Đề tài Nghiên cứu công nghệ chuyển mạch nhãn MPLS và đề xuất các kiến nghị áp dụng công nghệ MPLS trong mạng thế hệ mới NGN của Tổng công ty bưu chính viễn thông Việt Nam

MỤC LỤC

MỤC LỤC 2

LỜI GIỚI THIỆU 4

TỪ VIẾT TẮT 5

CHƯƠNG I. CƠ SỞ CÔNG NGHỆ MPLS 6

I.1. Lịch sử phát triển MPLS 6

I.2. Quá trình tiêu chuẩn hoá MPLS 9

I.2.1. IP over ATM 9

I.2.2. Toshiba's CSR 10

I.2.3. Cisco's Tag Switching 10

I.2.4. IBM's ARIS and Nortel's VNS 10

I.2.5. Công việc chuẩn hoá MPLS 10

I.3. Nhóm làm việc MPLS trong IETF 11

I.3.1. Internet-Drafts: 12

CHƯƠNG II. CÁC KHÍA CẠNH KỸ THUẬT MPLS 13

II.1. Khái niệm MPLS 13

II.1.1. Khái quát MPLS 13

II.1.2. MPLS và các thành phần trong MPLS 15

II.2. Các hoạt động trong mạng MPLS 36

II.3. Các giao thức sử dụng trong MPLS 37

II.3.1. Giới thiệu chung 37

II.3.2. Các giao thức định tuyến 37

II.3.3. Giao thức phân phối nhãn LDP 37

II.4. Chất lượng dịch vụ trong MPLS 38

II.4.1. Các dịch vụ tích hợp và RSVP 39

II.4.2. Các dịch vụ khác 41

II.4.3. Khai báo tắc nghẽn thẳng 41

II.5. Quản lý lưu lượng trong MPLS 41

II.6. Bảo mật trong MPLS 41

II.7. Các ứng dụng của MPLS 41

II.7.1. Cải thiện chất lượng gửi chuyển tiếp gói tin trong mạng 41

II.7.2. Hỗ trợ QoS và CoS cho các dịch vụ khác nhau 41

II.7.3. Hỗ trợ khả năng mở rộng mạng 41

II.7.4. Tích hợp IP và ATM trong mạng 41

II.7.5. Xây dựng các mạng interoperable 41

CHƯƠNG III. ỨNG DỤNG MPLS TRONG MẠNG VPN 41

III.1. Giới thiệu về MPLS trong VPN 41

III.2. Các bộ định tuyến ảo trong MPLS VPN 42

III.3. Các mục tiêu của MPLS VPN 43

III.4. Những yêu cầu về kiến trúc MPLS VPN 44

III.5. Phác thảo về kiến trúc MPLS VPN 44

III.6. MPLS đóng vai trò cơ chế gửi chuyển tiếp 46

III.7. Cấu hình MPLS VNP có thể mở rộng 49

III.8. Nhận biết các bộ định tuyến lân cận động trong MPLS VPN 49

Cấu hình miền VPN IP 50

III.10. Ví dụ về phương pháp nhận biết các bộ định tuyến lân cận 51

III.11. Gửi chuyển tiếp trong MPLS VPN 52

III.11.1. LSP cá nhân 52

III.11.2. LSP công cộng hiệu quả cao 52

III.12. Các dịch vụ khác nhau trong MPLS VPN 53

III.13. Vấn đề bảo mật trong MPLS VPN 53

III.13.1. Bảo mật định tuyến 53

III.13.2. Bảo mật dữ liệu 53

III.13.3. Bảo mật cấu hình 53

III.13.4. Bảo mật mạng vật lý 54

III.14. Giám sát bộ định tuyến ảo trong MPLS VPN 54

III.15. Hỗ trợ QoS trong MPLS VPN 54

III.16. Xem xét về chất lượng trong MPLS VPN 58

CHƯƠNG IV. GIẢI PHÁP MPLS CỦA MỘT SỐ HÃNG 59

CHƯƠNG V. KHUYẾN NGHỊ VỀ KHẢ NĂNG ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ MPLS TRONG MẠNG NGN CỦA TỔNG CÔNG TY BCVT VIỆT NAM 59

CHƯƠNG VI. KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 59

TÀI LIỆU THAM KHẢO 60

 

 

doc70 trang | Chia sẻ: maiphuongdc | Ngày: 03/12/2013 | Lượt xem: 1054 | Lượt tải: 8download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đề tài Nghiên cứu công nghệ chuyển mạch nhãn MPLS và đề xuất các kiến nghị áp dụng công nghệ MPLS trong mạng thế hệ mới NGN của Tổng công ty bưu chính viễn thông Việt Nam, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
này này tốt hơn Nó có thể xắp xếp một cách đơn giản m nhãn vào một tập con n nhãn của Rd, nếu nó co óhể quyết định điều này sẽ thực hiện việc định tuyến tương tự. Ví dụ, cho rằng Ru sử dụng một nhãn đơn cho tất cả các lưu lượng tới một LSR lối ra trong khi Rd kết hợp một số nhãn khác nhau cho lưu lượng này dựa theo các địa chỉ đích khác nhau của các gói tin. Nếu Ru biết địa chỉ của bộ định tuyến lối ra và nếu Ru đã kết hợp một nhãn cho một FEC mà nó được nhận dạng nhờ địa chỉ đó thì sau đó Ru có thể áp sử dụng nhãn đó một cách đơn giản. Trong bất cứ trường hợp nào, tất cả các LSR cần phải biết độ mịn sử dụng cho các nhãn được ấn định. Khi điều khiển theo chỉ dẫn được sử dụng, điều này đòi hỏi mỗi nút phải biết độ mịn cho FEC mà nó thoát khỏi mạng MPLS tại nút đó. Với điều khiển độc lập, các kết quả tốt nhất có thể thu được nhờ việc đảm bảo rằng tất cả các LSR được cấu hình một cách phù hợp để biết độ mịn cho mỗi FEC. Tuy nhiên trong nhiều trường hợp điều này có thể thực hiện được bằng việc sử dụng một mức mịn áp dụng cho tất cả các FEC. Lựa chọn tuyến Lựa chọn tuyến ám chỉ phương pháp sử dụng cho việc lựa chọn LSP cho một FEC cụ thể. Kiến trúc giao thức MPLS đề xuất hỗ trợ hai khả năng cho lựa chọn tuyến: (1) định tuyến hop-by-hop và (2) định tuyến thẳng. Định tuyến hop-by-hop cho phép mỗi nút lựa chọn một cách độc lập hop tiếp theo cho mỗi FEC. Đây là phương pháp thông thường hiện nay trong các mạng IP hiện có. Một LSP được định tuyến theo phương pháp hop-by-hop là một LSP mà tuyến đường của nó được lựa chọn theo phương pháp định tuyến hop-by-hop. Trong LSP được định tuyến theo phương pháp định tuyến thẳng, mỗi LSR không lựa chọn độc lập hop tiếp theo. Đúng hơn là một LSR thường là LSP lối vào hoặc LSP lối ra sẽ chỉ định một vài(hoặc tất cả) các LSR trong LSP. Nếu một LSR chỉ định toàn bộ LSP, LSP là định tuyến thẳng hoàn toàn. Còn nếu LSR chỉ định một vài LSR trong LSP thì LSP là định tuyến thẳng không hoàn toàn. Dãy các LSR trong LSP định tuyến thảng có thể được chọn nhờ cấu hình hoặc có thể được lựa chọn động nhờ một nút đơn (ví dụ nút lối ra có thể tận dụng thông tin cấu hình topo thu được từ cơ sở dữ liệu trạng thái đường liên kết để tính toán toàn bộ tuyến đường cho một cấu trúc cây kết thúc tại nút lối ra) Việc định tuyến thẳng có thể hữu ích cho một số mục đích, như định tuyến chính sách hoặc phân tích lưu lượng. Trong MPLS, định tuyến thẳng cần phải được xác định tại thời điểm mà các nhãn đó được ấn định, nhưng tuyến đường thẳng không nhất thiết phải được chỉ rõ với mỗi gói tin IP. Điều này làm cho việc định tuyến thẳng MPLS hiệu quả hơn với cách định tuyến IP truyền thống. Thiếu nhãn lối ra Khi một gói tin đang di chuyển dọc theo một LSP, thỉnh thoảng có thể xảy ra trường hợp nó tới LSR mà ILM không xắp xếp nhãn lối vào của gói tin vào NHLFE, cho dù là nhãn lối vào là hợp lệ. Điều này xảy ra là do điều kiện hiện tại, hoặc do một lỗi tại LSR mà nó có thể là hop tiếp theo của gói tin. Trong trường hợp này nên bỏ toàn bộ tập nhãn và cố gắng gửi chuyển tiếp gói tin đi xa hơn thông qua việc gửi chuyển tiếp truyền thống, dựa trên mào đầu gói tin lớp mạng. Tuy nhiên, nó chung đây không phải là một thủ tục an toàn: Nếu gói tin theo một LSP được định tuyến thẳng, điều này có thể gây ra lặp Mào đầu lớp mạng của gói tin có thể không đủ thông tin để cho phép LSR gửi chuyển tiếp nó một cách chính xác. Trừ khi nó có thể quyết định rằng không có hai tình huống như trên xảy ra, thủ tục an toàn duy nhất là loại bỏ gói tin. Thời gian sống (TTL) Trong gửi chuyển tiếp IP truyền thống, mỗi gói tin mang một giá trị TTL trong mào đầu của nó. Bất cứ khi nào một gói tin đi qua một bộ định tuyến, giá trị TTL của nó giảm 1; nếu TTL tiến tới 0 trước khi gói tin tới đích, gói tin sẽ bị loại bỏ. Điều này cung cấp một vài mức bảo vệ chống lại hiện tượng lặp trong gửi chuyển tiếp mà nó có thể tồn tại do cấu hình sai, hoặc do lỗi hoặc sự hội tụ quá chậm của thuật toán định tuyến. TTL thỉnh thoảng cũng dược sử dụng cho các chức năng khác, như phạm vi áp dụng multicast, và hỗ trợ lệnh “traceroute”. Điều này ngụ ý là ở đây có hai vấn đề liên quan đến TTL mà MPLS phải giải quyết: (1) TTL làmột cách để chặn hiện tượng lặp; (2) TTL là một cách để thực hiện các chức năng khác, như giới hạn phạm vi của gói tin. Khi một gói tin di chuyển dọc theo LSP, nó có giá trị TTL tương tự như khi nó di chuyển theo dãy các bộ định tuyến như vậy không theo phương thức chuyển mạch nhãn. Nếu gói tin di chuyển dọc theo một hệ thống phân cấp của các LSP, tổng số của các hop LSR được truyền qua sẽ phản ánh trong giá trị TTL khi nó ra khỏi hệ thống phân cấp của các LSP. Cách mà TTL được xử lý có thể biến đổi phụ thuộc vào liệu các giá trị nhãn MPLS được mang trong một mào đầu chèn thêm MPLS [MPLS-SHIM] hay là các nhãn MPLS được mang trong mào đầu L2 như mào đầu ATM[MPLS-ATM] hoặc mào đầu FrameRelay[MPLS-FRMRLY] Nếu các giá trị nhãn được mã hoá trong mào đầu mở rộng mà nó nằm giữa mào đầu lớp liên kết dữ liệu và mào đầu lớp mạng. Mào đầu mở rộng này phải có trường TTL mà nó có thể được nạp ban đầu từ trường TTL trongmào đầu lớp mạng, phải được giảm giá trị tại mỗi hop LSR và phải được sao chép vào trường TTL trong mào đầulớp mạng khi gói tin ra khỏi LSP. Nếu giá trị nhãn được mã hoá trong mào đầu lớp liên kết dữ liệu (ví dụ trường VPI/VCI trong mào đầu AAL5 của ATM), và các gói tin dán nhãn được gửi chuyển tiếp bằng tổng đài L2 (ví dụ tổng đài ATM), và lớp liên kết dữ liệu(lớp ATM) không có trường TTL tại mỗi hop thì khi đó nó sẽ không thể giảm giá trị TTL tại mỗi hop. Một đoạn LSP bao gồm một dãy các LSR không có khả năng giảm TTL của gói tin sẽ gọi là đoạn LSP non-TTL. Khi một gói tin thoát khỏi đoạn LSP non-TTL, nó được đưa một giá trị TTL phản ánh số hop LSR mà nó đi qua. Trong trường hợp unicast, điều này có thể đạt được bằng việc truyền độ dài LSP tới nút lối vào, cho phép nút lối vào giảm giá trị TTL trước khi gửi chuyển tiếp gói tin vào đoạn LSP non-TTL. Đôi khi nó có thể được quyết định, trong lúc đi từ lối vào tới đoạn LSP non-TTL, rằng TTL của một gói tin cụ thể sẽ hết hiêu lực trước khi gói tin tới được lối ra của đoạn LSP non-TTL đó. Trong trường hợp này, LSR tại lối vào đoạn LSP non-TTL không được chuyển mạch nhãn gói tin. Điều này có nghĩa là các thủ tục đặt biệt phải được phát triển để hỗ trợ traceroute theo chức năng, ví dụ, các gói tin traceroute có thể được gửi chuyển tiếp sử dụng việc gửi chuyển tiếp hop by hop truyền thống. Điều khiển lặp Trong một đoạn LSP non-TTL, theo như việc định nghĩa, TTL không thể được sử dụng để bảo vệ khỏi hiện tượng lặp trong gửi chuyển tiếp. Tầm quan trọng của việc điều khiển lặp có thể phụ thuộc vào phần cứng đang được sử dụng để cung cấp các chức năng LSR dọc theo đoạn LSP non-TTL Cho rằng phần cứng chuyển mạch ATM đang được sử dụng để cung cấp các chức năng chuyển mạch MPLS, với một nhãn đang được mang trong trường VPI/VCI. Do phần cứng chuyển mạch ATM không thể giảm giá trị TTL, ở đây không có bảo vệ chống lại hiện tượng lặp. Nếu phần cứng ATM có khả năng cung cấp quyền truy nhập công bằng tới bộ đệm cho các tế bào lối vào mang các giá trị VPI/VCI khác nhau, hiện tượng lặp này có thể gây ra những ảnh hưởng có hại với các lưu lượng khác. Nếu phần cứng ATM không thể cung cấp khả năng truy cập bộ đệm công bằng loại này, thì thậm chí các vòng lặp ngắn cũng có thể gây ra sự giảm sút nhanh chóng về toàn bộ chất lượng của các LSR. Cho dù là khả năng truy cập bộ đệm công bằng có thể được cung cấp, vẫn chẳng đáng giá chỉ để có một vài phương tiện phát hiện các vòng lặp diễn ra lâu hơn mức cho phép. Tất cả các LSR gắn liền với các đoạn LSP non TTL bởi vậy đòi hỏi hỗ trợ công nghệ cho việc phát hiện lặp, tuy nhiên sử dụng công nghệ phát hiện lặp là tuỳ chọn. Mã hoá nhãn Để truyền tập nhãn theo gói tin, cần phải định nghĩa một phương thức mã hoá cụ thể của tập nhãn. Kiến trúc hỗ trợ một vài cộng nghệ mã hoá, lựa chọn công nghệ nào phụ thuộc vào loại thiết bị được sử dụng để gửi chuyển tiếp gói tin. Phần mềm, phần cứng tuân thủ MPLS Nếu sử dụng phần cứng và mềm MPLS để gửi chuyển tiếp gói tin dán nhãn, một cách để mã hóa tập nhãn là định nghĩa một giao thức mới được sử dụng như phần đệm giữa mào đầu lớp liên kết dữ liệu và mào đầu lớp mạng. Phần đệm này sẽ là phần tóm lược của gói tin lớp mạng. Chúng ta sẽ đề cập nó là “Generic MPLS Encapsulation” và được mô tả rõ trong [MPLS-SHIM] Các tổng đài ATM đóng vai trò các LSR Chú ý rằng các thủ tục gửi chuyển tiếp MPLS tương tự như các thủ tục trong tổng đài chuyển mạch nhãn như tổng đài ATM. Các tổng đài ATM sử dụng cổng lối vào và giá trị VPI/VCI như là chỉ số vào bảng “đấu nối chéo”, từ đó chúng có thể thu được cổng lối ra và các giá trị VPI/VCI lối ra. Do đó nếu một hoặc nhiều nhãn được mã hoá trực tiếp vào các trường mà chúng có thể được các tổng đài này (với phần mềm nâng cấp phù hợp) truy cập, và sau đó các tổng đài này có thể được sử dụng như các LSR. Chúng ta gọi những thiết bị này là “ATM-LSR” Có một vài cách để mã hoá các nhãn trong mào đầu tế bào ATM (sử dụng AAL5): Mã hoá SVC: sử dụng trường VPI/VCI để mã hoá nhãn trên cùng của tập nhãn. Công nghệ này có thể được sử dụng trong bất cứ mạng nào. Với công nghệ mã hoá này, mỗi LSP được xem như là ATM SVC, và giao thức phân phối nhãn trở thành giao thức báo hiệu ATM. Với công nghệ mã hoá này, ATM-LSR không thi hành các hoạt động đẩy vào, đẩy ra trong tập nhãn. Mã hoá SVP: Sử dụng trường VPI để mã hoá nhãn trên cùng của tập nhãn, và VCI để mã hoá nhãn thứ hai của tập nhãn, nếu nó đang có mặt. Công nghệ này có một vài ưu điểm so với công nghệ trên, nó chấp nhận sử dụng ATM “VP-switching”. Do đó, LSP được xem như là ATM SVP và giao thức phân phối nhãn được xem như giao thức báo hiệu ATM . Tuy nhiên, công nghệ này không thể sử dụng thường xuyên, nếu mạng bao gồm một đường ảo ATM qua mạng ATM không áp dụng MPLS, khi đó trường VPI không dùng được cho MPLS. Khi công nghệ mã hoá này được sử dụng, ATM-LSR tại lối ra của VP thi hành hoạt động đẩy nhãn một cách hiệu quả. Mã hoá đa điểm SVP: Sử dụng trường VPI để mã hoá nhãn trên cùng trong tập nhãn, sử dụng một phần của trường VCI để mã hoá nhãn thứ 2 trong tập nhãn và sử dụng phần còn lại của trường VCI để định nghĩa LSP lối vào. Nếu công nghệ này được sử dụng, các khả năng chuyển mạch VP ATM truyền thống có thể được sử dụng để cung cấp các VP Multipoint-to-point. Các tế bài từ các gói tin khác nhau sẽ mang các giá trị VCI khác nhau. Như chúng ta sẽ thấy trong phần 25, điều này cho phép chúng ta thực hiện việc hợp nhất nhãn mà không gặp phải vấn đề chèn tế bào, trong các tổng đài ATM, chúng có thể cung cấp các VP multipoint-to-point, nhưng nó không có khả năng hợp nhất VC. Công nghệ này phụ thuộc vào sự tồn tại của khả năng cho việc ấn định các giá trị VCI 16 bit vào mỗi tổng đài ATM như vậy không có giá trị VCI đơn được ấn định cho hai tổng đài khác nhau. (Nếu một số thích hợp các giá trị như vậy có thể được ấn định cho mỗi tổng đài, nó có thể cũng xem giá trị VCI như nhãn thứ hai trong tập nhãn.) Nếu có nhiều nhãn trong tập nhãn hơn có thể được mã hoá trong mào đầu ATM, Các phương thức mã hoá ATM phải được kết hợp với “generic encapsulation” Các hoạt động tương hỗ trong các công nghệ mã hoá Nếu là một phân đoạn của LSP, Có thể R1 sẽ sử dụng dụng một công nghệ để mã hoá tập nhãn khi truyền gói tin P tới R2, nhưng R2 sẽ sử dụng một phương thức mã hoá khác khi truyền gói tin P tới R3. Nói chung, kiến trúc MPLS hỗ trợ các LSP với các phương thức mã hoá tập nhãn khác nhau được sử dụng trong các hop khác nhau. Do đó, khi chúng ta thảo luận về các thủ tục cho việc xử lý một gói tin dán nhãn, chúng ta nói đến thuật ngữ viết tắt của hoạt động trên tập nhãn của gói tin. Khi một gói tin dán nhãn được nhận., LSR phải giải mã nó để quyết định giá trị hiện thời của tập nhãn, sau đó phải tiến hành xử lý trên tập nhãn để quyết định giá trị mới của tập nhãn, và sau đó mã hoá giá trị mới một cách thích hợp trước khi truyền gói tin đến hop tiếp theo. Không may là các tổng đài ATM không có khả năng biên dịch từ một công nghệ mã hoá này sang công nghệ mã hoá khác. Kiến trúc MPLS bởi vậy đỏi hỏi bất cứ lúc nào khi hai tổng đài ATM có thể là hai LSR liên tiếp dọc theo LSP mức m của một vài gói tin thì chúng phải sử dụng cùng một công nghệ mã hoá. Ở đây sẽ có các mạng MPLS bao gồm sự kết hợp của các tổng đài ATM hoạt động như các LSR, và các LSR khác hoạt động sử dụng mào đầu chèn thêm MPLS. Trong một mạng như vậy, có thể có một vài LSR có các giao diện ATM cũng như giao diện MPLS SHIM. Đây là một ví dụ về một LSR với các cách mã hoá tập nhãn khác nhau trong các hop khác nhau. Một LSR như vậy có thể đổi tập nhãn được mã hoá ATM tại giao diện lối vào và thay thế bằng tập nhãn mã hoá mào đầu chèn thêm MPLS tại giao diện lối ra. Hợp nhất nhãn Xem rằng một LSR kết hợp các nhãn lối vào với một FEC cụ thể. Khi gửi chuyển tiếp các gói tin trong FEC đó, nó muốn có một nhãn lối ra được áp dụng cho tất cả các gói tin đó. Sự thật là hai gói tin khác nhau trong một FEC đến với hai nhãn lối vào khác nhau là không liên quan tới nhau; mà lại muốn gửi chuyến tiếp chúng với cùng nhãn lối ra như nhau. Khả năng để thực hiện việc này được gọi là “hợp nhất nhãn” Một LSR có khả năng hợp nhất nhãn nếu nó có thể nhận được hai gói tin từ hai giao diện lối vào khác nhau với các nhãn khác nhau, và gửi cả hai gói tin ra cùng một giao diện lối ra với nhãn giống nhau. Một khi các gói tin được truyền, thông tin mà chúng nhận từ các giao diện khác nhau với nhãn lối vào khác nhau sẽ bị mất. Một LSR không có khả năng hợp nhất nhãn nếu có hai gói tin bất kỳ đến từ các giao diện khác nhau, hoặc với các nhãn khác nhau, thì các gói tin phải hoặc là được truyền ra các giao diện khác nhau hoặc phải có các nhãn khác nhau. ATM-LSR sử dụng phương thức mã hoá SVC hoặc SVP không có khả năng hợp nhất nhãn. Điều này sẽ được thảo luận chi tiết hơn trong phần sau. Một LSR không thể thi hành việc hợp nhất nhãn nếu hai gói tin trong cùng một FEC tới với các nhãn lối vào khác nhau, chúng phải được gửi chuyển tiếp với các nhãn lối ra khác nhau. Với việc hợp nhất nhãn, số nhãn lối ra cho mỗi FEC chỉ là 1. Nếu không có hợp nhất nhãn, số nhãn lối ra cho mối FEC có thể bằng với số nút trong mạng. Với việc hợp nhất nhãn, số nhãn lối vào cho mỗi FEC mà một LSR cần không bao giờ lớn hơn số LSR phân phối nhãn kế cận. Không có hợp nhất nhãn, số nhãn lối vào cho mỗi FEC mà một LSR cần bằng số nút ngược mà chúng gửi lưu lượng trong FEC tới LSR. Trong thực tế, một LSR thậm chí khó có thể quyết xem có bao nhiêu nhãn mà nó phải hỗ trợ cho một FEC. Kiến trúc MPLS cung cấp cả các LSR hợp nhất và không hợp nhất nhãn nhưng sự thật là nó cho phép có thể có LSR không hỗ trợ kết hợp nhãn. Điều này dẫn đến vấn đề về việc bảo đảm hoạt động chính xác giữa các LSR kết hợp nhãn và các LSR không kết hợp nhãn. Vấn đề này có phần nào khác nhau trong trường hợp của truyền gói tin trong trường hợp của ATM. Các loại truyền thông khác nhau vì thế sẽ được thảo luận riêng rẽ. Các LSR không hợp nhất nhãn Các thủ tục gửi chuyển tiếp MPLS tương tự như các thủ tục gửi chuyển tiếp được sử dụng bằng các công nghệ như ATM, Frame Relay. Tức là, khi một đơn vị dữ liệu tới, một nhãn (VPI/VCI hoặc DLCI) được tìm kiếp trong bảng đấu nối chéo, dựa trên những cơ sở của việc tìm kiếm, cổng lối ra được lựa chọn, và giá trị nhãn mới được ghi lại. Trong thực tế, có thể sử dụng những công nghệ như vậy cho việc gửi chuyển tiếp MPLS; Một giao thức phân phối nhãn có thể được sử dụng như giao thức báo hiệu cho việc thiết lập các bảng đấu nối chéo. Không may là những công nghệ này không hỗ trợ đủ mức cần thiết cho khả năng hợp nhất nhãn. Trong ATM, nếu cố gắng thi hành việc hợp nhất nhãn, kết quả có thể là hiện tượng chèn tế bào từ rất nhiều các gói tin khác nhau. Nếu các tế bào từ các gói tin khác nhau bị chèn, không thể tập hợp lại gói tin. Một vài tổng đài Frame Relay sử dụng chuyển mạch tế bào. Những tổng đài này cũng không thể hỗ trợ việc hợp nhất nhãn, cho cùng một lí do như vậy, các tế bào của các gói tin khác nhau có thể bị chèn, và không có cách nào để tập hợp lại gói tin. Chúng ta có hai giải pháp để giải quyết vấn đề này. Thứ nhất, MPLS sẽ gồm các thủ tục cho phép sử dụng các LSR không hợp nhất nhãn. Thứ hai, MPLS sẽ hỗ trợ các thủ tục cho phép các tổng đài ATM thi hành chức năng như một LSR có khả năng hợp nhất nhãn. Từ khi MPLS hỗ trợ cả LSR hợp nhất và không hợp nhất nhãn, MPLS bao gồm các thủ tục để đảm bảo hoạt động chính xác giữa chúng. Các nhãn cho các LSR hợp nhất và không hợp nhất nhãn Một LSR ngược hỗ trợ việc hợp nhất nhãn cần phải gửi một nhãn cho một FEC. Một ngược lân cận không hỗ trợ việc hợp nhất nhãn cần phải gửi nhiều nhãn cho một FEC. Tuy nhiên, không có cách nào biết được trước bao nhiêu nhãn nó cần. Điều này phụ thuộc xem có bao nhiêu LSR là LSR ngược của nó trong khía cạnh FEC đang được bàn đến. Trong kiến trúc MPLS, nếu LSR ngược lân cận không hỗ trợ hợp nhất nhãn, nó không được gửi bất cứ nhãn nào cho một FEC cụ thể trừ khi nó yêu cầu thẳng một nhãn cho FEC đó. LSR ngược lân cận có thể đưa ra một vài yêu cầu như vậy, và nhận được một nhãn mới cho mỗi lần. Khi một LSR xuôi lân cận nhận được một yêu cầu như vậy từ LSR ngược, và LSR xuôi lân cận không hỗ trợ khả năng hợp nhất nhãn, sau đó nó phải hỏi trở lại LSR ngược lân cận của nó cho nhãn khác cho FEC đang được bàn đến. Có thể có một vài nút hỗ trợ hợp nhất nhãn, nhưng chỉ có thể hợp nhất một số giới hạn các nhãn lối vào thành một nhãn đơn lối ra. Ví dụ vì một vài giới hạn của phần cứng mà một nút có khả năng hợp nhất bốn nhãn lối vào thành một nhãn lối ra. Giả định rằng nút này có 6 nhãn tới nó cho cùng một FEC. Trong trường hợp này nút này có thể hợp nhất chúng thành hai nhãn lối ra. Việc hợp nhất nhãn có thể được áp dụng cho các LSP định tuyến thẳng hay không dành cho các nghiên cứu sâu hơn. Hợp nhất nhãn qua ATM Các phương thức loại bỏ hiện tượng chèn tế bào Ở đây có một vài phương thức có thể được sử dụng để loại bỏ hiện tượng chèn tế bào trong ATM, do đó cho phép các tổng đài ATM hỗ trợ việc hợp nhất nhãn: Hợp nhất VP, sử dụng mã hoá đa điểm SVP Khi hợp nhất VP được sử dụng, các đường ảo được hợp nhất vào một đường ảo, nhưng các gói tin từ các nguồn khác nhau được phân biệt bằng việc sử dụng các VCI khác nhau trong cùng một VP Hợp nhất VC Khi hợp nhất VC được sử dụng, các tổng đài đòi hỏi phải giữ các tế bào từ một gói tin cho đến khi toàn bộ gói tin được nhận (điều này có thể được quyết định nhờ việc tìm kiếm chỉ số end of frame AAL2.) Hợp nhất VP có ưu điểm là nó tương thích nhiều hơn với các tổng đài ATM đang sử dụng. Điều này làm nó có khả năng được sử dụng trong mạng hiện thời. Không giống như hợp nhất VC, hợp nhất VP không bị bất cứ trễ nào tại điểm hợp nhất và cũng không đòi hỏi phải dùng bộ đệm. Tuy nhiên, nó có nhược điểm là nó đòi hỏi sự xắp xếp các không gian VCI trong cùng một VP. Có một số cách mà điều này có thể được thực hiện. Lựa chọn một hay nhiều phương thức được dành cho những nghiên cứu sâu hơn. Việc cân bằng giữa khả năng tương thích với các thiết bị đang sử dụng với giao thực phức tạp và có khả năng mở rộng ngụ ý rằng điều này đòi hỏi giao thức MPLS hỗ trợ cả khả năng hợp nhất VP và VC. Để làm được như vậy, mỗi tổng đài ATM góp phần trong MPLS cần phải biết liệu tổng đài ATM lân cận thi hành việc hợp nhất VP và VC ngay lập tức hay không hợp nhất. Phối hợp hoạt động: Hợp nhất VC, hợp nhất VP, không hợp nhất Phối hợp hoạt động của các dạng hợp nhất qua ATM được mô tả một cách đơn giản bằng việc miêu tả phối hợp hoạt động của hợp nhất VC với không hợp nhất. Trong trường hợp tại các nút hợp nhất VC và không hợp nhất được kết nối với nhau, việc gửi chuyển tiếp các tế bào dựa trên tất cả các trường hợp trên một VC (ví dụ sự móc nối của VPI và VCI). Với mỗi nút, nếu một LSR ngược lân cận đang thi hành việc hợp nhất VC sau đó LSR ngược lân cận đó yêu cầu chỉ một VPI/VCI đơn cho một luồng (điều này tương tự với yêu cầu cho một nhãn đơn trong trường hợp hoạt động qua các phương tiện truyền thông dùng khung truyền). Nếu LSR ngược lân cận không thực hiện việc hợp nhất, sau đó LSR ngược lân cận sẽ yêu cầu một VPI/VCI cho một luồng , cộng với số VPI/VCI đủ để chuyển nó cho các LSR ngược lân cận. Con số được yêu cầu sẽ được quyết định bằng việc cho phép các nút LSR ngược yêu cầu các VPI/VCI từ các LSR xuôi lân cận (điều này một lần nữa tương tự như các phương thức được sử dụng trong việc hợp nhất khung) Một phương thức tương tự có thể hỗ trợ các nút thi hành việc hợp nhất VP. Trong trường hợp này nút hợp nhất VP, yêu cầu một VPI/VCI hoặc một số VPI/VCI từ LSR xuôi lân cận, thay vì có thể yêu cầu một VP (được xác định bằng một VPI) nhưng một vài VCI trong VP. Hơn nữa, cho rằng nút không thi hành việc hợp nhất là LSR xuôi của hai nút khác nhau hỗ trợ việc hợp nhất VP. Nút này có thể yêu cầu một VPI/VCI(cho lưu lượng xuất phất từ nó) cộng với hai VP (một VP cho mỗi nut ngược), mỗi VP kết hợp với một tập các VCI (như được yêu cầu từ nút ngược) Để hỗ trợ tất cả việc hợp nhất VP, VC và không hợp nhất, bởi vậy cần phải cho phép các nút ngược yêu cầu kết hợp 0 hoặc các VCI, cộng với 0 hoặc các VP (xác định bằng VPI), mỗi VP bao gồm một số các VC (được xác định bằng một tập các VCI mà chúng có ý nghĩa trong một VP). Các nút hợp nhất VP bởi vậy yêu cầu một VP, với một VCI trong đó cho lưu lượng mà nó sinh ra cộng với một VCI cho mỗi VC yêu cầu ở trên. Nút hợp nhất VC sẽ yêu cầu chỉ một VPI/VCI (từ khi chúng có thể hợp nhất tất lưu lượng upstream vào một VC). Các nút không hợp nhất sẽ chuyển tiếp bất cứ yêu cầu nào mà nó nhận được ở trên, cộng với yêu cầu một VPI/VCI cho lưu lượng mà nó sinh ra (nếu thích hợp). Các đường ngầm và hệ thống phân cấp Đôi khi một bộ định tuyến thi hành Các hoạt động trong mạng MPLS Các hoạt động sau phải được thi hành cho việc chuyển gói tin qua mạng MPLS Tạo nhãn và phân phối nhãn Tạo bảng cho mỗi bộ định tuyến Tạo đường chuyển mạch nhãn LSP Tìm kiếm bảng nhãn, vị trí dán nhãn. Gửi chuyển tiếp nhãn Các giao thức sử dụng trong MPLS Giới thiệu chung Các giao thức định tuyến OSPF IS-IS RIP IRGP BGP PNNI Giao thức phân phối nhãn LDP Tiêu chuẩn kỹ thuật tuân thủ LDP là một nhóm thiết kế đại diện cho rất nhiều nhà cung cấp thiết bị, được thành lập sau cuộc họp lần thứ hai của nhóm làm việc MPLS.Như chúng ta thấy rằng kiến trúc MPLS dựa trên mô hình điều khiển, kết quả là LDP dựa trên sự hợp nhất của hai giao thức TDP và ARIS. LDP có các tính chất cơ bản như sau: Cung cấp cơ chế nhận biết LSR cho phép các LSR ngang cấp tìm kiếm nhau và thiết lập kết nối. Định nghĩa bốn lớp bản tin: Các bản tin DISCOVERY Các bản tin ADJACENCY, để giải quyết vấn đề khởi tạo, duy trì, huỷ bỏ các phiên giữa hai LSR. Các bản tin LABEL ADVERTISEMENT, giải quyết thông báo, yêu cầu, thu hồi và loại bỏ kết hợp nhãn. Các bản tin NOTIFICATION, sử dụng để cung cấp các thông tin trợ giúp và thông tin lỗi tín hiệu. Chạy trên TCP cung cấp phương thức phân phối bản tin đáng tin cậy (ngoại trừ các bản tin DISCOVERY) Thiết kế cho phép khả năng mở rộng dễ dàng, sử dụng các bản tin được xác định như một tập hợp các đối tượng mã hoá TLV(Kiểu, độ dài, giá trị). Mã hoá LTV nghĩa là mỗi đối tượng bao gồm một trường kiểu biểu thị về loại đối tượng chỉ định, một trường độ dài thông báo độ dài của đối tượng và một trường giá trị mà nó phụ thuộc vào trường kiểu. Các khả năng mới được thêm vào với các định nghĩa về kiểu mới. Hai trường đầu tiên có độ dài cố định và được đặt tại vị trí đầu tiên của đối tượng, điều này làm cho nó có thể dễ dàng thi hành việc loại bỏ kiểu đối tượng mà nó không nhận ra. Trường giá trị có một đối tượng có thể gồm nhiều đối tượng mã hoá TLV hơn. Phát hiện LSR lân cận Giao thức phát hiện LSR lân cận của LDP chạy trên UDP và làm việc như sau. Một LSR định kỳ gửi đi bản tin HELLO tới các cổng UDP trong tất cả các bộ định tuyến trong mạng con. Tất cả các LSR lắng nghe từ Chất lượng dịch vụ trong MPLS Chất lượng dịch vụ QoS chính là yếu tố điều khiển đằng sau MPLS. So sánh với các yếu tố khác, như quản lý lưu lượng và hỗ trợ VPN thì QoS không phải là lý do quan trọng nhất để triển khai MPLS. Như chúng ta sẽ thấy dưới đây, hầu hết các công việc được thực hiện trong MPLS QoS tập trung vào việc hỗ trợ các đặc tính của IP QoS trong mạng. Nó cách khác, mục tiêu là thiết lập sự giống nhau giữa các đặc tính QoS của IP và MPLS, chứ không phải là làm cho MPLS QoS chất lượng cao hơn IP QoS. Một trong những lý do quan trọng mà MPLS hỗ trợ hơn là mở rộng mô hình IP QoS là MPLS, không giống như IP, không phải là giao thức end-to-end. MPLS không chạy trong các máy chủ, và tương lai là nhiều mạng IP không chạy MPLS vẫn tồn tại. QoS mặt khác thường có đặc tính end-to-end của liên kết giữa các LSR ngang hàng. Ví dụ, nếu một đường kết nối là đường end-to-end có độ trễ cao, độ mất mát lớn, băng thông thấp sẽ giới hạn QoS có thể cung cấp dọc theo tuyến đường end-to-end đó. Một cách khác nhìn nhận về vấn đề này là MPLS không thay đổi về căn bản mô hình dịch vụ IP. Các nhà cung cấp dịch vụ không bán dịch vụ MPLS, họ bán dịch vụ IP (hay d

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docBC1094.doc