Đề tài Một số biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng dạy - học ở trường THPT Nguyễn Siêu trong thời kỳ hội nhập WTO

Tên trường : Trường THPT DL Nguyễn Siêu (hoạt động theo cơ chế Tư thục).

Địa chỉ : Phố Trung Kính - Yên Hoà - Cầu Giấy - Hà Nội. Đây là khu đất mới mở rộng theo quy hoạch của thanh phố nên dân cư còn chưa tập trung đông. Bên cạnh đó, các công trình nhà ở vẫn đang trong giai đoạn xây dựng nên đường xá còn chưa khai thông.

Về cơ cơ cấu tổ chức :

- Hiệu trưởng : 1 - Trình độ : Đại học.

- Phó hiệu trưởng : 1 - Trình độ: Thạc sỹ

- Phụ trách khối cấp : 4 – Trình độ: Đại học

- Số lượng thành viên Hội đồng quản trị : 2 (1 Chủ tịch và1 Phó Chủ tịch).

Về vốn đầu từ khi thành lập : 5 tỷ.

 

doc38 trang | Chia sẻ: maiphuongdc | Ngày: 25/01/2014 | Lượt xem: 3274 | Lượt tải: 40download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đề tài Một số biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng dạy - học ở trường THPT Nguyễn Siêu trong thời kỳ hội nhập WTO, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ên môn tốt, yêu nghề được tuyển chọn vào trường hoặc được mời tham gia giảng dạy, quản lý giáo dục học sinh. - Trường đã xây dựng được ngôi trường mới của mình trên khuôn viên 10.000m2. Cơ sở vật chất đầy đủ theo tiêu chuẩn của trường chuẩn quốc gia đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc nâng cao chất lượng dạy và học. Năm học 2004-2005 Trường được công nhận “Trường đạt chuẩn Quốc gia giai đoạn 2001-2010”. • Khó khăn : - Trong 15 năm hoạt động, 12 năm trường phải thuê mượn cơ sở vật chất và di chuyển qua 8 địa diểm trong Thành phố. Cơ sở vật chất phục vụ cho dạy và học chưa đáp ứng được yêu cầu quy định. - Học sinh ở trên khắp các Quận, Huyện của Thành phố trình độ nhận thức không đồng đều. Việc đi lại của học sinh chủ yếu bằng xe ô tô hợp đồng giữa trường với Công ty Vận tải, giá cả luôn luôn biến động. - Đội ngũ giáo viên thường có biến động. Giáo viên trẻ có trình độ kiến thức tốt nhưng kinh nghiệm dạy học và quản lý học sinh (học 2 buổi/ngày) còn hạn chế. Phát huy thuận lợi, khắc phục khó khăn toàn thể cán bộ, giáo viên, công nhân viên và học sinh toàn trường đã ra sức phấn đấu xây dựng trường phát triển về số lượng, chất lượng dạy và học ngày càng được nâng cao và đã đạt được thành tích trong các mặt hoạt động giáo dục toàn diện. Năm học đầu tiên (1991-1992) trường chỉ có 5 lớp với 132 học sinh. Đến năm học 2007-2008 trường có 28 lớp (trong đó có 2 lớp “Dịch vụ giáo dục trình độ chất lượng cao” với tổng số học sinh 1.071 học sinh (THCS 16 lớp - 673 học sinh; THPT 12 lớp - 398 học sinh).Tổng số cán bộ, giáo viên, công nhân viên: 93. Đảng viên : 11. Tuy nhiên, mô hình lớp học “Dịch vụ giáo dục trình độ chất lượng cao” la một mô hình mới của Hà Nội nên trong quá trình quản lý vẫn là những bước đI chập chững ban đầu vì vậy con nhiều hạn chế. Qua 3 năm thực hiện thí điểm tại cấp Tiểu học, bản thân là người xây dựng ý tưởng và đề án, lại trực tiếp từ khâu tuyển sinh đến quản lý quá trình dạy học của khối lớp này, năm nay chúng tôi tiếp tục mở các lớp ở khối THCS và THPT, với những kiến thức thu nhặt được từ khóa hoch bồi dưỡng CBQL, tôI manh dạn nghiên cứu đề tài : “Một số biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng dạy học ở trường THPT Nguyễn Siêu trong thời kỳ hội nhập WTO” CHƯƠNG II THỰC TRẠNG CỦA CÔNG TÁC QUẢN LÝ DẠY HỌC Ở TRƯỜNG PTDL NGUYỄN SIÊU - HÀ NỘI 1. SƠ LƯỢC VỀ ĐẶC ĐIỂM CỦA TRƯỜNG PTDL NGUYỄN SIÊU Tên trường : Trường THPT DL Nguyễn Siêu (hoạt động theo cơ chế Tư thục). Địa chỉ : Phố Trung Kính - Yên Hoà - Cầu Giấy - Hà Nội. Đây là khu đất mới mở rộng theo quy hoạch của thanh phố nên dân cư còn chưa tập trung đông. Bên cạnh đó, các công trình nhà ở vẫn đang trong giai đoạn xây dựng nên đường xá còn chưa khai thông. Về cơ cơ cấu tổ chức : - Hiệu trưởng : 1 - Trình độ : Đại học. - Phó hiệu trưởng : 1 - Trình độ: Thạc sỹ - Phụ trách khối cấp : 4 – Trình độ: Đại học - Số lượng thành viên Hội đồng quản trị : 2 (1 Chủ tịch và1 Phó Chủ tịch). Về vốn đầu từ khi thành lập : 5 tỷ. Về diện tích đất sử dụng được Nhà nước cấp 10.000m2. Tổng diện tích phòng học : 2.793m2, số phòng học : 57, số phòng thí nghiệm : 2, phòng thực hành : 2, Thư viện và phòng đọc : 2 (số đầu sách:……), số lượng máy tính : 45 máy học sinh học tin + 17 máy quản lý. - Số lớp : 28 (THCS : 16 lớp; THPT: 12 lớp). - Tổng số cán bộ, nhân viên , giáo viên : 93 - Tổng số cán bộ, nhân viên, giáo viên cơ hữu : 78 (trong đó số giáo viên:53). - Tổng số cán bộ, nhân viên, giáo viên hợp đồng : 15 (trong đó: số giáo viên : 15). - Trường THPT Dân lập Nguyễn Siêu được thành lập theo quyết định số 1679/QĐ-UB ngày 11-9-1991 của UBND Thành phố Hà Nội. (Trường PTDL Cấp II và cấp III Nguyễn Siêu nay là Trường THPT DL Nguyễn Siêu). - Học sinh được tuyển chọn theo yêu cầu đào tạo, mỗi năm được nâng cao, trình độ đồng đều tuyệt đại đa số học sinh khá, giỏi và đạo đức tốt, chăm ngoan. Tổ chức học sinh học 2 buổi/ngày, mỗi tuần học 5 ngày với 40 tiết/tuần đã giúp nhà trường thực hiện có hiệu quả công tác giáo dục toàn diện. Nhờ học 2 buổi/ngày học sinh được luyện tập nhiều hơn, tăng cường kỹ năng thực hành tốt hơn, giúp học sinh nắm chắc được kiến thức cơ bản. Giáo viên có thêm thời gian để soạn bài, chấm chữa bài, tự học thêm và có điều kiện bồi dưỡng học sinh giỏi, phụ đạo học sinh chưa đạt yêu cầu. Các hoạt động văn nghệ, TDTT, dạy nghề và các hoạt động Đoàn, Đội, Hội, Sao ... có điều kiện tổ chức hoạt động thuận lợi. 2. KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA NHÀ TRƯỜNG NHỮNG NĂM QUA (5 NĂM 2002-2007) 2.1. Chất lượng đội ngũ cán bộ, giáo viên, công nhân viên: 2.1.1. Xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên : a- Số giáo viên đạt chuẩn của cấp học : 100% . Số giáo viên trên chuẩn : THCS : 78,9%. THPT : 33,3%. Số giáo viên cơ hữu : 83,8%. b - Số giáo viên đạt giải trong các Hội thi dạy giỏi : 25 Cấp Quận : 18. Cấp Thành phố :7 Năm học Tổng số giải Loại giải Cấp công nhận 2002-2003 3 giáo viên 1 giải Ba; 2 giải KK Quận 2003-2004 6 giáo viên 3 giải Ba; 1 giải KK 2 giải KK Quận Thành phố 2004-2005 7 giáo viên 4 giải Ba 3 giải Ba Quận Thành phố 2005-2006 7 giáo viên 1 giải Nhất, 3 giải Ba, 1 giải KK 1 giải Nhất, 1 giải Nhì Quận Thành phố 2006-2007 2 giáo viên 2 giải Ba Quận c - Giáo viên đã quan tâm đến việc đổi mới dạy học, đổi mới cách đánh giá và quản lý học sinh bằng việc tổ chức thực hiện các chuyên đề, có sử dụng phần mềm Powerpoint và các phương tiện hiện đại, tổ chức hội giảng hàng năm có 100% giáo viên tham gia (75% đạt tiết dạy tốt). Toàn trường có 25% giáo viên và CBCNV đạt tiêu chuẩn dạy giỏi và lao động giỏi cấp Quận và Thành phố; không có CB-GV-CNV vi phạm qui chế chuyên môn, chính sách và luật pháp của Nhà nước. d - Phong trào viết sáng kiến kinh nghiệm và phổ biến áp dụng sáng kiến kinh nghiệm được giáo viên tích cực tham gia. Trong 3 năm qua số sáng kiến kinh nghiệm đã viết được cấp quản lý xét duyệt phân loại công nhận : 104 sáng kiến kinh nghiệm. Năm học Số SKKN đã viết Cấp Quận công nhận Cấp TP công nhận Loại A Loại B Loại C Loại B Loại C 2002-2003 16 5 8 3 2 2 2003-2004 30 10 18 5 2 5 2004-2005 24 5 5 1 3 10 2005-2006 50 20 11 1 5 13 2006-2007 44 8 18 14 7 4 Cộng 164 48 60 24 19 34 2.1.2. Không ngừng chăm lo đời sống vật chất và tinh thần cho cán bộ giáo viên: - Nhà trường cùng với Công đoàn luôn luôn quan tâm đến việc động viên cán bộ giáo viên hoàn thành tốt nhiệm vụ và không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho cán bộ, giáo viên, công nhân viên (khen thưởng từng học kỳ, năm học; tặng quà nhân ngày lễ, tết; thăm hỏi khi ốm đau, việc hiếu việc hỷ, trợ cấp và tổ chức tham quan du lịch trong hè... ). Trong 5 năm qua đã chi 334.160.000đ (trong đó khen thưởng là 77.250.000đ; hỗ trợ đời sống 256.910.000đ). - Động viên khuyến khích việc tự học, tự bồi dưỡng; tạo điều kiện cho các giáo viên học chuyên tu tại chức để đạt trình độ trên chuẩn ; tổ chức việc học tập đổi mới phương pháp dạy học và quản lý học sinh, học tập đổi mới chương trình sách giáo khoa, học tin học... - Chi bộ nhà trường đặc biệt quan tâm đên việc bồi dưỡng, kết nạp Đảng. Hàng năm kết nạp từ 1 đến 2 đảng viên. Năm học 2006-2007 kết nạp 2 đảng viên mới. 2.2. Chất lượng giáo dục học sinh: a) Xếp loại học lực: Năm học Giỏi (%) Khá (%) Thi tốt nghiệp (%) THCS THPT THCS THPT THCS THPT 2002-2003 46,8 13,6 47,2 73,2 100 100 2003-2004 47,3 12,9 44,3 79,1 100 100 2004-2005 42,2 12,1 47,3 74,1 99,2 99,65 2005-2006 48,4 12,5 41,3 75,9 100 100 2006-2007 51,6 9,4 43,4 55,9 100 100 • Thi học sinh giỏi trong 15 năm qua 1992-1993 đến 2006-2007: - Thi học sinh giỏi các cấp đạt 199 giải của học sinh THCS và THPT (trong đó có 3 giải quốc gia; 95 giải thành phố và 101 giải quận). Trong 5 năm qua thi học sinh giỏi đạt 86 giải. Năm học Số học sinh đạt giải thi học sinh giỏi Cấp Quận Cấp Thành phố Cấp Quốc gia 2002-2003 1 giải Nhất, 1 giải Nhì, 5 giải Ba, 6 giải KK 2 giải Nhì, 1 giải Ba, 7 giải Khuyến khích 2003-2004 3 giải Nhì, 7 giải Ba, 6 giải Khuyến khích 4 giải Nhì, 1 giải Ba, 5 giải Khuyến khích 2004-2005 2 giải Nhất, 1 giải Nhì, 1 giải Ba, 2 giải Khuyến khích 2 giải Nhì, 5 giải Ba, 5 giải Khuyến khích 2005-2006 2 giải Ba, 2 giải Khuyến khích 1 giải Nhì, 5 giải Ba, 1 giải Khuyến khích 2006-2007 1 giải Nhì, 1 giải Ba, 2 giải Khuyến khích 1 giải Ba, 3 giải Khuyến khích Cộng 43 giải 43 giải - Số học sinh lưu ban : không - Số học sinh phải thi lại : không - Tỉ lệ học sinh tốt nghiệp các năm học 100%. b) Xếp loại Đạo đức: Năm học Tốt (%) Khá (%) Trung bình (%) THCS THPT THCS THPT THCS THPT 2002-2003 88,7 86,1 11 13,9 0,3 0 2003-2004 89,6 85,6 10,4 14,4 0 0 2004-2005 90,8 80,8 9,2 18,4 0 0,8 2005-2006 91,6 85,1 8 14,5 0,4 0,4 2006-2007 90,3 78,8 9,7 19,6 0 1,6 - Số lớp Tiên tiến : 28 lớp . Tỉ lệ 100%. - Số Chi Đoàn, Chi đội mạnh : 28 lớp . Tỉ lệ 100% - Số học sinh chậm tiến : không. - Số học sinh bị kỷ luật : không - Các vi phạm của học sinh về đạo đức, nếp sống: không - Đánh giá về nền nếp đạo đức, nếp sống của học sinh; về kỷ luật trật tự trong và ngoài trường; về tinh thần thái độ học tập ; về ý thức trách nhiệm đối với công việc + Đạo đức : ngoan, có ý thức trong các hoạt động tập thể, biết “Nói lời hay, làm việc tốt”; giữ gìn trường lớp, bàn ghế sạch sẽ... + Thực hiện nội qui tốt: Có kỉ cương và nền nếp trong học tập, sinh hoạt, ăn nghỉ, đi lại, không có vi phạm nghiêm trọng phải xử lý kỷ luật. + Nếp sống lành mạnh., không có các tệ nạn xã hội xấu trong nhà trường. + Học sinh hoàn thành tốt các công việc : lao động vệ sinh môi trường, bảo quản giữ gìn tài sản chung . + Đội ngũ cán bộ lớp, cán bộ Đoàn, Đội có ý thức tự quản, làm việc có trách nhiệm; tích cực tham gia vào các hoạt động của nhà trường, Đoàn, Đội, Hội trong quận, trong cụm và thành phố. Mọi hoạt động đều đạt thành tích cao (100% ký giao ước thi đua “Học sinh Nguyễn Siêu văn minh thanh lịch” ; tham gia đồng diễn tại Đại hội TDTT Thành phố được UBND Hà Nội khen thưởng; tham gia Hội trại “Đoàn ta sáng mãi” đạt giải nhì thi “ Học sinh thanh lịch”; duy trì tốt hoạt động của Câu lạc bộ “Sống đẹp” và “Tuổi trẻ-Sức khoẻ-Sáng tạo”. Đạt giải Nhì thi đấu bóng đá mi ni quận Ba Đình...). 3. TÌNH HÌNH THỰC HIỆN QUI CHẾ DÂN CHỦ: - Trường chưa chính thức thành lập Ban chỉ đạo qui chế dân chủ nhưng mọi mặt hoạt động của trường đều dựa vào qui chế dân chủ qui định của Bộ Giáo dục Đào tạo và Sở Giáo dục Đào tạo Hà Nội. - Trên cơ sở qui chế và Điều lệ của nhà trường. Hội đồng quản trị, Ban giám hiệu đã xây dựng tập văn bản “Qui định về chức năng nhiệm vụ và chế độ nền nếp hoạt động của mỗi bộ phận và cá nhân”. Trình tự xây dựng văn bản được viết từ mỗi cá nhân, bộ phận thông qua tập thể lấy ý kiến, trình Ban giám hiệu để bổ sung sửa đổi sau đó thống nhất với từng cá nhân, bộ phận ký cam kết tự nguyện thực hiện. - Hàng năm trường tổ chức 2 lần (đầu năm và cuối năm) tổng kết năm học và học tập quán triệt nhiệm vụ năm học mới đóng góp ý kiến cho lãnh đạo nhà trường và mỗi cá nhân, mỗi bộ phận xây dựng kế hoạch hoạt động của mình đăng ký thi đua với trường. Qua các hoạt động trên đây, các nội dung của qui chế dân chủ ở nhà trường đều được thực hiện tốt. 4. CÁC DANH HIỆU VÀ PHẦN THƯỞNG THI ĐUA ĐÃ ĐẠT ĐƯỢC: - “Trường Tiên tiến xuất sắc cấp Thành phố” liên tục 3 năm liền và năm học 2005-2006 được UBND Thành phố công nhận là “Tập thể lao động xuất sắc cấp Thành phố”. - Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ về thành tích từ năm học 2003-2004 đến năm học 2005-2006. - Trường dân lập đầu tiên của Hà Nội được cấp bằng công nhận “Trường THPT đạt chuẩn quốc gia giai đoạn 2001-2010”. - Bằng khen của Bộ trưởng Uỷ Ban TDTT về tham gia Đại hội TDTT toàn quốc lần thứ IV. - Bằng khen của Trung ương Hội Chữ Thập Đỏ Việt Nam; Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh. - Bằng khen của UBND Hà Nội về thành tích tốt trong 5 năm thực hiện xã hội hoá (2000-2005). Trong 15 năm qua Trường đã được đón tiếp Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Khánh - UVBCT Bí thư Thành uỷ Hà Nội Nguyễn Phú Trọng đến thăm và làm việc với cán bộ, giáo viên nhà trường. Đã đón nhận lẵng hoa của Phó Thủ tướng Phạm Gia Khiêm nhân lễ khánh thành trường và lẵng hoa của Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng nhân kỷ niệm 15 năm thành lập Trường. CHƯƠNG III MỘT SỐ BIỆN PHÁP QUẢN LÝ NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC Ở TRƯỜNG THPT NGUYỄN SIÊU - HÀ NỘI TRONG THỜI KỲ HỘI NHẬP WTO Trường THPT Nguyễn Siêu - Hà Nội đã đề ra phương hướng phấn đáu trong những năm sắp tới là: * Nâng cao chất lượng dạy - học và giáo dục toàn diện, phát triển các lớp “Dịch vụ giáo dục trình độ chất lượng cao” từng bước xây dựng trường trở thành “Trường Tiểu học, Trung học cơ sở, Trung học phổ thông Nguyễn Siêu” trở thành “Trường Dịch vụ giáo dục trình độ chất lượng cao” của Thành phố. * Tiếp tục tăng cường cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học hiện đại, đưa công nghệ thông tin vào trong công tác quản lý, giảng dạy và học tập theo chương trình dự án “Dạy học cho tương lai”. Phát triển việc học tiếng Anh theo tiêu chuẩn Quốc tế tạo điều kiện thuận lợi cho việc Hội nhập khu vực và quốc tế. * Thực hiện có hiệu quả phong trào thi đua “Hai tốt” và các cuộc vận động lớn của Ngành và của Trường đã phát động. * Phấn đấu giữ vững các danh hiệu đạt được trong các năm học vừa qua. * Tiếp tục nâng cao chất lượng toàn diện của trường chuẩn quốc gia giai đoạn 2001-2010 để đạt trường chuẩn quốc gia giai đoạn tiếp theo. Để thực hiện mục tiêu này, khâu then chốt là đề các biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng dạy học để xây dựng thương hiệu, tạo lập uy tín cho mình, chúng tôi mạnh dạn đưa ra các giải pháp sau đây: 1. Nâng cao nhận thức của cán bộ quản lý, giáo viên và cán bộ công nhân viên về sự cần thiết phải nâng cao chất lượng dạy học. Để có thể nâng cao chất lượng dạy học trước hết phải tạo được trong tập thể sư phạm nhà trường một môi trường đoàn kết với tinh thần hăng hái và ý chí quyết tâm cao . 1.1. Tổ chức học tập, tuyên truyền một cách kịp thời các văn kiện, nghị quyết của Đảng về phát triển KT-XH trong giai đoạn hiện nay, làm cho mọi người nắm vững và thấm nhuần quan điểm của Đảng, quyết tâm đưa nước ta trở thành một nước công nghiệp. Trong đó giáo dục đóng vai trò cực kỳ quan trọng, có nhiệm vụ đào tạo nguồn nhân lực cho một nền kinh tế tri thức và được coi là quốc sách hàng đầu. 1.2. Phổ biến, quán triệt đầy đủ các chủ trương, giải pháp giáo dục, các văn bản pháp quy, hướng dẫn của Bộ giáo dục và đào tạo làm cho toàn thể cán bộ giáo viên thấy rõ thực trạng, những ưu điểm to lớn cũng như những yếu kém cần phải khắc phục hiện nay. 1.3. Phân tích rõ thực trạng của nhà trường, khẳng định vai trò quan trọng của nhà trường đối với sự phát triển của xã hội. 2. Kiện toàn hoạt động của các tổ chuyên môn trong nhà trường, tổ chức lao động một cách khoa học dưới sự điều hành, chỉ đạo của người cán bộ quản lý. Hoạt động chuyên môn là hoạt động trọng tâm, là nhiệm vụ chính của nhà trường mà cốt lõi là hoạt động dạy và học. Để nâng cao chất lượng dạy và học thì cần thiết phải có bộ máy chuyên môn vận hành đồng bộ, thông suốt, hiệu quả, cùng hướng tới mục tiêu chung. Việc phân công, sắp xếp bộ máy đòi hỏi thể hiện tính dân chủ và tinh thần trách nhiệm cao. - Tuân thủ định mức lao động của Nhà nước quy định về quyền hạn và nghĩa vụ của giáo viên và phù hợp với trình độ, năng lực của từng người. - Đảm bảo tính kế thừa để có sự ổn định trong một thời gian dài. Để chỉ đạo hoạt động dạy tốt, học tốt thì người lãnh đạo phải là người có năng lực chuyên môn vững vàng, có phẩm chất đạo đức tốt, gương mẫu ngoài ra còn phải nắm vững cơ sở lý luận của công tác quản lý, các thành tố cơ bản của quá trình dạy học, mục tiêu, nội dung, phương pháp giáo dục học sinh, cơ sở vật chất thiết bị dạy học và môi trường. Người cán bộ quản lý phải tổ chức lao động một cách khoa học thì mới nâng cao được hiệu quả quản lý đó là: - Xác lập kế hoạch sử dụng thời gian một cách hợp lý. - Thực hiện tốt việc phân công, giao trách nhiệm cho cấp dưới. - Đôn đốc kiểm tra việc thực hiện kế hoạch. - Có phong cách quản lý khoa học : cương quyết, dứt khoát, dân chủ. - Thường xuyên tự học, tự bồi dưỡng để nâng cao trình độ bản thân. 3. Tăng cường xây dựng, củng cố nền nếp dạy học: Xây dựng nền nếp dạy học là xây dựng tập thể nhà trường có ý thức tự giác và tự quản, có tinh thần trách nhiệm cá nhân và cộng đồng trách nhiệm trong tập thể. Hình thành thói quen làm việc có tổ chức, có kỷ luật, làm việc theo pháp luật và nội quy, tạo ra nền nếp kỷ cương trong nhà trường làm cơ sở cho việc nâng cao chất lượng dạy học.Để chỉ đạo xây dựng nền nếp dạy học cần làm tốt các công việc sau: 3.1 Chỉ đạo việc thực hiện quy chế chuyên môn, xây dựng và hoàn thiện các nội quy của nhà trường, thực hiện một cách có nền nếp và đồng đều ở các bộ phận. a) Chỉ đạo việc xây dựng kế hoạch năm học của nhà trường, tổ chuyên môn, cá nhân, các đoàn thể một cách khoa học, sát với thực tiễn và chi tiết, cụ thể. Các loại kế hoạch đều được thảo luận một cách kỹ lưỡng, đảm bảo tính khả thi và hiệu quả cao. b) Ngay từ đầu năm học, các quy chế chuyên môn phải được thực hiện đúng theo quy định: - Ra vào lớp đúng giờ, thực hiện nghiêm túc thời khoá biểu, các trường hợp đổi giờ, dạy thay đều phải thông qua Ban giám hiệu. Thực hiện đúng phân phối chương trình, chấm, trả bài đúng thời gian qui định. - Các loại hồ sơ chuyên môn phải đảm bảo đầy đủ, có chất lượng. c)Ban Giám hiệu phân công trách nhiệm rõ ràng cho từng cá nhân, phân công trực lãnh đạo để theo dõi, điều hành từng buổi học và xử lý các tình huống kịp thời. Thường xuyên kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện các nội quy, quy chế. Khi phát hiện những trường hợp thực hiện chưa nghiêm túc cần sớm chấn chỉnh, tránh hiện tượng nể nang, ngại va chạm hoặc chỉ nhắc nhở chiếu lệ làm cho nề nếp khó đi vào ổn định. d) Ổn định và duy trì nền nếp học tập ở các lớp. Học sinh phải có đủ sách, vở, đồ dùng học tập. Thống nhất trong toàn trường ngay từ giờ học thứ hai trong phân phối chương trình của môn học giáo viên phải thực hiện đều đặn các hình thức kiểm tra bài cũ. Trong tiết học, học sinh không được ra ngoài (trừ những trường hợp đặc biệt). Trong các buổi học, bảo vệ không cho học sinh ra khỏi cổng trường tránh hiện tượng một số học sinh bỏ giờ đi chơi. Ngay từ đầu năm học, học sinh được học các nội quy, quy định của nhà trường đối với mỗi học sinh và nhiệm vụ của học sinh THPT. Các giáo viên chủ nhiệm tổ chức đội ngũ cán bộ lớp duy trì nền nếp sinh hoạt và học tập của lớp mình. 3.2. Tăng cường chỉ đạo thực hiện nền nếp chuyên môn: - Tổ chuyên môn làm nhiệm vụ phân công giảng dạy một cách hợp lý, phát huy cao nhất năng lực chuyên môn của từng giáo viên. Tổ chức sinh hoạt tổ chuyên môn 2 lần / tháng có hiệu quả, thường xuyên cải tiến nội dung và hình thức sinh hoạt: + Rút kinh nghiệm các giờ dạy, thiết kế giáo án dạy các bài khó trong chương trình . + Sinh hoạt theo chuyên đề mà giáo viên đã đăng ký đề tài sáng kiến kinh nghiệm, phương pháp chuẩn bị và dạy các bài thực hành của bộ môn. - Họp cán bộ giáo viên mỗi tháng một lần vào tuần thứ nhất của tháng để kiểm điểm công tác tháng trước và thông qua triển khai kế hoạch công tác trong tháng. - Đánh giá xếp loại thi đua 2 tháng 1 lần đối với giáo viên, cán bộ công nhân viên, cuối kỳ có sơ kết rút kinh nghiệm. - Nền nếp giáo viên cần đạt những yêu cầu sau: + Kỷ luật lao động nghiêm, thực hiện ngày giờ công đầy đủ. + Rèn luyện tác phong người thầy về ăn mặc, ứng xử mô phạm . + Hồ sơ chuyên môn đầy đủ có chất lượng. + Sinh hoạt tập thể tự giác, nghiêm túc. 3.3. Chỉ đạo việc kiểm tra đánh giá việc thực hiện nề nếp dạy và học: a. Kiểm tra đánh giá nền nếp dạy của giáo viên do Ban giám hiệu và các tổ chuyên môn tiến hành: - Kiểm tra toàn diện giáo viên theo quy định : Nhà trường lập kế hoạch cùng tổ chuyên môn thực hiện, mỗi tổ phải kiểm tra toàn diện được 1/3 số giáo viên trong tổ. - Kiểm tra thường xuyên và đột xuất các hoạt động sư phạm của giáo viên: Giảng dạy trên lớp, soạn bài, chấm trả bài, ghi sổ đầu bài… Kết quả các đợt kiểm tra được công bố kịp thời, những sai sót được yêu cầu sửa chữa và khắc phục ngay sau khi phát hiện. b. Kiểm tra đánh giá nền nếp học tập của học sinh chủ yếu do Đoàn thanh niên đảm nhiệm: Ban chấp hành Đoàn trường tổ chức các đoàn kiểm tra bao gồm các uỷ viên Ban chấp hành, các bí thư chi đoàn, đội thanh niên kiểm tra phân công kiểm tra toàn diện hoặc kiểm tra việc thực hiện nền nếp của các lớp hàng ngày. - Tổng hợp điểm thi đua hàng tuần để xếp loại thi đua, công bố vào giờ chào cờ ngày thứ hai hàng tuần để động viên, khích lệ và nhắc nhở kịp thời. - Kết quả thi đua về nền nếp hàng tuần, hàng tháng sẽ được tổng hợp cuối học kỳ, cuối năm học và là một căn cứ quan trọng để đánh giá thi đua các lớp và giáo viên chủ nhiệm. 4. Chỉ đạo đổi mới phương pháp dạy học, đẩy mạnh phong trào thi đua “ dạy tốt, học tốt” trong nhà trường. 4.1.Đổi mới phương pháp dạy của giáo viên: a. Xác định rõ mục tiêu của đổi mới phương pháp dạy học là nhằm phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động sáng tạo của học sinh, bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức của học sinh. b. Chỉ đạo từng nhóm chuyên môn, tổ chuyên môn có kế hoạch và yêu cầu cụ thể của việc đổi mới phương pháp dạy học trên cơ sở thống nhất về nhận thức, giáo viên tự đăng ký đề ra mục tiêu, có kế hoạch cụ thể cho cá nhân. c. Cung cấp kịp thời những điều chỉnh, đổi mới về chương trình, nội dung và phương pháp dạy học của ngành, của Sở giáo dục tới giáo viên nhà trường. d. Tổ chức dạy học rút kinh nghiệm theo chủ đề: Đổi mới phương pháp dạy một số tiết bài tập, phương pháp dạy một bài có thí nghiệm minh họa, phương pháp dạy một tiết ôn tập ... Sau đó cần phân tích sư phạm kỹ lưỡng, rút ra các bài học bổ ích, những điều nên tránh và phổ biến trong phạm vi cần thiết. e. Tổ chức kiểm tra dự giờ của các giáo viên có năng lực chuyên môn hạn chế, học sinh phản ánh là khó hiểu, tìm ra nguyên nhân, điểm yếu để khắc phục. f. Làm tốt công tác tư tưởng với những giáo viên còn ngại khó hoặc tinh thần trách nhiệm chưa cao, có các biện pháp thích hợp nhằm động viên kích thích và nâng cao ý thức vươn lên trong chuyên môn của họ. g. Có nhiều hình thức giao lưu, trao đổi kinh nghiệm với các trường bạn: Mời các giáo viên giỏi của trường Chuyên về giảng dạy, giao lưu tại trường. Tổ chức cho giáo viên đi tham quan học hỏi các trường ngoài tỉnh và học tập tại nước ngoài, sử dụng có hiệu quả các đồ dùng dạy học, khuyến khích các giáo viên sử dụng các thiết bị công nghệ cao để soạn giảng tạo hứng thú cho học sinh trong giờ học (giáo án điện tử). 4.2. Đổi mới phương pháp học tập của học sinh: a. Tổ chức hướng dẫn phương pháp học tập cho học sinh. Thường là học sinh rất lúng túng trong khi xác định phương pháp học tập cho mình. Cần phải chỉ rõ cho học sinh 2 nội dung quan trọng trong phương pháp học tập. - Phương pháp học tập trên lớp: cần phải tập trung cao độ vào việc nghe giảng để hiểu rõ nội dung bài, mạnh dạn tham gia xây dựng bài, không nên quá tập trung vào việc ghi bài mà việc nghe giảng bị gián đoạn dẫn đến không hiểu bài (nhiều học sinh chỉ ra sức ghi chép bài mà không chú ý phần giảng giải của giáo viên). - Phương pháp học tập ở nhà: Có 2 bước quan trọng: + Bước 1: Xem lại bài giảng trên lớp, tìm hiểu rõ nội dung và nhớ nội dung cơ bản của bài học. + Bước 2: Vận dụng nội dung ấy để trả lời câu hỏi cuối sách giáo khoa, làm các bài tập trong sách giáo khoa, sách bài tập rồi đến các bài trong sách nâng cao nếu có khả năng và nhu cầu. Các em học sinh giỏi thực hiện rất tốt hai nội dung trên của phương pháp học tập đặc biệt chú trọng phương pháp học ở nhà. Các em học sinh kém thường bỏ qua việc học ở nhà, hoặc học bài ở nhà thì bỏ qua bước 1, dẫn đến nắm kiến thức một cách hời hợt, không bản chất. Việc vận dụng kiến thức để trả lời câu hỏi và làm bài tập khiến cho việc hiểu bài phiến diện , lệch lạc và chóng quên. - Một điểm then chốt nữa trong phương pháp học tập là phải học thường xuyên, đều đặn tất cả các bài trong chương trình vì kiến thức là một hệ thống hoàn chỉnh, nếu học sinh học đối phó, chỉ học khi bị kiểm tra thì kiến thức không đầy đủ và hệ thống, dẫn đến không có cơ sở để tiếp thu những kiến thức tiếp theo. - Thường là học sinh không hiểu những điểm cơ bản như trên, nhiều em cứ nghĩ phương pháp học tập là cách gì thật độc đáo, không quan niệm rằng đó là những điều rất thông thường nhưng đòi hỏi người học cần phải có ý chí và nghị lực, kiên trì thực hiện đầy đủ các bước và công việc cần thiết. b. Tổ chức Hội nghị học tốt, sinh hoạt chuyên đề về phương pháp học tập, quy mô từng lớp và toàn trường. Điều quan trọng là sau đó phải tổng kết, rút ra những phương pháp hay, dễ áp dụng, có hiệu quả để phổ biến, yêu cầu các lớp tổ chức học tập và vận dụng. c. Cần phân tích, giảng giải và ngăn chặn việc quay cóp, không trung thực trong học tập. Đồng thời cần phải chống học lệch, chỉ học các môn thi đại học. d. Lắng nghe những đề xuất, kiến nghị của học si

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • doctieu_luan_ql_thuy_9494.doc
Tài liệu liên quan