Đề tài Phân tích tác động của một số chính sách cụ thể mà chính phủ Việt Nam đã thực hiện trong vài năm trở lại đây để giải quyết vấn đề việc làm

Từ năm 2008, Chính phủ Việt Nam đã đưa ra các giải pháp, chính sách quan trọng nhằm ngăn ngừa lạm phát và ngăn chặn suy giảm kinh tế, thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển và tăng cường thực thi các chính sách bảo đảm an sinh xã hội, trong đó có việc triển khai gói kích thích kinh tế 8 tỷ USD (khoảng 9% GDP).

Kết quả của việc thực hiện gói kích cầu lần thứ nhất của chính phủ đã hỗ trợ cho 1.110 dự án, giúp ngăn chặn suy thoái kinh tế cho 76.000 doanh nghiệp mới thành lập, giải quyết việc làm cho 1,5 triệu lao động.

Tại phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 10, diễn ra trong hai ngày 29 - 30/10, Chính phủ đã quyết định sẽ triển khai gói chính sách hỗ trợ thứ hai đối với doanh nghiệp. Trong gói kích cầu này, Chính phủ đặt mục tiêu là hỗ trợ để có thể giảm bớt gánh nặng về chi phí, giúp doanh nghiệp duy trì được công ăn việc làm.

Chính sách kích cầu của chính Chính phủ tác động tới mọi mặt của xã hội đặc biệt là tới vấn đề việc làm. Nhưng trong bài này, chúng tôi sẽ phân tích tác động của chính sách kích cầu tới vấn đề việc làm ở khu vực nông thôn. Việc chính phủ kích cầu nông thôn sẽ tạo điều kiện giảm bớt gánh nặng việc làm ở khu vực này. Gói kích cầu tập trung vào việc tạo thu nhập cho dân cư nông thôn, tăng số công ăn việc làm, cải thiện các dịch vụ y tế, giáo dục, phát triển cơ sở hạ tầng (điện, đường, trường, trạm, nước ) và cung cấp các tiện nghi khác cho nông thôn. Thực hiện gói kích cầu trong đó có kích cầu vào khu vực nông thôn, một mặt sẽ tác động làm giảm cung lao động về lâu dài, mặt khác sẽ tăng cầu lao động tại chỗ, hạn chế di cư ồ ạt từ nông thôn ra thành thị, dần nâng cao chất lượng nguồn lực nông thôn.

Đặc biệt, việc dầu tư xây dựng các công trình trọng điểm kinh tế - xã hội của Nhà nước như Thủy điện Sơn La, Nhà máy lọc dầu Dung Quất và khu công nghiệp Dung Quất, đã tạo việc làm cho hàng triệu lao động. Bên cạnh đó, gói kích cầu cũng được sử dụng vào hoạt động mở rộng, phát triển làng nghề, xã nghề, các doanh nghiệp vừa và nhỏ góp phần tạo cơ hội việc làm đầy đủ cho một số lượng lớn lao động nông thôn, giải quyết được phần nào tình trạng thất nghiệp theo mùa vụ.

 

doc20 trang | Chia sẻ: oanh_nt | Ngày: 01/07/2013 | Lượt xem: 3491 | Lượt tải: 26download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đề tài Phân tích tác động của một số chính sách cụ thể mà chính phủ Việt Nam đã thực hiện trong vài năm trở lại đây để giải quyết vấn đề việc làm, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ong những năm trở lại đây (2005-2009) 1. Thực trạng vấn đề việc làm của Việt Nam trong 5 năm trở lại đây a) Vấn đề thất nghiệp Thất nghiệp luôn là mối quan tâm nóng bỏng toàn cầu. Trong những năm 2005 – 2007, nền kinh tế thế giới ổn định, nền kinh tế ở Việt Nam phát triển mạnh mẽ, vấn đề thất nghiệp cũng dịu đi. Nhưng đến cuối năm 2007, cuộc khủng hoảng tài chính – kinh tế đã khiến vấn đề này lại trở nên nhức nhối. Dưới tác động của cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu, sản xuất, kinh doanh, dịch vụ giảm sút; tiêu thụ sản phẩm chậm, hàng hóa ứ đọng, kể cả các vật tư quan trọng, lương thực và nhiều nông sản xuất khẩu có khối lượng lớn; số người mất việc làm năm 2008 khoảng 667.000 người, 3.000 lao động từ nước ngoài phải về nước trước thời hạn. Theo Bộ Lao Động, tỷ lệ thất nghiệp của Việt Nam vào khoảng 4,65%. Tức là khoảng hơn 2 triệu lao động không có việc làm. Bên cạnh vấn đề thất nghiệp gia tăng do khủng hoảng kinh tế còn có một vấn đề khác đã tồn tại từ rất nhiều năm nay. Đó là vấn đề thất nghiệp mùa vụ ở nông thôn. Hầu như người lao động nông thôn chỉ sử dụng hết 2/3 thời gian làm việc của mình (40 giờ/tuần), 1/3 số thời gian còn lại họ không có việc làm. Việc sản xuất ở nông thôn Việt Nam hiện nay mang tính mùa vụ, đặc biệt là ở miên Bắc. Khi vào mùa vụ, ví dụ như vào mùa gặt, các gia đình nông thôn huy động hết lao động của gia đình tham gia làm việc. Thời gian làm việc có thể kéo dài từ 10 – 13 tiếng/ngày. Nhưng khi mùa vụ qua đi, hầu hết những người nông dân không có việc làm. Ở một số nơi, khi bên cạnh việc nông thì còn một số nghề truyền thống. Khi nông nhàn, người nông dân có thể tham gia sản xuất các mặt hàng truyền thống. Tuy nhiên không phải ở vùng nào của Việt Nam cũng như vậy, bên cạnh đó, các làng nghề truyền thống đang bị mai một dần nên tình trạng thất nghiệp theo mùa vụ ở nông thôn hiện nay là vô cùng phổ biến. Tình trạng thất nghiệp mùa vụ kéo theo hiện tượng di chuyển lao động –một vấn đề việc làm khá cấp thiết. Chúng ta có thể thấy rõ hơn tình trạng thất nghiệp ở Việt Nam qua các bảng số liệu sau: Tỷ lệ thất nghiệp ở Việt Nam giai đoạn 2005 – 2009 Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007 Năm 2008 Năm 2009 5.31 4.82 4.64 4.65 4.66 Tỷ lệ thất nghiệp của lực lượng lao động trong độ tuổi ở khu vực thành thị phân theo vùng giai đoạn 2005- 2008 2005 2006 2007 2008 Cả nước 5,31 4,82 4,64 4,65 A. Phân theo vùng Đồng bằng sông Hồng 5,61 6,42 5,74 5,35 Đông Bắc 5,07 4,18 3,85 4,17 Tây Bắc 5,07 4,18 3,85 4,17 Bắc Trung Bộ 5,20 5,50 4,95 4,77 Duyên hải Nam Trung Bộ 5,20 5,50 4,95 4,77 Tây Nguyên 4,23 2,38 2,11 2,51 Đông Nam Bộ 5,62 5,47 4,83 4,89 Đồng bằng sông Cửu Long 4,87 4,52 4,03 4,12 Tỷ lệ thất nghiệp và tỷ lệ thiếu việc làm của lực lượng lao động năm 2008 Tỷ lệ thất nghiệp Tỷ lệ thiếu việc làm Chung Thành thị Nông thôn Chung Thành thị Nông thôn CẢ NƯỚC 2,38 4,65 1,53 5,10 2,34 6,10 Đồng bằng sông Hồng 2,29 5,35 1,29 6,85 2,13 8,23 Trung du và miền núi phía Bắc 1,13 4,17 0,61 2,55 2,47 2,56 Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung 2,24 4,77 1,53 5,71 3,38 6,34 Tây Nguyên 1,42 2,51 1,00 5,12 3,72 5,65 Đông Nam Bộ 3,74 4,89 2,05 2,13 1,03 3,69 Đồng bằng sông Cửu Long 2,71 4,12 2,35 6,39 3,59 7,11 b) Các vấn đề khác Trong vấn đề việc làm ở Việt Nam, bên cạnh vấn đề thất nghiệp còn tồn tại rất nhiều vấn đề khác như vấn đề di chuyển việc làm, vấn đề thiếu lao động chất lượng cao, vấn đề chảy máu chất xám,… Hiện tượng di chuyển lao động là biểu hiện tất yếu của quan hệ cung và cầu lao động trên thị trường lao động. Các dòng di chuyển lao động trong nước chủ yếu là di chuyển từ Bắc vào Nam, di chuyển lao động giữa các ngành hoặc khu vực kinh tế và từ nông thôn ra thành thị. Tuy nhiên dòng di chuyển lao động mạnh nhất hiện nay vẫn là từ nông thôn ra các vùng đô thị. Người lao động ở khắp moi nơi và làm mọi công việc, từ những công việc có kỹ thuật như thợ nề, thợ mộc đến những công việc đòi hỏi có vốn như xích lô, xe ôm và đặc biệt phần lớn người lao động nông thôn là người lao động giản đơn, không có vốn, không có kỹ thuật chủ yếu là bốc xếp, vận chuyển hàng hóa, giúp việc cho các gia đình,… Ở Việt Nam còn tồn tại một vấn đề việc làm là vấn đề thiếu lao động chất lượng cao. Trong khi hàng triệu người không tìm được việc làm, thì ở một số ngành nghề và rất nhiều cơ sở kinh doanh đang thiếu lao động kỹ thuật, lao động có chuyên môn nghề nghiệp và trình độ phù hợp với yêu cầu sản xuất. Theo thống kê, hiện nay tỷ lệ lao động được đào tạo của nước ta tuy vẫn tăng đều qua các năm nhưng đến nay vẫn chỉ đạt 24% tổng lao động (tỷ lệ tương ứng của các nước trong khu vực là 50%). Tỷ lệ đào tạo lao động có bằng cấp còn thấp (tăng khoảng 7,3%/năm) và chưa tương ứng với nhu cầu lao động có đào tạo cho phát triển kinh tế. Chảy máu chất xám không chỉ là vấn đề của Việt Nam mà còn là vấn đề của rất nhiều nước đang phát triển khác. Theo số liệu mới nhất của Sở Giáo dục - Đào tạo, hiện số lượng du học sinh của ta đã vào khoảng 60.000 người và ngày càng tăng. Cho dù có học bổng hay tự túc, thậm chí du học bằng ngân sách nhà nước… số học xong quay trở về là rất ít. Chất xám của Việt Nam bị thất thoát đến giật mình. Với 70% du học sinh “một đi không trở lại” như hiện nay, số chất xám thất thoát lên đến hơn 40.000 người. Từ năm 2000 đến 2006, Bộ GD-ĐT đã tổ chức cho 2.684 nghiên cứu sinh ra nước ngoài du học, trong đó có 871 tiến sĩ, 793 thạc sĩ và 814 cử nhân. Chi phí bình quân cho mỗi du học sinh theo đề án 322 là khoảng 22.000 USD/năm, tức khoảng 100.000 USD/4 năm, tức trên 1,5 tỷ đồng. Một vị giáo sư đã so sánh: Chỉ riêng tại Úc và Đức, mỗi năm nhà nước ta phải chi đến 5.000 tỷ đồng cho du học sinh. Và, một khi nguồn chất xám khổng lồ này không được khai thác đúng, số tiền mấy ngàn tỷ đồng kia phải gọi tên chính xác là chảy máu ngoại tệ. Theo báo cáo của Bộ GD-ĐT trình Quốc hội năm 2004, trong số vài ngàn DHS du học bằng tiền nhà nước, chỉ có 120 trường hợp quay về. 2. Nguyên nhân Sự hạn chế khả năng giải quyết việc làm cho người lao động ở nước ta những nguyên nhân cơ bản sau đây: - Dân số đông và gia tăng quá nhanh trong những năm gần đấy dẫn đến tình trạng thiếu việc làm. - Thất nghiệp gia tăng do suy giảm kinh tế toàn cầu: Nguyên nhân khiến người lao động bị mất việc chủ yếu do ảnh hưởng của suy thoái kinh tế toàn cầu. Nhiều doanh nghiệp phải thu hẹp sản xuất, có doanh nghiệp phải đóng cửa hoàn toàn do sản phẩm làm ra không tiêu thụ được, nhất là những doanh nghiệp xuất khẩu. Chính vì vậy, họ phải sa thải bớt lao động dẫn đến lao động mất việc làm - Nếp nghĩ đề cao việc học để “làm thầy” của người Việt Nam đặc biệt là ở giới trẻ mặc dù nếu bản thân học “làm thợ” sẽ tốt hơn hay “thích làm Nhà nước, không thích làm cho tư nhân”; như vậy là thiếu thực tế bởi không dựa trên khả năng của bản thân và nhu cầu xã hội. Một bộ phận LĐ trẻ có biểu hiện ngộ nhận khả năng bản thân; một bộ phận khác lại tự ti, không đánh giá hết năng lực thực sự của mình. Chọn nghề theo “nếp nghĩ” sẽ dễ mắc những sai lầm. Rất nhiều lao động trẻ "nhảy việc" để tìm kiếm thu nhập cao nên dẫn đến tình trạng dễ bị mất việc - Lao động Việt Nam có trình độ tay nghề thấp, chưa đáp ứng được yêu cầu mới, tính chuyên nghiệp chưa cao. Việc kỹ năng không đáp ứng yêu cầu và sự thiếu phối hợp giữa hệ thống đào tạo và giáo dục, các nhu cầu thị trường LĐ và quan niệm lạc hậu về vai trò và trách nhiệm giới. Tỷ lệ lao động được đào tạo nghề rất thấp, chỉ khoảng 26%. Lao động của chúng ta đúng là dồi dào thật nhưng vẫn không tìm được việc làm, hoặc có việc làm nhưng không ổn định một phần do trình độ chưa đáp ứng được yêu cầu. Do đó, lao động vẫn trong tình trạng bán chuyên nghiệp, công việc chắp vá, không ổn định. - Chính phủ thu hồi đất canh tác để xây dựng các khu công nghiệp nhưng chưa có chính sách đào tạo việc làm cho người dân dẫn đến tình trạng người dân mất đất không có công ăn việc làm, kéo nhau lên các thành phố lớn tìm việc. III. Các chính sách của chính phủ và tác động của nó tới vấn đề việc làm ở nước ta năm 2005-2009 1. Chính sách về kinh tế O O Y L P W AD1 AD2 AS LD1 LS LD2 Trong biểu đồ trên chúng ta thấy sự gia tăng tổng cầu dẫn đến sự mở rộng tổng cung. Bởi vì tăng tổng cầu về sản lượng, cầu về lao động ở mỗi mức lương sẽ phát triển dẫn tới sự gia tăng trong tổng số việc làm. Chính vì vậy để giải quyết vấn đề việc làm, trên phương diện kinh tế, Chính phủ sử dụng các chính sách kinh tế để tăng tổng cầu. Các chính sách này có thể liên quan đến việc tăng chi tiêu chính phủ, giãm lãi suất, thu hút vốn đầu tư trong nước, khuyến khích đầu tư nước ngoài vào nền kinh tế từ các công ty nước ngoài đa quốc gia… Sau đây là một số chính sách kinh tế cụ thể và tác động của nó tới vấn đề việc làm a) Gói kích cầu của Chính phủ Từ năm 2008, Chính phủ Việt Nam đã đưa ra các giải pháp, chính sách quan trọng nhằm ngăn ngừa lạm phát và ngăn chặn suy giảm kinh tế, thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển và tăng cường thực thi các chính sách bảo đảm an sinh xã hội, trong đó có việc triển khai gói kích thích kinh tế 8 tỷ USD (khoảng 9% GDP). Kết quả của việc thực hiện gói kích cầu lần thứ nhất của chính phủ đã hỗ trợ cho 1.110 dự án, giúp ngăn chặn suy thoái kinh tế cho 76.000 doanh nghiệp mới thành lập, giải quyết việc làm cho 1,5 triệu lao động. Tại phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 10, diễn ra trong hai ngày 29 - 30/10, Chính phủ đã quyết định sẽ triển khai gói chính sách hỗ trợ thứ hai đối với doanh nghiệp. Trong gói kích cầu này, Chính phủ đặt mục tiêu là hỗ trợ để có thể giảm bớt gánh nặng về chi phí, giúp doanh nghiệp duy trì được công ăn việc làm. Chính sách kích cầu của chính Chính phủ tác động tới mọi mặt của xã hội đặc biệt là tới vấn đề việc làm. Nhưng trong bài này, chúng tôi sẽ phân tích tác động của chính sách kích cầu tới vấn đề việc làm ở khu vực nông thôn. Việc chính phủ kích cầu nông thôn sẽ tạo điều kiện giảm bớt gánh nặng việc làm ở khu vực này. Gói kích cầu tập trung vào việc tạo thu nhập cho dân cư nông thôn, tăng số công ăn việc làm, cải thiện các dịch vụ y tế, giáo dục, phát triển cơ sở hạ tầng (điện, đường, trường, trạm, nước…) và cung cấp các tiện nghi khác cho nông thôn. Thực hiện gói kích cầu trong đó có kích cầu vào khu vực nông thôn, một mặt sẽ tác động làm giảm cung lao động về lâu dài, mặt khác sẽ tăng cầu lao động tại chỗ, hạn chế di cư ồ ạt từ nông thôn ra thành thị, dần nâng cao chất lượng nguồn lực nông thôn. Đặc biệt, việc dầu tư xây dựng các công trình trọng điểm kinh tế - xã hội của Nhà nước như Thủy điện Sơn La, Nhà máy lọc dầu Dung Quất và khu công nghiệp Dung Quất,…đã tạo việc làm cho hàng triệu lao động. Bên cạnh đó, gói kích cầu cũng được sử dụng vào hoạt động mở rộng, phát triển làng nghề, xã nghề, các doanh nghiệp vừa và nhỏ góp phần tạo cơ hội việc làm đầy đủ cho một số lượng lớn lao động nông thôn, giải quyết được phần nào tình trạng thất nghiệp theo mùa vụ. b) Chính sách thu hút vốn đầu tư * Chính sách thu hút vốn đầu tư trong nước: thị trường chứng khoán Năm 2001, thị trường chứng khoán Việt Nam ra đời. Một thập kỷ qua, thị trường chứng khoán Việt Nam đã đạt được những thành tựu và khẳng định bước phát triển hết sức quan trọng góp phần phát triển nền kinh tế trong nước trong đó có giải quyết vấn đề việc làm. Sự ra đời của thị trường chứng khoán Việt Nam là khá muộn so với các nước trên thế giới nhưng trong 10 năm hoạt động nó đã đạt được rất nhiều thành tựu. Tính đến năm 2007 đã có 202 công ty niêm yết trên Sở Giao dịch chứng khoán (GDCK) thành phố Hồ Chí Minh và trên Trung tâm giao dịch chứng khoán (TTGDCK) Hà Nội, với tổng mức vốn hoá thị trường đạt trên 300.000 tỷ đồng, chiếm khoảng 31% GDP (tăng 25 lần so với cuối năm 2005). Thị trường chứng khoán ra đời kéo theo sự ra đời của rất nhiều công ty đầu tư, mô giới chứng khoán góp phần tạo việc làm cho một số lượng lớn lao động vào các ngành như: đầu tư chứng khoán, tư vấn chứng khoán, mô giới chứng khoán,…. Việc thu hút vốn đầu tư vào thị trường chứng khoán chính là cách tận dụng vốn tồn đọng trong nhân dân. Tiền mua chứng khoán sẽ được các doanh nghiệp sử dụng vào sản xuất, gia tăng sản lượng. Việc gia tăng sản lượng sẽ kéo theo giải quyết được vấn đề việc làm. Tuy nhiên bên cạnh tác động tích cực, thị trường chứng khoán còn có những tác động tiêu cực tới vấn đề việc làm. Khi xảy ra khủng hoảng kinh tế, các doanh nghiệp gặp vấn đề lớn về vốn, cần nguồn đầu tư, nhưng lúc này, thị trường chứng khoán mất ổn định, các nhà đầu tư tạm ngừng đầu tư. Doanh nghiệp không có vốn để sản xuất dẫn tới giảm sản lượng, cắt giảm lao động. Mặt khác, khi thị trường chứng khoán khủng hoảng, rất nhiều nhà đầu tư trắng tay rút khỏi thị trường chứng khoán, quay trở lại thị trường lao động sẽ dẫn đến tình trạng thất nghiệp tái nhập gia tăng. * Thu hút vốn đầu tư nước ngoài Thực hiện chính sách đối ngoại và thu hút đầu tư mở rộng, hiện nay Việt Nam đã giao lưu thương mại với hơn 180 nước và vùng lãnh thổ, đầu tư trên 5.300 dự án với tổng vốn đầu tư khoảng 50 tỉ đôla vào Việt Nam. Lợi thế lớn của Việt Nam là nằm ở vị trí trung tâm trong vùng kinh tế của Trung Quốc và các nước Châu Á, nên rất thuận lợi cho giao thương quốc tế. Việt Nam có một nền chính trị ổn định và một xã hội an toàn, thân thiện, đồng thời với số dân 80 triệu người, nguồn lao động có văn hóa, cần cù và cầu tiến, Việt Nam thực sự là một thị trường tiềm năng lớn trong khu vực. Mặt khác Việt Nam là thành viên các nước Asean và Khu vực mậu dịch tự do AFTA với tổng dân số là 500 triệu người, và đang tích cực đàm phán để gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO ... Do vậy hàng hóa sản xuất tại Việt Nam dễ dàng thâm nhập vào các nước Asean, Trung Quốc, Mỹ và các nước Châu Âu với nhiều ưu đãi về thuế quan dành cho quốc gia đang phát triển. Nhằm cải thiện môi trường đầu tư ngày càng tốt hơn, Chính phủ Việt Nam đang có một số chủ trương chính sách mới, đó là: - Thứ nhất: Chính phủ Việt Nam đã thông qua Luật đầu tư chung cho các loại hình doanh nghiệp, đối xử bình đẳng quốc gia, không phân biệt giữa đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài, hoàn toàn xóa bỏ phân biệt về giá và lệ phí đối với nhà đầu tư nứơc ngoài. - Thứ hai: Ngoài các chương trình hợp tác đa phương, Chính phủ Việt Nam đã ký hiệp định song phương về khuyến khích và bảo hộ đầu tư với 50 nước và vùng lãnh thổ trên thế giới, tích cực đàm phán gia nhập WTO. Các cam kết quốc tế của Việt Nam đều hướng tới mục tiêu chung là nhằm mở cửa thị trường, tự do hóa hoạt động đầu tư nước ngoài. - Thứ ba: Tiếp tục thực hiện Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước, đồng thời đẩy mạnh cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước với phạm vi rộng lớn hơn, bao gồm cả một số tổng công ty, doanh nghiệp lớn làm ăn có hiệu quả, kể cả các ngành trước nay nhà nước giữ độc quyền như: Điện lực, Bưu chính Viễn thông, Ngân hàng...Các nàh đầu tư nước ngoài đều đều được mua cổ phiếu của các Donah nghiệp trong nước. - Thứ tư: Chính phủ đã cho phép chuyển đổi một số Doanh nghiệp đầu tư nước ngoài sang hoạt động theo hình thức công ty cổ phần, và đang có chủ trương mở rộng tỉ lệ mua cổ phiếu của các nhà đầu tư nước ngoài trong Doanh nghiệp. Một tác động tích cực quan trọng nhất về mặt xã hội của FDI là tạo việc làm và cải thiện chất lượng nguồn nhân lực. Đầu tư trực tiếp nước ngoài đã góp phần quan trọng vào việc giải quyết vấn đề việc làm và nâng cao chất lượng lao động ở nước ta. Đến nay, đầu tư trực tiếp nước ngoài đã tạo việc làm trực tiếp cho trên 1 triệu lao động và khoảng 3-4 triệu lao động gián tiếp, thu hút khoảng 5% số lao động mới hàng năm (trong khoảng trên 1,2 triệu lao động mới được giải quyết việc làm hàng năm), nếu tính cả lao động gián tiếp có thể đạt khoảng 20%, so với trung bình nhiều nước khoảng 10%, thì Việt Nam đạt loại trung bình khá (7, 2006)... Hàng vạn cán bộ, nhân viên kỹ thuật Việt Nam được nâng cao kỹ năng chuyên môn hay có thể thay thế nhân viên nước ngoài trong quản lý điều hành sản xuất kinh doanh, cũng như làm chủ công nghệ hiện đại. Tuy nhiên cơ hội việc làm được phân bố không đồng đều do FDI tập trung vào những ngành Việt Nam có ưu thế về lao động và thị trường như dệt may, da giầy, du lịch, xe máy hoăc những ngành nước ta chưa hay không có ưu thế cạnh tranh về vốn và công nghệ như khai thác dầu khí, viễn thông, ô tô, điện tử. Tình trạng thiếu lao động trong các doanh nghiệp FDI tại các khu công nghiệp, các thành phố lớn đang diễn ra, do sự phân bố không đồng đều FDI , sự cơ cấu lại về kinh tế của các địa phương và trình độ của lực lượng lao động. Vấn đề chất lượng nguồn nhân lực đang là một trở ngại lớn trong quá trình phát triển kinh tế, thu hút đầu tư nuớc ngoài và giải quyết việc làm. Chiến lược phát triển kinh tế theo định hướng xuất khẩu và thu hút đầu tư nước ngoài dựa vào lợi thế nhân công rẻ có thể giúp giải quyết vấn đề việc làm trước mắt, nhưng có thể không phát huy được vai trò trong trung và dài hạn, thậm chí có thể tạo ra những trở lực cho phát triển. c) Chính sách xuất khẩu lao động Trước tình hình thất nghiệp và việc làm khó khăn, tăng cường xuất khẩu lao động (XKLĐ) cũng là một hướng đi đúng đắn. Trong bối cảnh lao động cạnh tranh gắt gao như thế, nhưng Việt Nam vẫn xây dựng được thị trường lao động đa dạng phong phú, hàng năm đưa được số lao động ra nước ngoài ngày càng nhiều. Từ năm 2001, bình quân mỗi năm có 70.000 lao động được đưa đi ra nước ngoài. Chỉ tính trong 3 năm (2006 – 2008) trung bình mỗi năm đưa được hơn 83.000 lao động đi làm việc ở nước ngoài, chiếm khoảng 5% tổng số lao động được giải quyết việc làm trong cả nước. Và tính đến nay đã có khoảng 500.000 lao động Việt Nam làm việc ở 40 quốc gia và vùng lãnh thổ với hơn 30 nhóm ngành nghề. Các thị trường truyền thống như Hàn Quốc, Nhật Bản, Đài Loan không những duy trì số lao động đã có mà còn tăng thêm, như thị trường Hàn Quốc, trong năm 2008 đã nhận 12.000 lao động Việt Nam mới sang và tái tuyển dụng 6.000 lao động; thị trường Nhật Bản, ngoài chương trình hợp tác, nước ta đã mở thêm nhiều chương trình phi lợi nhuận, người lao động đi làm việc ở Nhật không phải nộp phí trước khi đi, nên tổng số tu nghiệp sinh Việt Nam sang Nhật năm 2008 đã lên đến 6000 lao động. Bên cạnh các thị trường truyền thống, Việt Nam đã và đang mở rộng việc xuất khẩu sang các thị trường khác như Brunây, Xingapo và một số nước khu vực Trung Đông như các Tiểu Vương quốc Ả rập thống nhất (UAF), Cata, Arập Xê út, Oman; đồng thời bước đầu triển khai thí điểm đưa lao động sang những thị trường mới có thu nhập cao là Oxtrâylia, Hoa Kỳ, Canada, Phần Lan và Italia. Xuất khẩu lao động của Việt Nam ngày càng được cải thiện về chất lượng lao động. Theo thống kê, lao động xuất khẩu qua đào tạo ngày càng tăng, năm 2006 là 31,9%; năm 2007 là 34,5% lao động có tay nghề tăng từ 35% ( năm 2003) lên 50% ( năm 2008). Các hoạt động về xuất khẩu lao động từng bước có hiệu quả và đi vào nề nếp, đã tạo cho người lao động xuất khẩu có thu nhập gửi về gia đình, tính bình quân mỗi năm, người lao động Việt Nam ở nước ngoài gửi về nước từ 1,6 tỷ USD đến 2 tỷ USD, riêng thị trường Hàn Quốc với gần 50.000 lao động, mỗi năm gửi về nước trên 700 triệu USD, Nhật Bản hơn 300 triệu. Để tạo điều kiện cho các doanh nghiệp cũng như người lao động trong quá trình tham gia xuất khẩu lao động. Bộ Lao động Thương binh và xã hội đã ban hành quyết định giảm chi phí môi giới, cùng với sự ra đời Luật Lao động nước ngoài vào tháng 7/2007. Bên cạnh cải cách thủ tục hành chính, tạo sự thông thoáng và giảm phiền hà cho người lao động, doanh nghiệp khi tham gia xuất khẩu lao động, việc siết chặt quản lý đối với các trung tâm dạy nghề và giới thiệu việc làm khiến người lao động phần nào yên tâm khi có nguyện vọng đăng ký đi lao động ở nước ngoài. Đồng thời, chúng ta đã đặt mối quan hệ chính thức với tất cả các nước khu vực UAE về hợp tác lao động. Từ đó khuyến khích lao động tham gia xuất khẩu lao động, tạo thêm công ăn việc làm cho những người thất nghiệp, đặc biệt là tầng lớp lao động khu vực nông thôn. Tuy nhiên, khi cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới xảy ra, nhiều nước nhập khẩu lao động đã buộc phải cắt giảm nguồn lao động về nước. Việc này khiến cho hoạt động XKLĐ của nước ta lâm vào tình trạng khốn đốn. Ngoài ra, theo như lãnh đạo Bộ LĐTB&XH cũng xác nhận, hoạt động xuất khẩu lao động vẫn còn nhiều mặt hạn chế. Việc ban hành các văn bản hướng dẫn thực hiện chậm, chưa đầy đủ, chưa thực sự theo sát, cập nhật với sự thay đổi của thị trường. Còn thiếu những chính sách đủ mạnh để khuyến khích phát triển thị trường lao động, khả năng tạo việc làm ổn định, bền vững chưa cao. Bên cạnh đó, vẫn còn tồn tại các hành vi lừa đảo, thu tiền bất chính của các tổ chức, cá nhân không có chức năng xuất khẩu lao động, gây ảnh hưởng xấu trong dư luận. Làm giảm sút lòng tin của người lao động đối với phương hướng phát triển của chính phủ. Một hạn chế lớn là chất lượng lao động còn thấp, mặc dù tỷ lệ lao động được đào tạo đã tăng lên gần 35% nhưng trình độ, kỹ năng chuyên sâu của nhiều lao động Việt Nam chưa thích ứng với yêu cầu ngày càng cao của thị trường loa động trong nước và nước ngoài. Một số lao động làm việc ở nước ngoài thiếu ý thức tổ chức, kỷ luật, vi phạm pháp luật nước sở tại, gây ảnh hưởng không tốt đối với lao động Việt Nam làm việc ở nước ngoài. Ảnh hưởng đến uy tín của lao động Việt Nam làm cho đơn đặt hàng lao động của các nước ở VN sa sút đáng kể. Tạo việc làm và xuất khẩu lao động hiện nay là nhiệm vụ quan trọng vừa vì an sinh xã hội, vừa là động lực của sự phát triển. Mặc dù gặp nhiều khó khăn, thách thức, nhưng tin rằng với những chủ trương, chính sách và giải pháp tích cực đặc biệt với những gói kích cầu mới của Nhà nước đồng thời với sự đồng tình, chung tay của toàn xã hội giải quyết việc làm và tìm thị trường xuất khẩu lao động, Việt Nam sẽ đạt được mục tiêu đề ra, giải quyết an sinh xã hội, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. d) Chính sách tài khóa 2. Chính sách về quản lý nhà nuớc (bảo hiểm thất nghiệp) Cuối tháng 6 năm 2006, chính sách bảo hiểm thất nghiệp đã được đề cập tới trong Luật Bảo hiểm xã hội và được Quốc hội thông qua. Ngày 12 tháng 12 năm 2008 chính sách này được cụ thể hóa bằng Nghị định 127 của Chính phủ. Và ngày 1 tháng 1 năm 2009, Bảo hiểm thất nghiệp chính thức được áp dụng trên toàn quốc. Nội dung chính của bảo hiểm thất nghiệp là: - Đối tượng được nhận BHTN là công dân VN làm việc theo hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc mà các hợp đồng này không xác định thời hạn hoặc xác định thời hạn từ đủ 12 tháng - 36 tháng với người sử dụng LĐ có từ 10 LĐ trở lên. - Điều kiện để được hưởng BHTN là phải đóng BHTN đủ 12 tháng trở lên trong vòng 24 tháng trước khi bị mất việc làm hoặc chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định của pháp luật; đã đăng ký với cơ quan lao động khi bị mất việc hoặc chấm dứt hợp đồng lao động và chưa tìm được việc làm sau 15 ngày kể từ ngày đăng ký với cơ quan lao động theo quy định. Với quy định này thì tối thiểu phải tới 1.1.2010, các lao động bị thất nghiệp có đóng BHTN mới bắt đầu được hưởng trợ cấp thất nghiệp. Năm 2009 mới tiến hành thu phí BHTN là chính. - Mức hưởng trợ cấp thất nghiệp hàng tháng bằng 60% mức bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng BHTN của 6 tháng liền kề trước khi NLĐ thất nghiệp. Thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp sẽ là 3 tháng nếu có từ đủ 12 tháng - dưới 36 tháng đóng BHTN; 6 tháng nếu có từ đủ 36 tháng đến dưới 72 tháng đóng BHTN; 9 tháng nếu có từ đủ 72 tháng đến dưới 144 tháng đóng BHTN; 12 tháng nếu có từ đủ 144 tháng đóng BHTN trở lên. Ở các quốc gia khác, bảo hiểm thất nghiệp đã được áp dụng từ lâu do nó có tác động lớn tới việc giải quyết các vấn đề việc làm nhưng đến nay nó mới được áp dụng ở Việt Nam. Bảo hiểm thất nghiệp đảm bảo cho người lao động có một khoản thu nhập bù đắp thu nhập bị mất do thất nghiệp và tạo điều kiện thuận lợi cho người lao động quay trở lại thị trường lao động. Tuy nhiên do mới được áp dụng nên tác động của bảo hiểm thất nghiệp trong việc giải quyết vấn đề việc làm ở Việt Nam còn nhiều hạn chế. 3. Chính sách về giáo dục đào tạo. nâng cao chất luợng nguồn lao động IV. Kiến nghị Để giải quyết vấn đề việc làm, chính phủ đã ban hành rất nhiều chính sách. Tuy nhiên, theo nhóm tôi, để giải quyết vấn đề việc làm, chính phủ cần bổ sung và hoàn chỉnh hơn những chính sách của mình. Sau đây là một số ý kiến của nhóm tôi về việc giải quyết vấn đề việc làm: - Hạn chế tăng dân số. - Hoàn thiện hệ thống bảo hiểm thất nghiệp: Bảo hiểm thất nghiệp ra đời sẽ góp phần ổn định đời sống và hỗ trợ cho người lao động được học nghề và tìm việc làm, sớm đưa họ trở lại làm việc. Bên cạnh đó bảo hiểm thất nghiệp còn giảm gánh nặng cho ngân sách Nhà nước và doanh nghiệp. - Thủ tướng Chính phủ vừa ban hành Quyết định số 30/2009/QĐ-TTg ngày 24/2/2009 về hỗ  trợ doanh nghiệp và người lao động bị mất việc làm di suy giảm kinh tế, trong đó quy định nhiều giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp và người lao động, trách nhiệm cụ thể của các Bộ, ngành , địa phương. Đề nghị Chính phủ chỉ đạo các Bộ-Ngành Trung ương và các địa phương sớm triển khai thực hiện nghiêm quyết định trên. Vấn đề cần quan tâ

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docPhân tích tác động của một số chính sách cụ thể mà chính phủ Việt Nam đã thực hiện trong vài năm trở lại đây để giải quyết vấn đề việc làm.doc
Tài liệu liên quan