoạt động tư vấn chứng khoán Hoạt động tư vấn đã bắt đầu được sự quan tâm phát triển tại các NHTM. Tuy nhiên, các hoạt động này còn đơn điệu, chưa có chiến lược phát triển rõ ràng. Hình thức tư vấn còn đơn giản, thông tin còn nghèo nàn và chất lượng chưa cao, chủ yếu qua các tạp chí, chuyên san hoặc các Website. Một số các NHTM đã thực hiện tư vấn cổ phần hóa, tư vấn tài chính doanh nghiệp. Các CTCK của ngân hàng đều tổ chức tư vấn đầu tư chứng khoán cho khách hàng thông qua việc phát các bản phân tích đánh giá về thị trường và hoạt động của các công ty niêm yết. Đa số các công ty như BSC ,VCBS ...đã có trang Web cập nhật các thường xuyên các thông tin để các nhà đầu tư có thể tham khảo. Trước tình hình hoạt động giao dịch kém sôi động, một số thành viên đã chuyển sang thực hiện hoạt động tư vấn cổ phần hóa, tư vấn niêm yết... Tuy nhiên, thành công lớn nhất trong năm 2003 là hoạt động tư vấn và tổ chức bán cổ phần lần đầu cho các DNNN cổ phần hóa sau khi Nghị định 64/NĐ-CP về cổ phần hóa DNNN được ban hành thay thế Nghị định 44/NĐ-CP. Các CTCK đã tổ chức tư vấn và tổ chức cổ phần bán lần đầu cho hơn 50 DNNN cổ phần hóa. Cho tới nay, hoạt động tư vấn chứng khoán được hầu hết các CTCK chú trọng bởi vì đây được xem là nghiệp vụ quan trọng và chủ yếu đối với các công ty này. Các công ty đã và đang triển khai hoạt động tư vấn miễn phí cho các nhà đầu tư. Hoạt động này nhằm tạo lòng tin, thu hút khách hàng, hơn thế nữa giúp nhân viên của các công ty nâng cao nghiệp vụ, định hướng đầu tư cho khách hàng. Các CTCK đã tiến hành hoạt động này qua khá nhiều hình thức phong phú và đa dạng như đã đưa ra bản tin chứng khoán hàng tuần cung cấp cho khách hàng và đưa lên trang Web thông tin về thị trường được khách hàng đánh giá cao. Cho đến nay, hầu hết các CTCK của các ngân hàng đã có bản tin cập nhật, phân tích, bình luận cho từng phiên giao dịch. Tuy nhiên, hoạt động tư vấn đầu tư chứng khoán của các công ty hiện nay vẫn được đánh giá là chưa đáp ứng được nhu cầu nhà đầu tư. 2.2.2.5. Hoạt động môi giới chứng khoán Hoạt động môi giới là một đặc quyền của các CTCK. Cả 7 CTCK thuộc ngân hàng đều có giấy phép thực hiện nghiệp vụ này, song hoạt động này mới ở giai đoạn còn đơn giản, tính chủ động chưa cao. Theo quy định tại điều 30 Nghị định 48/NĐ-CP và điều 66 Nghị định 144/NĐ-CP, một CTCK muốn cung cấp dịch vụ môi giới chứng khoán phải được UBCKNN cấp phép, vốn pháp định tối thiểu là 3 tỷ đồng. Hoạt động môi giới của các CTCK thuộc ngân hàng có kết quả như sau: Hoạt động mở tài khoản giao dịch chứng khoán Số lượng tài khoản mở tại các CTCK thuộc ngân hàng tăng mạnh qua các năm. Tính đến cuối năm 2003, số lượng tài khoản mở tại các CTCK của các NHTM chiếm tới 70% toàn bộ số lượng tài khoản khách hàng mở tại tất cả các CTCK. Trong năm 2003, trước tình hình hoạt động giao dịch giảm sút, các CTCK không ngừng nâng cao dịch vụ khách hàng và mở nhiều đại lý nhận lệnh ở các tỉnh, thành phố do đó số lượng tài khoản tăng ở hầu hết các công ty. Trong đó, VCBS là CTCK có số lượng tài khoản tăng cao nhất trong năm nhờ việc phát triển công nghệ kinh doanh chứng khoán thông qua cung cấp dịch vụ đặt lệnh qua mạng Internet. Tuy nhiên, việc tăng số lượng các tài khoản không thể hiện mức độ hoạt động môi giới của các thành viên. Bảng sau đây sẽ thể hiện mức tăng trưởng số lượng tài khoản mở tại các CTCK qua các năm 2000- 2003: Bảng 2.1: Số lượng tài khoản giao dịch mở tại các CTCK từ năm 2000-2003 Đơn vị: Tài khoản CTCK Năm BSC TSC ACBS IBS ARSC VCBS Tổng Năm 2000 409 177 635 89 _ _ 1310 Năm 2001 1355 549 1725 263 88 _ 3980 Năm 2002 1990 572 2280 620 255 323 6040 Năm 2003 2322 689 2565 899 359 1207 8041 %thay đổi 2001/2000 231.3 210.17 171.65 195.51 # # 203.82 %thay đổi 2002/2001 46.86 4.19 32.17 135.74 189.77 # 51.76 %thay đổi 2003/2002 16.68 20.45 12.5 45 40.78 273.68 33.13 Nguồn: UBCKNN Về trình độ của các nhà môi giới Xuất phát từ đặc điểm của nghề môi giới đòi hỏi những người làm nghiệp vụ này phải có những phẩm chất, tư cách đạo đức, kỹ năng mẫn cán trong công việc, cung cấp cho khách hàng những dịch vụ tốt nhất. Người môi giới phải có kỹ năng truyền đạt thông tin, tìm kiếm khách hàng và kỹ năng khai thác thông tin. Tuy nhiên, nghiệp vụ môi giới của các CTCK hiện nay chưa thực sự đúng với nghiệp vụ môi giới thường thấy trên TTCK thế giới. Các nhà môi giới Việt Nam chỉ chủ động chờ và bán hộ, mua hộ khi khách hàng có yêu cầu. Trình độ của các nhà môi giới còn hạn chế. Theo Nghị định 144, các nhà môi giới phải có đủ năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự, đáp ứng các tiêu chuẩn về đạo đức, có trình độ chuyên môn. Yêu cầu về trình độ chuyên môn là tối thiểu phải có bằng trung học phổ thông và có đủ các chứng chỉ chuyên môn về chứng khoán do UBCKNN cấp. Tuy nhiên, các yêu cầu này là chưa đủ đối với một nghề như nghề môi giới. Mặc dù hiện nay, Việt Nam đã có Hiệp hội môi giới và kinh doanh chứng khoán nhưng tổ chức này chưa thực sự phát huy được vai trò của mình. Phí môi giới thu được của các CTCK trong năm 2002 giảm mạnh so với năm 2001. Theo số liệu thống kê của UBCKNN, lượng phí môi giới thu được trong năm 2002 của 6 CTCK này đạt hơn 3.2 tỷ đồng trong khi con số của 2001 là hơn 4.1 tỷ đồng. Nguyên nhân là năm 2001 các CTCK đồng loạt áp dụng mức phí môi giới là 0.5% trên tổng gá trị giao dịch nên tổng phí môi giới thu được khá cao. Kể từ tháng 4 năm 2002, để nâng cao sức cạnh tranh, các công ty đua nhau giảm phí. Do vậy, doanh thu từ phí môi giới của năm 2002 giảm rõ rệt. Điều này thể hiện qua bảng sau: Bảng 2.2: Doanh thu từ hoạt động môi giới chứng khoán của các CTCK Đơn vị: triệu đồng CTCK Năm BSC TSC ACBS IBS ARSC VCBS Tổng Năm 2001 1157 768 1388 811 7 0 4131 Năm 2002 673 386 1218 517 352 82 3228 % thay đổi -41.83 -49.74 -12.25 -36.25 4928.5 # -21.86 Nguồn:UBCKNN 2.2.2.6. Hoạt động quản lý danh mục đầu tư chứng khoán Hoạt động quản lý danh mục đầu tư chứng khoán còn chưa phát triển. Các CTCK của ngân hàng đều được cấp phép thực hiện nghiệp vụ này. Song mới chỉ có IBS, TSC triển khai thực hiện và doanh thu từ hoạt động này còn khiêm tốn so với tiềm năng. Gần đây nhất là TSC đã ký hợp đồng quản lý danh mục đầu tư với NHTM cổ phần Quân đội. Tuy nhiên, việc triển khai không được tốt và mang tính tập dượt. Trong quý I/2003, không CTCK nào thực hiện có doanh thu từ hoạt động quản lý danh mục đầu tư. Các công ty vẫn tiếp tục thực hiện các hợp đồng đã ký kết nhưng gặp rất nhiều khó khăn do tình hình thị trường diễn biến không ổn định. Theo luật các tổ chức tín dụng, bản thân các NHTM cũng có thể thực hiện nghiệp vụ này. Tuy nhiên, cho đến nay, các ngân hàng chưa triển khai mạnh hoạt động quản lý danh mục đầu tư. Tham gia quản lý quỹ đầu tư, hiện nay mới chỉ có NHTMCP Sacombank thực hiện thông qua liên doanh với công ty Dragon Capital quản lý quỹ VIETFUND. Hai đơn vị này có trách nhiệm đóng góp vốn vào quỹ đầu tư như đã cam kết, trong đó Sacombank góp 70% vốn pháp đinh của quỹ( 8 tỷ đồng). Quỹ này huy động khoảng 300 tỷ đồng để thực hiện việc đầu tư chứng khoán qua danh mục đa dạng nhằm giảm rủi ro và đem lại mức sinh lời cao cho các nhà đầu tư vào quỹ. 2.2.2.7. Các hoạt động khác Hoạt động lưu ký chứng khoán hiện nay do các thành viên lưu ký thực hiện. Đến nay, có 5 NHTM và các CTCK được cấp giấy phép thực hiện hoạt động này, trong đó có 2 NHTM Việt Nam là NHĐT& PTVN ; NHNTVN và 3 chi nhánh ngân hàng nước ngoài là ngân hàng Hồng Kông(HSBC), ngân hàng Deutsche Bank, Standard Chartered Bank. Sự tham gia của 5 NHTM làm thành viên lưu ký được xem là sự tham gia trực tiếp của các ngân hàng vào dịch vụ chứng khoán mà không cần thiết phải thành lập công ty con. Hoạt động lưu ký chứng khoán đã được các thành viên lưu ký và các CTCK tích cực triển khai ngay từ những ngày đầu được phép thực hiện. Mọi quy định của UBCKNN và của TTGDCK đều được thực hiện nghiêm túc. Nhìn chung, các thành viên luôn tìm cách thu hút khách hàng vào lưu ký tại công ty mình, song do ngày càng có nhiều thành viên được cấp giấy phép hoạt động nên đã diễn ra sự cạnh tranh giữa các thành viên. Có thành viên mới được cấp phép hoạt động đã khẳng định vị thế của mình trên thị trường như VCBS chiếm 5.09% thị phần. Tuy nhiên, số lượng các tổ chức lưu ký còn thấp, các NHTM chưa quan tâm phát triển đến hoạt động này một cách đúng mức nên chưa có hoạt động tuyên truyền, vận động về lợi ích các dịch vụ quản lý, bảo quản và thanh toán chứng khoán. Thủ tục thanh toán, quản lý chứng khoán còn phức tạp và chưa thuận lợi, chưa tạo lòng tin của công chúng đầu tư. Ngân hàng chỉ định thanh toán NHĐT&PTVN được chỉ định là ngân hàng thanh toán vào ngày 26/11/1999. Việc phát triển hệ thống thanh toán và lưu ký đã góp phần quan trọng trong việc đảm bảo các giao dịch của thị trường chính thức. NHĐT&PTVN đã xây dựng được cơ sở vật chất và công nghệ vững mạnh đáp ứng hiệu quả các yêu cầu phục vụ thanh toán của TTGDCK. Ngân hàng cũng cung ứng ngày càng nhiều dịch vụ liên quan đến hoạt động thanh toán của NHCĐTTCK như mở tài khoản cho các thành viên tham gia, thực hiện các lệnh thanh toán bù trừ, đối chiếu, kiểm soát, cho vay tạm thời... Bảng 2.3 : Một số chỉ tiêu hoạt động chính của NHCĐTTCK Đơn vị: triệu đồng Chỉ tiêu 2000 2001 2002 2003 Số đơn vị mở tài khoản 13 18 20 27 Giá trị thanh toán bù trừ 38.509 396.465 452.182 838.655 Doanh số cho vay ứng trước tiền bán chứng khoán 0 4500 6.178 57.659 Nguồn: NHĐT&PTVN Số đơn vị mở tài khoản tại NHCĐTTCK tính đến ngày 31/12/2003 là 27 đơn vị, bao gồm 12 CTCK, 01 Ngân hàng lưu ký và các thành viên đấu thầu Trái phiếu Chính phủ. Doanh số thanh toán bù trừ tiền mua bán chứng khoán tăng đều qua các năm. Tổng cộng 4 năm 2000-2003 đạt 1699 tỷ đồng, trong đó riêng năm 2003 đạt 839 tỷ đồng, chiếm xấp xỉ 50%. Nghiệp vụ tín dụng Mặc dù hoạt động cho vay để mua chứng khoán không được khuyến khích song các NHTM đã triển khai dịch vụ cho vay cầm cố chứng khoán với tổng giá trị chứng khoán cầm cố tính đến tháng 10/2001 là 65 tỷ đồng. Tham gia hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán và công ty quản lý quỹ với tư cách là Ngân hàng giám sát Điều 76 Nghị định 144/NĐ-CP quy định rằng, các bên tham gia hoạt động quỹ đầu tư chứng khoán là công ty quản lý quỹ, ngân hàng giám sát và người đầu tư chứng khoán. Trong đó công ty quản lý quỹ có nhiệm vụ thực hiện việc quản lý QĐTCK, còn ngân hàng giám sát thực hiện việc bảo quản, lưu ký tài sản của QĐTCK và giám sát công ty quản lý quỹ trong việc bảo vệ lợi ích của người đầu tư. Theo quy định tại điều 93 Nghị định 144/NĐ-CP, để được đảm nhận vai trò ngân hàng giám sát thì ngân hàng phải đáp ứng các điều kiện sau: Phải được NHNN Việt Nam

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docL0270.doc