Đề tài Phân tích tình hình sản xuất sản phẩm của công ty dung dịch khoan và hoá phẩm dầu khí DMC

 

LỜI NÓI ĐẦU 1

CHƯƠNG 1:ĐIỀU KIỆN SẢN XUẤT CHỦ YẾU CỦA CÔNG TY DUNG DỊCH KHOAN VÀ HOÁ PHẨM DẦU KHÍ DMC 3

1.1.Giới thiệu chung về Công ty dung dịch khoan và hoá phẩm dầu khí DMC: 3

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 14

2.1. Cơ sở lý luận của đề tài : 14

2.1.1. Lựa chọn đề tài: 14

2.1.1.Mụch đích , đối tượng, nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu : 14

Phân tích tính chất nhịp nhàng của quá trình sản xuất 23

CHƯƠNG 3: PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH SẢN XUẤT SẢN PHẨM CỦA CÔNG TY DUNG DỊCH KHOAN VÀ HOÁ PHẨM DẦU KHÍ DMC 24

3.1. Khái niệm, ý nghĩa và nhiệm vụ phân tích : 24

3.2. Phân tích tình hình sản xuất sản phẩm của DMC: 26

3.2.1. Phân tích tình hình thực hiện khối lượng sản phẩm theo mặt hàng: 26

1.Phân tích sản lượng theo kết cấu mặt hàng : 26

2. Phân tích sản lượng theo giá trị : 29

3. Một số giải pháp khác phục nhược điểm hiện tại của công tyDMC: 31

4.Kết luận và kiến nghị: 31

CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN 33

 

 

doc34 trang | Chia sẻ: huong.duong | Ngày: 31/08/2015 | Lượt xem: 491 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đề tài Phân tích tình hình sản xuất sản phẩm của công ty dung dịch khoan và hoá phẩm dầu khí DMC, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ới về sản phẩm kinh doanh vật liệu , hoá phẩm , dung dịch theo sự chỉ đạo của tổng công ty , tuân thủ pháp luật và các quy chế hiện hành. Đầu tư có hiệu quả các công trình XDCB bổ xung nguồn vố các trang thiết bị cần thiết , áp dụng công nghệ tiên tiến để nâng cao chất lượng sản phẩm , giá thành hợp lý để công ty đủ sức cạnh tranh và phát triển trong cơ chế thị trường Kiên toàn tổ chức cán bộ từ công ty đến các xí nghiệp thành viên , cải tiến quản lý, đào tạo đội ngũ quản lý vững vàng , công nhân kỹ thuật lành nghề đủ năng lực để đảm bảo đảm đương các hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty , săn sàng nhân nhiệm vụ bổ xung cần thiết do tổng công ty giao phó. Vừa mở rộng sản xuất , vừa mở rộng hợp tác , vừa tích cực vận động nội lực , chuản bị sẵn sàng chờ đón cơ hội kinh doanh và những thách thức trong thời gian tới . Với chủ trương tăng hàm lương chất xám , giảm hamg lượng vật chất trong sản phẩm , với chiến lược đầu tư lâu dài , với tài sản trí tuệ sẵn có , với truyền thống văn hoá thương mại đã hình thành trong 12 năm qua , chắc chán rằng trong tương lai lâu dài DMC sẽ có những bước phát triển vượt bậc , vượt qua thách thức của sự hội nhập . Tổ chức bộ máy quản lý Công ty sử dụng cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý hỗn hợp từ quan hệ giữa thủ trưởng và nhân viên theo một đường thẳng , với cơ cấu quản lý này nó giúp cho nhân viên được giám sát trực tiếp , tăng cường trách nhiệm cho từng cá nhân. Bảng thống kê số lượng và chất lượng lao động của DMC Trình độ học vấn Số lượng Tỷ trọng Trên đại học 12 1.98% Đại học 290 47.85% Cao đẳng trung cấp 121 19.7% Công nhân kỹ thuật 175 28.9% Nhân viên 8 1.32% Tổng cộng 606 100% Công ty dung dích khoan và hoá phẩm dàu khí DMClà đơn vị thành viên của Tổng công ty dầu khí Việt nam , có nhiệm vũ sản xuất kinh doanh như đã nêu thực hiện hạch toán độc lập theo sự chỉ đạo của tổng công ty . Quỹ tiền lương của công ty DMC bao gồm: Quỹ tiền lương tính theo đơn giá do Tổng công ty giao Quỹ tiền lương làm thêm giờ Quỹ tiền lương khác theo quy định của nhà nước và Tổng công ty Quỹ tiền thưởng của DMC được hình thành từ lợi nhuận để lại tại đơn vị phù hợp với các quy định của nhà nước và quy chế tài chính của tổng công ty . Để khuyến khiách cán bộ công nhân viên phát huy khả năng sáng tạo , tự giác hoàn thành không ngừng nâng cao NSLĐ Tình hình xây dựng là thực hiện kế hoạch : Công tác xây dựng kế hoạch của công ty DMC căn cứ vào : Các định hướng phát triển và chính sách chế độ của nhà nước đối với ngành dầu khí Dự kiến kế hoạch khoan và khai thác của xí nghiệp liên doanh VSP Các hợp đồng giưac Petro VietNam với các công ty dầu khí nước ngoài Kết quả điều tra nghiên cứu thị trường và các hợp đồng kinh tế của công ty DMC đã ký với khách hàng Trình tự lập kế hoạch của công ty : Dựa và khối lượng hàng tồn kho mới nhất , căn cứ vào tình hình tiêu thụ sản phẩm , dựa vào khối lượng hàng mà các hợp đồng đã ký vào tuần cuối mỗi tháng trưởng phòng kế hoạch tiếp thị hoặc người được giao nhận nhiệm vụ sẽ lập kế hoạch sản xuất trình giám đốc. Kế hoạch lập vào tuần cuối mỗi tháng là kế hoạch sơ bộ sau khi lập và trình giám đốc chi nhánh duyệt người được giao lập kế hoạch sẽ gửi bản kế hoạch này ra công ty công ty DMC biết và có sự diều chỉnh và phê duyệt. Sau khi công ty xem xét sẽ thêm vào các bổ xung hoặc phê duyệt . Sau đó côg ty DMC sẽ gửi cho trưởng phòng kế hoạch tiếp thị của chi nhánh . Căn cứ vào kế hoạch đã được công ty bổ xung , phê duyệt người được giao lập kế hoạch sẽ lập kế hoạch sản xuất chi tiết . Trong kế hoạch này nêu rõ số lượng sản phẩm , vật tư, vật liệu, tién độ cần phải chuẩn bị mua sắm và năng lực sản xuất của thiệt bị . Sau đó trình giám đốc chi nhánh và giao cho các trưởng phòng liên quan thực hiện . Cuối tuấn cán bộ kế toán sẽ lấy số liệu từ phòng kế hoạch thủ kho về tình hình sản xuất , bán hàng so với kế hoạch sản xuất , hàng tồn kho để có kế hoạch sản xuất bổ xung . Kết quả sản xuất hàng tháng được gửi về công ty DMC. Kết luận : Trong năm 2002 việc lập và hoàn thành kế hoạch được giao của công ty DMC là tương đối , công ty cũng đã hoàn thành tốt và vượt mức những chỉ tiêu kinh tế kế hoạch đề ra , trong đó có các chỉ tiêu cơ bản như : Tổng doanh thu , lợi nhuận gộp, Tổng nộp ngân sách , tổng thu nhập bình quân của người lao động . Đồng thời giữ vững được ttốc độ tăng trưởng về kinh tế xã hội , bảm bảo công ăm việc làm cho CBCNVC trong công ty, nâng cao đời ssóng cả về vật chất lân tinh thần thu hút được nhiều lao động giỏi .. Để đạt được những thành quả đó Công ty DMC đã có được những thuận lợi như: Được sự giúp đươ to lớn về mặt kỹ thuật và vốn từ tổng công ty Dầu khí Việt nam . Ngoài ra công ty còn có đội ngũ cán bộ kỹ thuật tay nghề cao , có ý thức tổ chức kỷ luật tốt , luân luôn học hỏi và phát huy sáng tạo , tiết kiệm cho công ty được nhiều tiền của . Tuy nhiên đến thời điểm này dó DMC cùng là một công ty khoáng sản nên việc khoáng sảng ngày càng cạn kiệt cũng là một khó khăn về nguồn nguyên liệu đầu vào cho công ty và vốn cũng là vấn đề lớn mà công ty cần tìm ra nguồn và các giải pháp để có được . Chương 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài 2.1. Cơ sở lý luận của đề tài : 2.1.1. Lựa chọn đề tài: Ngày nay các doanh nghiệp để đạt được hiệu quả kinh tế cao nhất thì các doanh nghiệp đó cần phải nghiên cứu và dự báo thị trường , đồng thời quản trị tốt các yếu tố sản xuất , áp dụng công nghệ mới không ngừng nâng cao năng suất lao động , chất lượng , giảm giá thành sản phẩm , tăng lợinhuận và doanh lợi . Vậy để làm được những điều đó thì các doanh nghiệp càn phải phân tích các hoạt động sản xuất kinh doanh của mình và rút ra được những kết luận xem xét xem các kế hoạch năm nay so với kế hoạch năm trước đã đạt hay vượt kế hoạch như thế nào để có đối sách cụ thể cho công ty. Vì vậy tác giả đã chọn công ty DMC để phân tích . Cụ thể là tác giả lựa chọn phân tích tình hình sản xuất sản phẩm của công ty dung dịch khoan và hoá phẩm dầu khí DMC. 2.1.1.Mụch đích , đối tượng, nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu : ý nghĩa : Trong các doanh nghiệp dầu khí không phải doanh nghiệp nào cũng có sản phẩm cuối cùng là dầu và khí , mà chúng có tiến hành một công đoạn , một công việc nào đấy như : dịch vụ , khoan , thăm dò , địa vật lý... Chính vì vậy sản phẩm sản xuất của từng doanh nghiệp khác nhau , nên chúng ta phân tích tình hình sản xuất một cách chung nhất ở một doanh nghiệp dầu khí . Đối với các doanh nghiệp , hoạt động sản xuất là hoạt động khởi đầu và là một trong những hoạt động kinh tế chủ yếu nhất . Nói cách khác nếu không tiến hành hoạt động sản xuất thì doanh nghiệp sản xuất không tồn tại và phát triển chúng bị biến dạng thành loại hình doanh nghiệp khác . Đương nhiên , phù hợp với cơ chế mới , phải trên cơ sở điều tra nắm bắt được cụ thể , chính xác nhu cầu thị trường , khi đó doanh nghiệp mới quyết định lựa chọn phương án sản xuất mặt hàng , khối lượng , quy cách sản phẩm . Có như vậy hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp mới phát triển và đạt được hiệu quả và đó cũng là đieèu kiện cơ bản cho sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp . Tính chất chủ yếu của hoạt động sản xuất được thể hiện ở 2 khía cạnh : Trước hết , khi tiến hành xác định các mục tiêu kinh tế – xã hội được thể hiện thông qua hệ thống các chỉ tiêu kế hoạch , các doanh nghiệp sản xuất đều phải xác định dựa trên cơ sở các chỉ tiêu thuộc về sản xuất . Nói cách khác các chỉ tiêu thuộc về sản xuất phải được xác định trước và nó được coi là cơ sở xác định các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật , tài chính khác như chỉ tiêu về lao động , trang bị , cung cấp vật tư , giá thành , tiêu thụ , lợi nhuận ...Mặt khác kết quả của việc thực hiện các chỉ tiêu sản xuất về khối lượng , chủng loại sản phẩm , về chất lượng và thời hạn có ảnh hưởng quyết định đến việc thực hiện các chỉ tiêu giá thành lợi nhuận của doanhnghiệp . Xuất phát từ vai trò của hoạt động sản xuất nói trên , khi tiến hành các hoạt động kinh tế của doanh nghiệp , trước hết cần phân tích đánh giá kết quả các hoạt động sản xuất . Khi đề cập đến kết quả các hoạt động sản xuất, bao giờ cũng phải đề cập đến đồng thời cả 2 mặt : kết quả của việc thực hiện các chỉ tiêu thuộc về khối lượng và chất lượng của sản xuất. Hai mặt này gắn bó mật thiết với nhau và tác động qua lại lẫn nhau ; không thực hiện được mặt chất lượng thì không thể nói đến mặt số lượng. Nhiệm vụ : Xuất phát từ những điều nêu trên việc phân tích tình hình sản xuất sản phẩm ở xí nghiệp có nhiệm vụ đánh giá một cách toàn diện các mặt sản xuất sản phẩm trong mối liên hệ chặt chẽ với thị trường và kế hoạch nhà nước nhằm mục đích: Đánh giá quy mô sản xuất , sự cân đối và phù hợp của nó với tình hình thực tế. Tìm ra những tiềm năng của sản xuất và khả năng tận dụng chúng . Xác định phương hướng chiến lược cho sản xuất kinh doanh trên các mặt: lợi sản phẩm , số lượng , chất lượng sản phẩm ... nhằm đạt hiệu quả cao nhất. Nội dung phân tích ở đây bao gồm : Phân tích khối lượng sản xuất cả bằng chỉ tiêu hiện vật và giá trị , phân tích loại mặt hàng và chất lượng sản phẩm , phân tích tình hình chuẩn bị sản xuất và ảnh hưởng của các yếu tố sử dụng máy móc thiết bị , vật tư , và lao động đến khối lượng sản suất , phân tích sự đáp ứng của sảnũút với thị trườngvà chiến lược sản phẩm. Phân tích các chỉ tiêu giá trị sản lượng : Các chỉ tiêu giá trị sản lượng hiện đang dược áp dụng ở các doanh nghiệp công nghiệp gồm : Giá trị tổng sản lượng, giá trị sản lượng hàng hoá và giá trị sản lượng hàng hoá thực hiện ; trong đó giá trị sản lượng hàng hoá thực hiện được đang là một trong những chỉ tiêu pháp lệnh. Giá trị sản lượng hàng hoá và giá trị sản lượng hàng hoá thực hiện được tính theo iá trị cố định nhằm tiện cho việc so sánh tốc độ phát triển qua các thời kỳ và so sánh các doanh nghiệp với nhau . Khí phân tích các chỉ tiêu giá trị sản lượng cần nắm vững các ưu nhược điểm của chúng để kết luận đúng mức . Nói chung nhất là khi chuyển sang nền kinh tế thị trường , các chỉ tiêu giá trị sản lượng phản ánh những kết quả gần gũi và tiện lợi hơn chi việc tính toán hiệu quả kinh tế . Tuy nhiên các chỉ tiêu trên với phương pháp tính toán như hiện nay còn mang nặng tính trùng lặp , bị ảnh hưởng nặng của các yếu tố giá cả , cơ cấu mặt hàng . Vì vậy trong quá trình phân tích phải biết kết hợp cả thước đo giá trị và hiện vật để bổ xung cho nhau, áp dụng những phương pháp phân tích cho phép loại trừ được những ảnh hưởng trên khi so sánh . Nội dung của các chỉ tiêu giá trị sản lượng như sau: Giá trị tổng sản lượng : Là chỉ tiêu phẩn ánh toàn bộ kết quả hoạt động của doanh nghiệp đã làm trong kỳ , không kể các công việc đó đã hoàn thành xong hay chưa . Nó bao gồm giá trị các loại sản phẩm sản xuất ra công việc đã hoàn thành , bán thành phẩm , sản phẩm dở dang , sản phẩm tự chế tự dùng, công cụ tự chế ... Giá trị sản lượng hàng hoá : Gồm giá trị các thành phẩm và công việc có tính chất công nghiệp đã hoàn thành trong kỳ , không kể các sản phẩm và công việc đó đã được bắt đầu từ bao giờ . Đó là khối lượng sản phẩm và công việc mà doanh nghiệp có thể cung cấp cho nền kinh tế quốc dân dưới dạng khác nhau. Giá trị sản lượng hàng hoá thực hiện : Là khối lượng sản phẩm và công việc mà thực tế doanh nghiệp tiêu thụ được . Chỉ tiêu này có tính phấp lệnh , vừa phản ánh mặt sản xuất , vừa phản ánh mặt tiêu thụ . Trước tiên ta phân tích giá trị tổng sản lượng và giá trị sản lượng hàng hoá . Sau khí đánh giá tổng quát bằng cách so sánh các giá trị thực tế đạt đưởctong kỳ phân tích so với kỳ gốc ( Nhằm thấy được mức độ tăng trưởng của sản xuất ) và đối với kế hoạch , cần đi sâu nghiên cứu từng chỉ tiêu bộ phận cấu thành bao gồm: Giá trị thành phần làm bằng nguyên vật liệu cuẩ doanh nghiệp: thường chiềm tỷ trọng lớn và có ý nghĩa quyết định đến các chỉ tiêu giá trị sản lượng . Chỉ tiêu này có thể phân tích sâu theo các hướng sau: Sự biến động về tỷ trọng trong các chỉ tiêu giá trị sản lượng, ảnh hưởng của việc sử dụng các nguồn tiềm năng sản xuất như thiết bị , lao động , vật tư , công nghệ ... đến việc hình thành chỉ tiêu đó. Giá trị chế biến sản phẩm bằng nguyên vật liệu của gười đặt hàng : Chỉ tiêu này thường có ở các doanh nghiệp gia công chế biến . Trong ngành công nghiệp dầu khí , chỉ tiêu này thường ít có . Quy mô và sự biến động của chỉ tiêu này có thể phân tích trong mối quan hệ giữa doanh nghiệp và bạn hàng , như nhu cầu gia công sản phẩm , khả năng đáp ứng về khối lượng , chất lượng và thời gian gia công , đơn giá gia công, điều kiện thanh toán... Giá trị các công việc có tính chất công nghiệp: Tuy tỷ trọng chiếm trong giá trị sản phẩm không nhièu song rất có ý nghĩa về mặt kết cấu , đực biệt là giá trị sửa chữa lớn máy móc thiết bị doanh nghiệp tự làm . Giá trị nguyên vật liệu của người đặt hàng: Đối với xí nghiệp chỉ tiêu này nói chung mang tính khách quan nhiều ( Do yêu cầu về sản phẩm của bạn hàng ). Vì vậy cũng câng khách quan khi phân tích . Các doanh nghiệp khai thác dầu khí cũng thường không có chỉ tiêu này. Chênh lệch giá trị giữa đầukỳ và cuối kỳ của nửa thành phẩm , sản phẩm chế dở , công cụ mô hình tự chế .. phụ thuộc vào tính chất công nghệ sản xuất như độ dài chu kỳ ... Việc đánh giá phải tuỳ trường hợp cụ thể , với yêu cầu là số dư cuối kỳ một mặt phải đảm bảo cho sản xuất ở kỳ sau được liên tục , một mặt không quá lớn thể hiện sự kéo dài của chu kỳ sản xuất hoặc sản xuất mất cân đối. Gia trị sản phẩm tự chế tự dùng được tính theo quy định đặc biệt: Về nguyên tắc không tính vào giá trị tổng sản lượng ( Để tránh trùng lặp trong phạm vi xí nghiệp ) . Tuy nhiên nhà nước q uy định hiện nay cho phép bốn loại xí nghiệp được tính trùng, trong đó có xí nghiệp khai thác than. Chỉ tiêu này được đánh giá trên nguyên tắc: ít nhất mà vẫn đảm bảo được sản xuất Riêng giá trị sản lượng hàng hoá thực hiện , theo quy định của uỷ ban kế hoạch nhà nước , kèm theo quýet định 217-HĐBT, được tính theo giá trị tiêu thụ sản phẩm . Phương pháp phân tích là ngoài việc đánh giá quy mô của chỉ tiêu , cần phải liên hệ đến các khía cạnh có liên quan , nư tình hình tiêu thụ về mặt số lượng, hiện vật , cơ cấu mặt hàng , sự biến động giá cả thiêu thụ , giá cả trong quan hệ cơ cấu với mặt hàng . Trong tương lai có thể phân tích giá trị gia tăng trong các doanh nghiệp , bằng việc so sánh thực hiện với kế hoạch , giữa năm phân tích và những năm trước. Có thể áp dụng biểu thức mối quan hệ giữa các chỉ tiêu giá trị để phân tích như sau: Hay: Ghhth=GtslxKhhxKtt Trong đó : Ghhth và Gtsl tương ứng là giá trị sản lượng hàng hoá thực hiện , giá trị sản lượng hàng hoá và giá trị tổng sản lượng Khh: Hệ số sản xuất hàng hoá Ktt: Hệ số tiêu thụ hàng hoá Trong tương lai, có thể phân tích giá trị gia tăng trong các doanh nghiệp, bằng việc so sánh việc thực hiện và kế hoạch giữa năm phân tích và những năm trước . Phân tích tình hình sản xuất về mặt khối lượng hiện vật : Phân tích tốc độ tăng trưởng và khả năng tăng trưởng của sản xuất Đây là một nội dung phân tích rất quan trọng nhằm thấy được tình trạng hiện tại của sản xuất đang ở đâu và xu thế phát triển của nó sẽ tới đâu và cuối cùng là cần định hướng nó ra sao cho có lợi nhất cho doanh nghiệp. Để phân tích có thể dùng chỉ số tốc độ phát triển định gốc và chỉ số tốc độ phát triển liên hoàn , nghiên cứu các dãy số liệu về khối lượng sản phẩm sản xuất ra, khối lượng sản phẩm đã tiêu thụ hoặc kết hợp chỉ tiêu giá trị sản lượng . ở đây nên dùng cả phương pháp biểu đồ để biểu diễn các chỉ tiêu theo thời gian. Đối với mỗi loại sản phẩm nhất định , việc phân tích tốc độ tăng trưởng có liên quan chặt chẽ đến chu kỳ sống của sản phẩm . Như đã biết một sản phẩm sản xuất và tiêu thụ thường trải qua các pha trong chu kỳ sống của nó là pha triển khai , pha tăng trưởng , pha bão hoà và cuối cùng là pha suy thoái . Việc phân tích phải xác định được sản phẩm hiên đang nằm trong giai đoạn nào để có đối pháp thích hợp. Riêng đối với xí nghiệp khai thác dầu khí cách đặt vấn đề có khác trên do đặc điểm là trong suốt thời gian tồn tại , nó chỉ sản xuất ra một loại sản phẩm vậy không thể đơn giản đặt vấn đề thay đổi loại sản phẩm chủ yếu . Do vậy không thể đơn giản đặt vấn đề thay đổi loại sản phẩm . ở đay việc phân tích ttốc độ tăng trưởng của sản xuất sẽ được liên hệ với thời kỳ phát triển của doanh nghiệp nói chung trong hoàn cảnh kinh tế xã hội nhất định . Trong nền kinh tế thị trường , sự phát triển của sản xuất thường cũng trải qua những giai đoạn có tính chất chu kỳ mà người ta gọi là chu kỳ kinh doanh. Nó cũng bao gồm các giai đoạn tăng trưởng , phồn thịnh , suy thoái và phục hồi . ở mỗi giai đoạn đó , mỗi chỉ tiêu về sản xuất kinh doanh đều có những đặc điểm nhất định về sự biến động và xu thế biến động . Khi phân tích sự tăng trưởng của khối lượng sản xuất , ngoài việc xác định điểm tồn tại của nó , còn cần phân tích xem đâu là yếu tố khách quan của hoàn cảnh kinh tế xã hội nói chung , của chu kỳ riêng trong chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp Phân tích hkối lượng sản xuất theo ngồn sản lượng và phương pháp công nghệ: Mục đích phân tích nhằm xác định tỷ trọng của các nguồn , phương pháp đó trong khối lượng sản phẩm chung , đánh giá kết cầu hợp lý và ảnh hưởng của việc phá vỡ kết cấu đó đến sản lượng chung cũng như xu hướng về loại nguồn sản lượng và áp dụng công nghệ nào hợp lý trong tương lai . Đẻ phân tích , một mặt so sánh khối lượng và tỷ trọng sản lượng của mỗi phương pháp công nghệ , mặt khác liên hệ chúng với các chỉ tiêu kinh tế – kỹ thuật đặc trưng . những con số để so sánh có thể là các mức kinh tế – kỹ thuật , các chỉ tiêu bình quân của ngành , các chỉ tiêu tương tự của các doanh nghiệp khác , các số liệu thử nghiệm về công nghệ mới hoặc các phương pháp tiên tiến đang áp dụng. Phân tích sản lượng theo các đơn vị sản xuất : Sự đóng góp của các doanh nghiệp sản xuất trong doanh nghiệp vào sản lượng chungcó thể ở 2 dạng : cùng song song sản xuất ra sản phẩm hàng hoá hoặc đảm nhận các công doạn hoặc sản xuất các bộ phận , chi tiết các thành phẩm . Phân tích tính chất đồng bộ của sản xuất sản phẩm : Tính chất sản xuất đồng bộ của sản xuất sản phẩm thể hiện ở sự cân đối về số lượng và chất lượng các chi tiết , bộ phạn được sản xuất , chế tạo ở các phân xưởng , các đơn vị khác nhau của xí nghiệp . Sự mất cân đối sẽ dẫn đến cả xí nghiệp có thể không hoàn thành nhiệm vụ sản xuất , trong khi ở đâu đó lại có sự thừa giả tạo , ứ đọng các bộ phận chi tiết sản xuất , ứ dọng vốn gây phức tạp cho quá trình quản lý sản xuất. Khi phân tích cần tim nguyên nhân gây mất cân đối về sản xuất bộ phận và chi tiết thành phẩm theo các hưóng sau : Tính đồng bộ của việc cung ứng vật tư kỹ thuật Tính cân đối về năng lực sản xuất của các đơn vị sản xuất ra các bộ phận và chi tiết. Chế độ công tác , tổ chức sản xuất và tổ chức lao động ở các bộ phận đó Phân tích tình hình sản xuất sản phẩm theo loại mặt hàng : Trong nền kinh tế thị trường có điều tiết từ phía nhà nước như hiện nay, phương pháp phân tích trên vẫn có tác dụng trong một số trường hợp đối với một số mặt hàng quan trọng , được nhà nước đặt hàng và giao thành chỉ tiêu pháp lệnh đối với xí nghiệp. Khối lượng sản phẩm theo các loại mặt hàng và cơ cấu của chúng trong tổng số sản phẩm hàng hoá thực hiện cần ddược phân tích và so sánh với những con số sau: Số lượng sản phẩm của các mặt hàng và cơ cấu tối ưu đối với xí nghiệp , có xét đến ràng buộc do điều kiện tự nhiên hoặc công nghệ sản xuất Số lượng sản phẩm của các mặt hàng và cơ cấu theo khả năng thiêu thụ trên thị trường . Muốn có được số liệu này xí nghiệp phải đầu tư cho công tác nghiên cứu và dự báo thị trường , thu thập thông tin và tổ chức xử lý để có kết luận đúng đắn . Để xác định một cơ cấu phù hợp , cần tiến hành phân loại thị trường để nghiên cứu , chẳng hạn có thể phân ra: những thị trường truyền thống và những thị trường mới , thị trường tương đối ổn định và kém ổn định , thị trường theo lãnh thổ địa lý Khối lượng sản phẩm theo mặt hàng và cơ cấu kế hoạch , muốn các con số này thực sự có ý nghĩa, các xí nghiệp phải đổi mới công tác kế hoạch hoá . kế hoạch mặt hàng phải là sự cân đối tổng hợp, tính toán khoa học trên các mặt của sản xuất kinh doanh , đảm bảo cho xí nghiệp đạt hiệu quả cao nhất trong điều kiện thực tế. Cụ thể là kế hoạch mặt hàng phải cân đối giữa khả năng sản xuất của xí nghiệp với nhu cầu thị trường , với các điều kiện tự nhiên , công nghệ sản xuất , khả năng đáp ứng về vật tư kỹ thuật...Kế hoạch phải được chỉ đạo thực hiện thường xuyên , có biện pháp uốn nắn các sai lệch và điều chỉnh khi cần thiết. Phân tích ảnh hưởng của chất lượng công tác đến khối lượng sản xuất sản phẩm : Chất lượng công tác hiểu theo nghĩa rộng bao gồm chất lượng mọi hoạt động trong sản xuất kinh doanh của mọi bộ phận và tất cả các khâu. Chất lượng các loại công tác thể hiện bằng nhiều các chỉ tiêu khác nhau và khó có thể lập kế hoạch , vì vậy không có số liệu kế hoạch cho phân tích . Để khắc phục người ta dùng phương pháp phân tích gián tiêp . Cụ thể là chất lượng công tác được phân tích thông qua các sự cố xảy ra ngoại tiến trình bình thưoừng , gây ách tắc cho sản xuất và ảnh hưởng đến khối lượng sản phẩm sản xuất đề ra . Như vậy , ở đâu chất lượng công tác tốt , quá trình sản xuất liên tục nhịp nhàng và ngược lại . Phân tích chất lượng sản phẩm Hệ số phẩm cấp : Trong đó : Hpc Hệ số phẩm cấp bình quân Qi Sản lượng sản phẩm thuộc phẩm cấp i gi Giá bán đơn vị sản phẩm i g0 Giá bán sản phẩm loại i Phân tích tính chất nhịp nhàng của quá trình sản xuất Phương pháp biểu đồ Phương pháp dùng hệ số nhịp nhàng Cơ sở thực tiễn của đề tài: Phân tích hoạt động sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp dầu khí là quá trình nghiên cứu hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đó phằng phương pháp chuyên dùng để đánh giá thực trạng của quá trình sản xuất kinh doanh , tìm ra nguyên nhân và các ưu nhược điểm , trên cơ sở các biện pháp để nâng cao hiêu quả kinh tế xã hội của doanh nghiệp . Qua đó ta thấy được tầm quan trọng của việc phân tích các hoạt động sản xuất kinh doanh . Không có một doanh nghiệp nào lại dám coi thường việc phân tích hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp mình , qua phân tích kinh doanh , doanh nghiệp có thể rút ra được bài học quý báu cho doanh nghiệp mình , khắc phục những khó khăn và phát huy những ưu điểm của những gì con tốt và sửa chữa những gì chưa tốt của doanh nghiệp . Qua đánh giá hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty dung dịch khoan và hoá phẩm dầu khí DMC tác giả đã nhận thấy rằng công ty đã tổ chức việc phân tích của mình tương đối tốt , phát huy tối đã khar năng hiện có của doanh nghiệp do đó doanh thu của công ty năm sau đã cao hơn nhiều năm trước và tình hình sản xuất sản phẩm của công ty cũng đã được chú ý một cách thích đáng , sản phẩm làm ra đúng thậm chí vượt kế hoạch rất nhiều . Chương 3: Phân tích tình hình sản xuất sản phẩm của công ty dung dịch khoan và hoá phẩm dầu khí DMC 3.1. Khái niệm, ý nghĩa và nhiệm vụ phân tích : Phân tích hoạt động sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp dầu khí là quá trình nghiên cứu hoạt động sản xuất kinh doanh bằng những phương pháp chuyên dùng để đánh giá thực trạng của quá trình sản xuất –kinh doanh tìm ra nguyên nhân của những ưu nhược điểm , trên cơ sở đó tìm ra các biện pháp để nâng cao hiệu quả kinh tế xã hội của doanh nghiệp . Nâng cao hiệu quả của quản trị kinh doanh , cần phải làm tốt 3 vấn đề : nhận thức , quyết định và hành động . Để giải quyết tốt 3 vấn đề trên , trong đó vấn đề nhận thức quá trình sản xuất kinh doanh là vấn đề đầu tiên. Để nhận thức đúng thực trạng sản xuất trong khoa học tự nhiên , xã hội , kinh tế đều phải tiến hành phân tích và tổng hợp , coi nó là công cụ quản lý quan trọng. Khi mục tiêu nhiệm vụ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đã được xác định , công cụ phân tích là cơ sở tiêu đề của công tác tổ chức quản lý , lập kế hoạch , kiểm tra việc thực hiện kế hoạch của việc nghiên cứu dự đoán thị trường để doanh nghiệp tồn tại và phát triển trong cơ chế mới , đồng thời nó là bộ phận quan trọng trong công nghệ ra các quyết định của lãnh đạo. đối với hoạch toán kinh tế , phân tích chính là công cụ giúp cho hạch toán đảm bảo được nguyên tắc cơ bản của nó là sản xuất kinh doanh có hiệu quả lấy thu nhập bù đắp chi phí và có lãi . Phân tích kinh tế , với những quan điểm đổi mới và phương pháp thích hợp , có thể giúp cho công týac hạch toán kế toán dần dàn khắc phục những nhược điểm vốn có của thời kỳ quản lý tập trung quan liêu bao cấp như tính trùng lặp , giả tạo , thiếu trung thực và đặc biệt là thiếu tự giác , quan tám đến hiệu quả kinh tế thực sự của sản xuất kinh doanh . Đối với công tác kế hoạch hoá , tác dụng của phân tích kinh tế thể hiện ở các mặt sau : Phân tích nhằm đánh giá bản thân kế hoạch theo những tiêu chuẩn đòi hỏi , như tính cân đối , tính tiên tiến , tính hiện thực ... Phân tích nhằm đánh giá quá trình thực hiện kế hoạch và kết quả thực hiện , nó là một trong những công cụ điều khiển quá trình sản xuất kinh doanh trong kỳ nhằm đạt được mục tiêu đề ra . Phân tích giúp cho việc định ra c

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docL0669.doc
Tài liệu liên quan