Đề tài Những giải pháp quản lý vĩ mô nhằm phát triển xuất khẩu thuỷ sản Việt nam đến năm 2010

Hệ thống các doanh nghiệp sản xuất và xuất khẩu thuỷ sản hiện nay khá phân tán và manh mún, chưa được tổ chức và liên kết trên cơ sỏ một chiếnlược thị trường và các sách lược chung thống nhất. Điều đó đã dẫn đến hiện tượng cạnh tranh không lành mạnh giữa các doanh nghiệp trong nước cả thị trường mua nguyên liệu và thị trường bán thành phẩm, đã làm giảm sức cạnh tranh chung trên các thị trường nước ngoài.

 Để kết luận, mặc dù đạt được nhiều thành tựu đáng kể, nhưng sản xuất và xuất khẩu thuỷ sản của nước nhà còn chưa tương xứng với tiềm năng tài nguyên đất nước và nếu so sánh với các nước có tiềm năng thuỷ sản giống ta ( như Thái Lan) thì mức độ chênh lệch về trình độ công nghệ và trình độ quản lý là rất lớn, do vậy mục tiêu chiến lược là phải phát huy được những tiềm năng của thuỷ sản nước nhà và đưa trình độ công nghệ sản xuất, chế biến và xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam cũng như trình độ quản lý lên ngang tầm khu vực và thế giới.

 

doc69 trang | Chia sẻ: huong.duong | Ngày: 01/08/2015 | Lượt xem: 692 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đề tài Những giải pháp quản lý vĩ mô nhằm phát triển xuất khẩu thuỷ sản Việt nam đến năm 2010, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
quyết định trên thị trường, và nếu họ gặp khó khăn ở trên thị trường khác thì họ cũng dễ dàng hơn nhiều trong việc củng cố thị phần ở thị trường do họ đứng đầu và như vậy Việt Nam sẽ rất khó khăn trong việc tăng thị phần hay thực hiện một ý đồ thương mại nào đó(vấn đề giá cả, tìm bạn hàng mới hay đưa sản phẩm mới vào thâm nhập thị trường...) Ví dụ: Inđônêxia là nước xuất khẩu tôm lớn nhất sang thị trường Nhật bản những năm qua và có những lợi thế cơ bản của nước đứng đầu như sau: * quan hệ truyền thống với các nhà đầu tư và nhập khẩu , Nhật Bản đã giúp ch sản phẩm của Inđônêxia có vị trí vững vàng trên thị trường Nhật bản..... Chính các nhà nhập khẩu Nhật Bản chứ không phải các nhà xuất khẩu Inđônêxia đã làm cho người tiêu dùng Nhật Bản quên thuộc với những loại tôm của Inđônêxia ngay cả tôm sú nuôi của Inđônêxia cũng được chấp nhận rộng rãi ở NhậtBản vì chất lượng tốt thậm chí giá có cao hơn từ các nguồn cung cấp khác. * Với quan hệ truyền thống rất gắn bó với các nhà nhập khẩu Nhật Bản, các nhà chế biến và xuất khẩu Inđônexia coi thị trường Nhật Bản là thị trường lớn nhất và là sự lựa chọn đầu tiên của họ.Vì Nhật Bản là thị trường trả giá cao nhất so với các thị trường khác trong khi cũng đòi hỏi rất cao về chất lượng, các vấn đề trong buôn bán cũng như các vấn đề khác nhiều khi được giải quyết không chính thức để đảm bảo lợi ích của cả hai bên. Liệu Việt Nam có thể được ưu ái như vậy của thị trường Nhật Bản hay không? Dù rằng để đổi lại các nhà sản xuất và chế biến Inđônexia luôn bày tỏ thiện chí đối với thị trường Nhật Bản và đảm bảo giữ vững thị phần ở thị trường này. Khi sản lượng giảm sút, Inđônêxia có thể giảm xuất khẩu sang các thị trường khác cũng vẫn cố gắng duy trì xuất khẩu sang Nhật Bản.... Ngoài ra, khi những thị trường này có khó khăn hay trì trệ, chẳng hạn những khó khăn về kinh tế tài chính ở các nước Đông và Đông Nam á hiện nay, với sự trì trệ nhập khẩu của các thị trưòng NhậtBản , Hàn Quốc... sẽ gây khó khăn lớn hơn cho các nhà xuất khẩu thuỷ sản, Việt Nam khi không có được các thị trường thay thế và họ không đủ mạnh so với các đối thủ cạnh tranh khác. Xét về cơ cấu dạng sản phẩm xuất khẩu, hàng thuỷ sản đông lạnh chiếm gần 70% tổng giá trị hàng thuỷ sản xuất khẩu của tổng công ty ( Tôm đông là 39%, Mực đông là 17%, Cá đông là 10%, Cua đông gần 1%, Nhuyễn thể đông là 1%, thuỷ sản khô chiếm 5% còn lại là các loại sản phẩm khác. Cơ cấu này mang tính điển hình của xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam và có thể đại diệncho cơ cấu xuất khẩu của các doanh nghiệp thương mại về hàng thuỷ sản ở Việt Nam như Công ty xuất nhập tổng hợp Cà Mau, Công ty FIDECO, Công ty thuỷ sản xuất nhập khẩu tổng hợp Sóc Trăng- STAPIMEX... Tuy nhiên cơ cấu trên không đại diện cho các đơn vị chế biến hàng thuỷ sản xuất khẩuchuyên môn hoá như Công ty đồ hộp Hạ long sảnphẩm xuất khẩu chủ yếulại là Cá hộp (79%), Cá đông lạnh (21%) hay Công ty chế biến thuỷ sản xuất khẩu Nha Trang xuất khẩu chủ yếu hàng thuỷ sản đông lạnh (trên 95%, riêng tôm đông 93%), Xí nghiệp cầu tre xuất khẩu 100% hàng thuỷ sản đông lạnh gồm các loại cá, cua, mực và các loại nhuyễn thể khác... Điều cũng cần phải nói thêm là, ngoài sự mất cân đối về tỷ lệ giữa cá và các loại giáp xác, nhuyễn thể đông lạnh ( Việt Nam 10% cá và 60%-70% giáp xác và nhuyễn thể /100% xuất khẩu thuỷ sản, thế giới 40%cá, 33% giáp xác và nhuyễn thể / 100% xuất khẩu thủy sản) thì thống kê về xuất khẩu của thế giới còn bao gồm cả dạng cá và giáp xác, nhuyễn thể tươi sống hay ướp đá nữa còn của Việt Nam tỷ lệ trên hầu hết là đông lạnh sơ chế và chính dạng sản phẩm thuỷ sản sống được xem như một dạng thuỷ sản buôn bán quốc tế có giá trị gia tăng cao, vì vậy xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam còn vấn đề lớn phải giải quyết là cơ cấu dạng sản phẩm xuất khẩu. 2. Thị trường xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam. Theo thống kê của FAO, năm 2001 Việt Nam đứng thứ 29 trên thế giới và thứ 4 trong các nước ASEAN về xuất khẩu thuỷ sản. Hiện nay hàng thuỷ sản Việt Nam đã có mặt ở 49 nước và khu vực, trong đó có các thị trường lớn và khó tính như EU vàMỹ, đã bước đầu đa dạng hoá thị trường, giảm bớt sự lệ thuộc vào thị trường Nhật và các nước khu vực, giảm bớt khó khăn những khi có biến động. Bảng 6 Cơ cấu sản lượng các mặt hàng thuỷ sản xuất vào thị trường năm 2001 như sau: Thị trường Tôm đông (T) Cá đông (T) Mực đông (T) TS khác (T) Mực khô (T) Tổng cộng (T) Tỷ lệ (%) Nhật Bản 37.527 11.949 10.526 18.258 2.756 80.746 42,98 EU 11.528 2.708 1.650 6.615 128 22.629 12,05 ĐôngNam á 5005 15.648 1.800 7.207 1.323 30.983 16,49 Mỹ 3.074 1.893 67 1013 51 6.098 3,25 Thị trường khác 15.936 17.002 4.757 7.959 1.742 47.394 25,23 Tổng cộng 72.800 49.200 18.800 41.050 6.000 187.850 100% Nguồn : Thống kê FAO, năm 2001. Thị trường Nhật trong những năm đầu thập niên 90 chiếm khoảng 65-75% tổng giá trị xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam. Năm 2001, do ảnh hưởng của biến động kinh tế trong khu vực, sự mất giá của đồng Yên và việc Chính phủ Nhật tăng thuế bán hàng đã khiến hàng thuỷ sảnViệt Nam xuất vào Nhật giảm mạnh về khối lượng và về giá, đưa tỷ trọng thị trường này xuống còn 43%. Tuy nhiên, Nhật vẫn là thị trường chiếm tỷ trọng xuất khẩu lớn nhất trong tổng giá kim ngạch xuất khẩu nước ta và bất cứ biến động nào của thị trường này cũng gây ảnh hưởng lớn đến xuất khẩu thuỷ sản nước ta. Thị trường Đông Nam á là thị trường truyền thống, có sức tiêu thụ khá lớn và chủng loại mặt hàng đa dạng phù hợp với cơ cấu nguồn lợi biển Việt Nam, chiếm tỷ trọng thị trường khoảng 17-25%. Tuy nhiên, thị trường này chủ yếu là nhập sản phẩm tươi sống sơ chế hoặc nguyên liệu, đồng thời cũng là khu vực cạnh tranh với ta về xuất khẩu; mặt khác, do khủng hoảng kinh tế của các nước khu vực, nên thời gian gần đây xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam vào thị trường này suy giảm và không ổn định. Sáu tháng đầu năm 2002 kim ngạch xuất khẩu và thị trường này giảm chỉ còn bằng 83% so với cùng kỳ năm 2001. Thị trường Châu Âu ngày càng chiếm tỷ trọng lớn đối với sản phẩm thuỷ sản Việt Nam; năm 2001 bình quân cả năm đạt khoảng 10%, 6 tháng đầu năm 2002 tỷ trọng này tăng tới 13%. Đây là thị trường rất khó tính nhưng nhiều triển vọng. Tuy nhiên, hiện nay Việt Nam chưa được xếp vào danh sách nhóm I ( nhóm các nước được phép nhập khẩu vào EU ở cấp Cộng đồng), nên ngoài những yêu cầu chung của EU còn phải tuân theo luật riêng của từng nước. Riêng mặt hàng nhuyễn thể chân bụng chưa được phép nhập vào thị trường này. Thị trường Mỹ có nhiều triển vọng, sức mua lớn, giá cả tương đối ổn định và đang có xu hướng tăn cả về sức mua lẫn mặt bằng giá. Đặc biệt được ưa chuộng là tôm sú cỡ lớn( 16-20/ pound trở lên), tôm sú xuất vào thị trường Mỹ giá đang cao hơn so với thị trường Nhật, tỷ trọng tôm sú xuất vào thị trường này chiếm khoảng 20-25%, nay có xu hướng tăng nhanh có thể đưa lên 35-40% do khó khăn tại Nhật. Tuy nhiên, sức cạnh tranh của hàng thuỷ sản Việt Nam so với một số nước khác còn thấp và mới chỉ một số ít doanh nghiệp bán được hàng sang Mỹ. Năm 2001 xuất khẩu vào Mỹ chỉ chiếm khoảng 7-8% giá trị kim ngạch. Hiện nay đã có 25 doanh nghiệp đã xây dựng chương trình HACCP theo qui định của Mỹ. Thị trường Trung Quốc đang phát triển mạnh và nhu cầu rất đa dạng, với giá trị nhập khẩu trên 1 tỷ USD. Tuy nhiên, hàng thuỷ sản Việt Nam xuất chính ngạch vào thị trường này còn quá ít ỏi, do quan hệ thương mại và thanh toán giữa 2 nước còn nhiều khó khăn. Hàng thuỷ sản chủ yếu xuất bằng đường tiểu ngạch và cũng chỉ bán sang một số tỉnh vùng biên giới phía Đông Nam với các loại sản phẩm chủ yếu là nguyên liệu tươi sống, sản phẩm khô......, giá trị chưa cao. Các tỉnh phía Bắc và Đông Bắc Trung Quốc tiếp cận được còn rất ít. Cần đặc biệt chú ý thị trường tốt cho các loài cá nổi cỡ nhỏ miền Bắc và miền Trung. Các thị trường đáng quan tâm khác trong tương lai gần là : thị trường Đông Âu, ôxtralia, Trung Đông và Châu Phi. 3. Mặt hàng thuỷ sản xuất khẩu chính của Việt Nam. Xuất phát từ nhu cầu thị trường, từ tiềm năng kinh tế thuỷ sản Việt Nam: con cá tôm, mực và các hải sản thân mềm..v..v... đã trở thành sản phẩm xuất khẩu chính của trung tâm thương mại. Sản phẩm tôm, cá, mực của Việt Nam được ưa chuộng trên thị trường thế giới, đặc biệt là thị trưòng Nhật, Hồng Kông bởi độ tươi ngon của sản phẩm. Các giải thường quốc tế giành cho sản phẩm của SEAPRODEX Việt Nam đã chứng minh điều đó. Bảng : 7 Tổng hợp tình hình sản phẩm chủ yếu 5 năm 1994-1999 TT Chỉ tiêu Đ/ vị 1994 1995 1996 1997 1998 1999 Giá trị xuất khẩu 1000 USD 205000 262234 305163 368435 458200 550100 Tôm đông Tấn 34000 40000 48056 55430 63108 66500 Mực đông - 4800 4500 5338 7050 9962 11300 Các loại - 3200 11100 16980 23149 25465 31400 Mực khô - 4012 4100 3583 3212 3400 4000 Thuỷ sản khác. - 3320 5000 5724 5984 8865 14500 Nguồn: Bộ thuỷ sản, Bộ Thương Mại. Trong những năm qua, tôm chiếm vị chí hàng đầu trong sản phầm xuất khẩu với giá trị kinh tế cao. Tôm đã thực sự mang lại giá trị xuất khẩu cho nền kinh tế thuỷ sản Việt Nam.Tôm có nhiều loại như. Tôm sú, tôm bạc, tôm hùm, tôm càng xanh, phân bố chủ yếu ở các vùng biển của mỗi tỉnh khoảng 600 tấn nguyên liệu/ năm, nếu có đầu tư thêm kỹ thuât khai thác thì sẽ đạt khoảng 1000 tấn/ năm. Ngoài tôm là mực chiếm khoảng 10-15% giá trị xuất khẩu, mực tập trung ở các vùng Thanh hoá, Khánh Hoà, Quy Nhơn...Vụ khai thác mực ống từ tháng 5 đến tháng 12 và mực nang từ tháng 1 đến tháng 3. Cá là loài thuỷ sản được khai thác khá lớn và phong phú về chủng loại. Tỷ lệ khai thác một số loài cá chính như sau: Cá mòi: 7,17%, cá mối vạch: 2,11%, cá chim ấn độ: 1,16%, Cá Hồng: 4,16%. Ngoài ra còn có các loài cá có sản lượng lớn như: Cá chuồn, cá ngừ, cá lầm, cátrích, cá mục..Song khả năng xuất khẩu các loại cá đó chưa mở ra triển vọng xuất khẩu cho Việt Nam. Ngoài sản phẩm khai thác được trên biển còn có một loại sản phẩm cũng góp phần tăng năng lực xuất khẩu của Việt Nam đó là tôm nuôi, hiện nay phong trào nuôi tôm ở các vùng bãi Trung, Nam đang phát triển mạnh. Con tôm nuôi bước đầu tham gia vào thị trường và góp phần tăng giá trị xuất khẩu cho Việt Nam. 4. Giá cả xuất khẩu. Do những đặc điểm như trên của hoạt động xuất khẩu thuỷ sản: xuất khẩu chủ yếu dưới dạng nguyên liệu thô lại xuất khẩu nhiều qua trung gian và chưa thiết lập được thị phần cần thiết ở 2 thị trường lớn khác của thế giới lên giá nhìn chung là thấp hơn giá trên thị trường quốc tế và khu vực. Hơn nữa, khâu quản lý xuất khẩu không tốt nên sản phẩm thuỷ sản xuất khẩulại còn bị thương nhân nước ngoaì ép giá. Bảng số liệu sau đây để so sánh giá xuất khẩu giáp xác, nhuyễn thể tươi, ướp đông, đông lạnh của Việt Nam với 2 nước khác trong khu vực là Thái Lan và Inđônêxia. Qua bảng số liệu này có thể thấy đơn giá xuất khẩu giáp xác và nhuyễn thể của Thái lan đạt sự tăng trưởng hàng năm là cao nhất và giá hiện nay ngang bằng với mức giá xuất khẩu của Inđônêxia trong khi mức giá xuất khẩu giáp xác và nhuyễn thể tươi, ướp đông, đông lạnh của Việt nam là thấp nhất. Bảng 8 Cơ cấu sản phẩm thuỷ sản xuất khẩu của Việt Nam 1995-1999. Nhóm sản phẩm 1995 1996 1997 1998 1999 TG 1999 (V=Triệu US$) V % V % V % V % V % % Cá tươi ướp đông ĐL 16.6 6.0 23 7.6 267 7.3 39.2 8.1 51.4 10 39.4 Cá khô, muối, hun khói 2.1 0.8 2.9 1.0 3.4 0.9 5.8 1.2 .3 1,23 5.5 Giáp xácvànhuyễn thể. 250 89.7 262 85.8 320.3 87.0 416 86 414.1 80.7 33.9 Cá hộp 20.2 0.1 1.8 0.6 2.1 0.6 2.5 0.5 3.3 0.6 10.7 Giápxácnhuyễnthểhộp 9.7 3.5 15.3 5.0 15.7 4.3 20 4.2 37.4 7.29 5.8 Dầu cá 0.0 0 0.0 0 0 0.0 0 0.0 0 0 0.7 Bột cá 0 0.0 0.1 0.0 0 0.0 0 0.0 0.4 0.08 4.0 Tổng số 278 100 305 100 368.2 100 483.6 100 512.9 100 100.0 Nguồn: FAO yearbook - Fishery statistics Commodities-1998/1999. Trong vòng 10 năm từ 1985 đến 1999 giá xuất khẩu sản phẩm của Thái Lan tăng trung bình hàng năm là 12% của Inđônexia tăngtrung bình hàng năm là 6% còn của Việt Nam, mức tăng giá trung bình hàng năm là 6,5% cao hơn đôi chút so với giá xuất khẩu của Inđônêxia, tuy nhiên do Việt Nam xuất phát từ mức giá xuất khẩu rất thấp, chỉ bằng 60,4% mức giá xuất khẩu của Inđônêxia ( 1985) nên sau đó 10 năm, tức là vào 1999, gía xuất khẩu sản phẩm sản của nước ta cũng mới chỉ bằng 69% giá của Inđônêxia và của Thái Lan( nước này năm 1985 giá xuất khẩu chỉ bằng 91% giá xuất khẩu của Việt Nam) tuy nhiên sự so sánh này chỉ mang tính tương đối bởi vì chủng loại giáp xác và nhuyễn thể xuất khẩu khác nhau từ nước này qua nước khác. Có lẽ có sự tương đối giống nhau giữa xuất khẩu giáp xác và nhuyễn thể của Thái Lan và của Việt Nam, giống như loài tôm, nhưng giá xuất khẩu tôm trung bình của Việt Nam chỉ bằng 50% mức giá xuất khẩu của Thái Lan vì Thái Lan là nước xuất khẩu tôm lớn nhất thế giới, vai trò thống trị trên thị trường nhập khẩu tạo cho Thái Lan đạt được mức giá này, hơn nữa xuất khẩu tôm của Thái Lan dựa chủ yếu vào nguồn cung cấp tôm nuôi thâm canh (80%) với ngành công nghiệp chế biến thuỷ sản khá hiện đại cho phép đạt hiệu quả xuất khẩu cao. 5. Đánh giá kết quả kinh doanh xuất khẩu thuỷ sản . Kinh doanh xuất khẩu thuỷ sản là loại hình buôn bán trao đổi các sản phẩm hàng hoá và dịch vụ về thuỷ sản giữa các quốc gia với nhau và dùng đồng tiền ngoại tề làm phương tiện thanh toán. Từ lâu thuỷ sản được coi là một ngành hàng thiết yếu và được ưu chuộng tiêu dùng ở rất nhiều nước trên thế giới. Nước ta có vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên ưu đãi giúp thuận lợi cho việc khai thác , nuôi trồng thuỷ sản. Với 3260km bờ biển và vùng biển đặc quyền kinh tế rộng trên 1 triệu cây số vuông. Mặc dù chưa có đủ điều kiện cần thiết để diều tra và đánh giá đầy đủ các nguồn lợi, đặc biệt là ngoài khơi, nhưng theo số liệu thống kê hàng năm, cho thấy Việt nam khai thác khoảng 1,2-1,4 triệu tấn thuỷ sản. Trong đó ngoài cá còn có khoảng 50-60 nghìn tấn tôm biển, 30-40 nghìn tấn mực và nhiều đặc sản có giá trị kinh tế cao. 5.1 Số lượng và kim ngạch xuất khẩu: Năm 1986 kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam đạt 109,2 triệu USD đến năm 2000 xuất khẩu đạt 670 trỉệu đôla và xuấtkhẩu 2001 đạt 776 triệu đôla, như vậy trong vòng 10 năm 1986-2000 xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam đã tăng 5,13 lần, mức tăng xuất khẩu trung bình hàng năm đạt 19,5% còn nếu so với mức xuất khẩu 1995 là 285 triệu đôla thì xuất khẩu 2000 tăng 1,35 lần và mức tăng trung bình hàng năm thời kỳ 1995-2000 là 18,5%, đây quả là một tốc độ tăng trưởng ngoạn mục. Xét theo số lượng hàng xuất khẩu thì mức xuất khẩu 1986 là 24,89 ngàn tấn đã tăng lên 150,5 ngàn tấn năm 2000, mức tăng tương đối là 5 lần và tốc độ tăng trưởng trung bình hàng năm trong thời kỳ 10 năm đó là 20%. Điều này có nghĩa là việc tăng kim ngạch xuất khẩu thời gian qua được quyết định chủ yếu bởi việc tăng số lượng hàng xuất khẩu trong khi giá cả xuất khẩu hầu như ổn định ( tăng không đáng kể chỉ tăng 13% trong vòng 10 năm ). Tuy nhiên nếu đem so sánh tốc độ phát triển và tốc độ tăng của sản xuất thuỷ sản hàng năm thời kỳ năm năm qua là trên 5% thì người ta sẽ thấy rõ vai trò của xuất khẩu thuỷ sản trong việc thúc đẩy sản xuất và xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam. Còn nếu so với tốc độ tăng trưởng sản xuất và xuất khẩu hàng thuỷ sản của thế giới thời gian 10 năm 1985-1999 lần lượt là 2,8% và 12% thì Việt Nam là một trong những nước đang phát triển đóng góp đáng kể vào sự nghiệp công nghiệp hoá và hiện đại hoá nước nhà đặc biệt là đóng góp vào việc hiện đại hoá ngành thuỷ sản Việt Nam. 5.2 Về giá trị và tốc độ phát triển. Trong 18 năm qua thuỷ sản luôn giữ được xu thế tăng trưởng không ngừng về năng lực sản xuất , sản lượng và giá trị. Kim ngạch xuất khẩu có mức tăng trưởng tương đối cao( 22-23%/ năm). Năm 2001 giá trị kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản đạt 776 triệu USD, dự kiến 2002 sẽ đạt 850 triệu USD. Xuất khẩu thuỷ sản đã trở thành động lực thúc đẩy công nghiệp chế biến thuỷ sản phát triển, tăng cường cơ sở vật chất và năng lực sản xuất của khu vực sản xuất nguyên liệu, bước đầu làm chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông thôn ven biển, góp phần bảo đảm việc làm và nâng cao đời sống cho hàng triệu người sống bằng nghề cá, góp phần ổn định và phát triển kinh tế của đất nước. Bảng 9: một số chỉ tiêu về mức tăng trưởng ngành xuất khẩu thuỷ sản. Chỉ tiêu Năm So sánh ( %) 1986 2000 2001 2000/1986 2001/2000 1. Sản lượng thuỷ sản,(T) Trong đó: - Khai thác hải sản. - Nuôi trồng thuỷ sản. 840.583 597.717 242.866 1373.500 962.500 411.000 1.570.000 1.078.000 492.000 163,4 161,0 169,2 115,8 112,0 119,7 2. Xuất khẩu: - Giá trị, triệu USD - Sản phẩm xuất khẩu, T 109,235 24.890 670,000 150.500 776,000 187.850 613,3 604,7 115,8 118,6 3. Số nhà máy chế biến đông lạnh. Công suất, tấn/ ngày. 41 210 168 800 186 885 409,0 380,9 110,0 110,6 4. Lao động nghề cá (1000 người) 1.270 3120 3.580 245,7 114,7 Nguồn : Bộ thương mại, Bộ thủy sản. Để hình thành một ngành công nghiệp chế biến thuỷ sản xuất khẩu trong cả nước. Tính đến đầu năm 2002 đã có 186 nhà máy chế biến đông lạnh, có khả năng sản xuất khoảng 200.000 tấn sản phẩm xuất khẩu/ năm. Trong đó, một số đơn vị đã chủ động nâng cấp cơ sở hạ tầng đổi mới thiết bị công nghệ đa dạng hoá sản phẩm, chuyển sang sản xuất các mặt hàng có hàm lượng công nghệ cao, áp dụng chương trình quản lý chất lượng theo HACCP, chủ động hơn trong việc mở rộng thị trường xuất khẩu. Tính đến nay đã có 27 doanh nghiệp đủ điều kiện chế biến xuất khẩu vào thị trường EU( chiếm 14,5%)số xí nghiệp) và hơn 20 xí nghiệp xuất khẩu sang Mỹ. 5.3 Hiệu qủa xuất khẩu. Tất cả những phân tích về cơ cấu thị trường xuất khẩu, cơ cấu dạng sản phẩm xuất khẩu và tình hình giá sản phẩm thuỷ sản xuất khẩu của Việt Nam đều dẫn đến nhận định hiệu qủa xuất khẩu thuỷ sản của nước ta là rất thấp. Nếu như đem so sánhvới xuất khẩu thuỷ sản của Thái Lan, nước xuất khẩu thuỷ sản đứng đầu thế giới chúng ta có thể thấy rõ sự chênh lệch về trình độ công nghệ và mức giá xuất khẩu lớn như thế nào. Tình hình chung về xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam sẽ được minh hoạ rõ nét hơn qua phân tích xuất khẩu thuỷ sản của các doanh nghiệp sau đây: Bảng :10 Tình hình xuất khẩu thuỷ sản của các doanh nghiệp Chỉ tiêu Việt Nam Thái Lan - Năng suất nuôi tôm bình quân- Tấn/ha/ năm 0.282 2.444 - Sản lượng tôm nuôi - tấn. 63000 220010 - Giá bình quân sản lượng tôm-USA/Kg 5.0 >10 - Tổng kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản - Tỷ đô la 0.550 5.0 Nguồn: Bộ thuỷ sản- Phát triển kinh tế hải sản và Các giải pháp phát triển KT thời kỳ mới. III. Những kết luận rút ra từ thực trạng sản xuất và xuất khẩu thuỷ sản. 1. Những thành tựu đạt được. 1.1. Xuất khẩu thuỷ sản đã đóng vai trò đòn bẩy chủ yếu tạo nên động lực phát triển mạnh mẽ cho nền kinh tế. Việc khai thông thị trường đã thúc đẩy phát triển cơ sỏ vật chất và năng lực khai thác, nuôi trồng thuỷ sản, năng lực hậu cần dịch vụ, tạo việc làm với thu nhập ngày càng cao cho hàng chục vạn lao động, bảo đảm đời sống của hơn 3 triệu người, làm chuyển đổi cơ cấu kinh tế vùng nông thôn ven biển, đặc biệt là của các cộng đồng ngư dân và nông ngư dân. Từ chỗ là một bộ phận không lớn thuộc khối kịnh tế nông nghiệp, với trình độ lạc hậu vào năm 1980, thuỷ sản đã trở thành một ngành kinh công nông nghiệp có tốc độ phát triển cao, qui mô ngày càng lớn, góp phần ổn định và phát triển kinh tế đất nước. Trong thời gian hơn một thập kỷ qua, sản xuất và xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam đã đạt những thành tựu rất khả quan: Sản lượng thuỷ sản tăng liên tục thời gian từ 1985 và lần đầu tiên vượt giới hạn 1 triệu tấn vào năm 1994 để tiếp tục tăng đạt 1,57 triệu tấn vào năm 2001. Xuất khẩu hàng thuỷ sản tăng trung bình hàng năm 20% từ năm 1985 trở lại đây và đạt 670 triệu USD năm 2000, năm 2001 do thiên tai làm thiệt hại lớn về người và của, xuất khẩu thuỷ sản vẫn đạt 776 triệu đôla và mục tiêu phấn đấu cho năm 2002 là 850-900 triệu đôla. Sự phát triển năng động của ngành thuỷ sản Việt Nam thời gian qua đã đưa nước ta trở thành một nước ta trở thành một nước sản xuất và xuất khẩu thuỷ hải sản đáng kể trên thị trường thế giới và khu vực. Theo thống kê của FAO, hiện nay Việt Nam là một trong hàng ngũ 25 nước đánh bắt thuỷ sản lớn nhất thế giới và Việt Nam cũng đứng trong hàng ngũ 25 nước xuất khẩu thuỷ sản lớn nhất thế giới với tỷ trọng 1,5% xuất khẩu thuỷ sản thế giới. Trong nội bộ khu vực Đông Nam á, sản xuất thuỷ sản của Việt Nam đứng hàng thứ 4 sau Thái Lan, Inđônexiavà Mailaixia xuất khẩu của Việt Nam cũng đứng hàng thứ tư nhưng sau Thái Lan, Inđônexia và Singapo. 1.2 . Ngành thuỷ sản Việt Nam đã xác lập được vị trí có ý nghĩa chiến lược. Nhằm phá thế bị bao vây và đứng thứ 19 về tổng sản lượng, thứ 30 về giá trị kim ngạch xuất khẩu,thứ 5 về sản lượng tôm nuôi và đứng đầu về tốc độ tăng trưởng xuất khẩu. Sản phẩm thủy sản Việt Nam đã có mặt tại 25 nước, trong đó xuất khẩu trực tiếp tới 22 nước, một số sản phẩm uy tín tại các thị trường quan trọng. 1.3 . Đã hình thành ngành công nghiệp chế biến thực phẩm xuất khẩu có trình độ công nghệ bước đầu tiếp cận với các nước trong khu vực. Có năng lực sản xuất vào loại lớn nhất trong các ngành chế biến nông sản thực phẩm, gồm 164 nhà máy, tổng công suất cấp đông 760 tấn/ ngày, sản lượng 120.000-130000 tấn sản phẩm/ năm, tổng dung lượng kho bảo quản đông 23000 tấn, năng lực sản xuất nước đá 3.300 tấn/ ngày, đội xe vận tải lạnh hơn 1000 chiếc với tổng trọng tải trên 4000 tấn, tàu vận tải lạnh 28 chiếc với tổng trọng tải 6.150 tấn. Đã tiếp thu và làm chủ công nghệ chế biến, sản xuất nhiều mặt hàng thuỷ sản có giá trị kinh tế cao, được ưa chuộng. 1.4 . Suất đầu tư không cao nhưng kết quả lớn: Trong 14 năm 1981-1998, với tổng đầu tư cho ngành 3020 tỷ đồng, tương đương 356,6 triệu USD, trong đó phần đầu tư cho khu vực chế biến xuất khẩu chỉ khoảng 120 triệu USD, nhưng xuất khẩu thuỷ sản đã thu được tổng giá trị kim ngạch 250 triệu USD, lớn gấp nhiều lần vốn đầu tư, nghĩa là suất đầu tư tổng cộng là 14,26% trong đó riêng suất đầu tư của Nhà nước chỉ chiếm 3,39%. 1.5 . Đã xây dựng và đào tạo được một đội ngũ các nhà doanh nghiệp thuỷ sản. Đội ngũ doanh nghiệp thuỷ sản có kiến thức và kinh nghiệm hoạt động trong nền kinh tế thị trường, hàng trăm kỹ sư giỏi, hàng vạn công nhân lành nghề. Đội ngũ này có nhiệt tình và ý chí vươn lên mạnh mẽ, là lực lượng có vị trí quan trọng trong giai đoạn phát triển sắp tới. Trong 15 năm qua cũng đã xuất hiện một thế hệ ngư dân mới, đông đảo, có tri thức kỹ thuật và kinh nghiệm góp phần tích cực vào sản xuất và bảo quản nguyên liệu. Ngành thuỷ sản Việt Nam, với những thành tựu về sản xuất và xuất khẩu nêu trên đã trở thành một trong những ngành kinh tế quan trọng nhất của đất nước góp phần không nhỏ vào công cuộc công nghiệp hoá và hiện đại hoá nước nhà. Riêng về xuất khẩu thuỷ sản không những hàng năm mang về cho đất nước 600-700 triệu đôla mà còn góp phần đưa Việt Nam hội nhập nhanh hơn vào khu vực và thế giới thông qua sự năng động của các doanh nghiệp trong đa dạng hoá sản phẩm xuất khẩu cũng như thị trường xuất khẩu, tăng cường các quan hệ hợp tác hiểu biết lẫn nhau và nâng cao uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế..... 2. Những mặt tồn tại. Thành tựu của xuất khẩu thuỷ sản trong những năm qua tuy lớn nhưng chỉ là thời kỳ phát triển ban đầu, với trình độ thấp, chưa tương xứng với tiềm năng. Bên cạnh những thành tựu, còn bộc lộ nhiều yếu kém và hạn chế. 2.1. Thị trường xuất khẩu của Việt Nam chưa phải là thị trường nhập khẩu trọng điểm của thế giới mà là Nhật Bản và các nước láng giềng Châu á. Nếu so với các nhà xuất khẩu khác thì điểm bất lợi củaViệt Nam về mặt thị trường sẽ là một thị trường tiêu thụ tuy có nhiều tiềm năng song lại rất thiếu ổn định và do vậy vấn đề thị trưòng xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam cần sớm được đa dạng hoá để tiến tới xác định được thị phần của sản phẩm Việt Nam được ổn định và không ngừng mở rộng. 2.2.Mặt hàng xuất khẩu thuỷ sản chưa đa dạng hoá Chủng loại sản phẩm thuỷ sản xuất khẩu gồm chủ yếu là tôm, mực đông lạnh sơ chế ( chiếm hơn 80% về mặt khối lượng), tỷ lệ sản phẩm có giá trị gia tăng cao thấp, chất lượng sản phẩm chưa phù hợp với yêu cầu chất lượng sản phẩm thuỷ sản của các nước nhập khẩu lớn do vậy mà còn đòi hỏi những nỗ lực lớn trong đa dạng hoá sản phẩm xuất khẩu cũng như phát triển sản phẩm mới vầ vấn đề đảm bảo chất lượng và an toàn vệ sinh hàng thực phẩm theo tiêu chuẩn HACCP. 2.3. Giá cả sản phẩm xuất khẩu thấp hơn so với các nước khác. Giá nhìn chung thấp chỉ bàng khoảng 70% mức giá sản phẩmcùng loại của Thái Lan và Inđônexia nhưng vẫn không cạnh tranh trong xuất khẩu thuỷ sản: tài nguyên thuỷ sản phong phú, điều kiện khí hậu đất đai thuậnlợi, giá lao động rẻ hơn so với các nước khác, nhưng trình độ khoa học và công nghệ thấp, cơ sở hạ tầng yếu kém và thiếu kinh nghiệm trong quản lý khiến cho lợi thế so sánh trong xuất khẩu thuỷ sản giảm sút nhiều và xuất khẩu không đạt được hiệu quả mong muốn vì giá thấp. 2.4. Màng lưới phân phối: Xuất khẩu trực tiếp vào các thị trường tiêu thụ chính không nhiều, chủ yếu xuất qua trung gian môi

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docA0449.doc
Tài liệu liên quan