Đề tài Phân tích tình hình tài chính tại công ty vật liệu xây dựng và kinh doanh nhà Đà Nẵng

a.Đặc điểm mặt hàng sản xuất:

Sản phẩm gạch ngói và gạch ống được sản xuất và tiêu theo thời vụ, do đó công ty sử dụng nguồn lao động tại chỗ hợp đồng theo thời vụ và khoán theo sản phẩm. Hiện nay công ty đang cố gắng đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm bằng cách kết hợp mở rộng thị trường và áp dụng phương thức bán trả chậm. Bên cạnh đó, hoạt động khai

thác đá cũng được công ty tiến hành trang bị hệ thống nghiền đá, hệ thống máy

nghiền sẽ cho ra sản phẩm đá ở dạng mịn hơn dùng cho xây dựng cầu đường.

b.Kinh doanh vật liệu xây dựng: Đây là nhiệm vụ chủ yếu của công ty được

thành lập năm 1976.Trong cơ chế cũ hàng năm được Uỷ ban kế hoạch tỉnh giao chỉ tiêu tiếp nhận tại đầu nguồn một số xi măng, sắt, gạch lát nhà nhất định rồi phân phát cho các địa phương trong tỉnh. Nhưng từ năm 1989 đến nay, cùng với việc nhà nước đổi mới cơ chế quản lý kinh tế công ty phải tự tìm kiếm nguồn hàng mà công ty kinh doanh như xi măng, các loại hàng trang trí nội thất, sắt các loại.

c.Hoạt động xây lắp và kinh doanh nhà:

Đây là công việc mà công ty đảm nhận thêm từ cuối năm 1994, với chức năng này công ty đảm nhận xây lắp công trình dân dụng và mua bán nhà. Hiện nay ở công ty hoạt động này này đang phát triển và đem lại lợi nhuận nhiều nhất cho công ty, tuy nhiên phải chịu sự cạnh tranh gay gắt trên thị trường và cho đến nay công ty đã xây dựng được nhiều công trình có giá trị.

 

doc51 trang | Chia sẻ: leddyking34 | Ngày: 22/06/2013 | Lượt xem: 1625 | Lượt tải: 23download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đề tài Phân tích tình hình tài chính tại công ty vật liệu xây dựng và kinh doanh nhà Đà Nẵng, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
i sản (ROA): 2.Phân tích hiệu quả sử dụng TSCĐ: H1 = DTT hoaût âäüng kinh doanh Nguyãn giaï bçnh quán TSCÂ +Hiệu quả sử dụng TSCĐ (H1): Nguyãn giaï bçnh quán DTT hoaût âäüng sxkd Chỉ tiêu này phản ảnh trong 100 đồng TSCĐ đem đầu tư thì nó mang lại bao nhiêu đồng doanh thu, chỉ tiêu này càng lớn chứng tỏ hiệu quả sử dụng TSCĐ càng cao. Sæïc hao phê cuía TSCÂ = 3.Phân tích hiệu quả sử dụng TSLĐ: DTT hoaût âäüng sxkd TSLÂ bçnh quán Hiãûu quaí sæí duûng TSCÂ = LNTT Giaï trë TSLÂ bçnh quán Sæïc sinh låìi cuía TSCÂ = Säú väún tiãút kiãûm (-) hay laîng phê (+) = * DTT 4. Phân tích khả năng sinh lời của doanh nghiệp: LN DDT Khaí nàng sinh låìi tæì doanh thu = a.Phân tích khả năng sinh lời từ doanh thu: LNST DTT Theo quan điểm phân tích tùy theo đối tượng sử dụng thông tin mà chỉ tiêu này có thể tính toán theo nhiều cách khác nhau: Âäúi våïi chuí doanh nghiãûp = CP laîi vay DTT Âäúi våïi ngæåìi cho vay = LNTT DTT Âäúi våïi ngæåìi nháûn goïp väún = b. Khả năng sinh lời vốn chủ sở hữu (ROE): LNST VCSH bçnh quán ROE = Khả năng sinh lời vốn chủ sở hữu cao là điều kiện thuận lợi để doanh nghiệp thu hút vốn mới trên thị trường chứng khoán và thị trường tài chính. Ngược lại tỷ số này gặp trong sự thu hút vốn trong thị trường này. * Các nguyên nhân ảnh hưởng đến hiệu quả tài chính (ROE): Trong điều kiện kinh doanh doanh nghiệp huy động vốn từ nhiều nguồn nhất là thị trường tài chính chỉ tiêu này càng cao sẽ thu hút nguồn vốn mới đầu tư và ngược lại tỷ lệ này thấp dưới mức sinh lời cần thiết thì khả năng thu hút vốn đầu tư vào doanh nghiệp càng khó. Có thể thấy chỉ tiêu này chịu tác động của nhiều yếu tố chúng ta xem xét các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả tài chính. +Khả năng tự chủ về tài chính : Khả năng tự chủ về tài chính được thể hiện qua chỉ tiêu tỷ suất tự tài trợ, nếu tỷ suất tự tài trợ càng lớn thì hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp càng nhỏ.Tỷ suất tự tài trợ là tỷ lệ nguồn vốn chủ sở hữu trên tổng nguồn vốn nó thể hiện nguồn vốn chủ sở hữu chiếm bao nhiêu trong tổng nguồn vốn. Công thức: T: Là thuế suất thuế TNDN .Độ lớn đòn bẩy tài chính (ĐBTC): Đòn bẩy tài chính được định nghĩa là tỷ lệ nợ phải trả trên nguồn vốn chủ sở hữu. Thực chất nó thể hiện cấu trúc nguồn vốn của doanh nghiệp ở thời điểm hiện tại. Công thức tính hiệu quả tài chính liên quan đến đòn bẩy tài chính : ROE = Tỷ suất sinh lời tài sản (ROA) * (1+ĐBTC) * (1-T) Do vậy có thể thấy rằng nếu hệ số đòn bẩy càng cao hiệu quả tài chính sẽ được tăng lên. Tuy nhiên trong công thức trên tỷ số sinh lời tài sản vẫn còn ảnh hưởng bởi cấu trúc nguồn vốn vì lợi nhuận để tính chỉ tiêu này đã trừ đi chi phí lãi vay. Nåü phaíi traí NVCSH Cäng thæïc: Âoìn báøy TC = Do vậy để xem xét riêng ảnh hưởng của việc vay nợ ta nghiên cứu như sau: LNTT + CP laîi vay TS Tyí suáút sinh låìi kinh tãú cuía taìi saín(RE) = CP lãi vay = Nợ vay phải trả * Lãi suất vay Kết quả cuối cùng cho thấy, nếu tỷ suất sinh lời kinh tế của tài sản (RE) lớn hơn lãi suất vay thì việc vay nợ làm hiệu quả tài chính của doanh nghiệp tăng lên, hoặc ngược lại nếu RE nhỏ hơn lãi suất vay thì việc vay nợ làm hiệu quả tài chính giảm, rủi ro của doanh nghiệp tăng lên. Ngoài ra để phân tích hiệu quả tài chính chúng ta sử dụng hệ số khả năng thanh toán lãi vay. LNTT + Laîi vay Laîi vay Ht1 = +Khả năng thanh toán lãi vay (Ht1): Hệ số này càng cao hiệu quả sử dụng vốn cao chỉ tiêu này nhỏ hơn hoặc bằng 1 thì thể hiện doanh nghiệp phải sử dụng vốn chủ sở hữu để trả lãi vay. PHẦN II: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG VỐN LƯU ĐỘNG TẠI CÔNG TY VẬT LIỆU XÂY DỰNG –XÂY LẮP VÀ KINH DOANH NHÀ ĐÀ NẴNG A.GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT VỀ ĐẶC ĐIỂM HOẠT ĐỘNG KINH DOANH VÀ TỔ CHỨC BỘ MÁY QUẢN LÝ TẠI CÔNG TY : I.Quá trình hình thành và phát triển công ty: 1.Giới thiệu về công ty: Công ty Vật liệu xây dựng - Xây lắp và Kinh doanh nhà Đà Nẵng là một doanh nghiệp Nhà nước cấp thành phố, hoạt động trong lĩnh vực xây dựng. Công ty chịu sự lãnh đạo và quản lý trực tiếp của Sở xây dựng Tp Đà Nẵng, toàn bộ hoạt động của công ty có thể khái quát thành ba bộ phận sau: ø Sản xuất vật liệu xây dựng gồm: sản xuất gạch hoa, gạch ngói, khai thác đá. ø Kinh doanh vật liệu. ø Hoạt động xây lắp và kinh doanh nhà • Tên doanh nghiệp: Công ty VLXD- Xây lắp và Kinh doanh nhà Đà Nẵng •Tên giaodịch quốctế: Danang Construction Material and House-Building Company •Trụ sở giao dịch: 158 Nguyễn Chí Thanh – Tp Đà Nẵng •Điện thoại :0511.835742 • Fax: 84-0511.897548 •Số tài khoản:710A-00817-Ngân hàng công thương Tp Đà Nẵng •Tổng số vốn ban đầu :80.000VNĐ chưa kể TSCĐ 2.Quá trình hình thành và phát triển: Công ty VLXD và Kinh doanh nhà Đà Nẵng là một đơn vị Nhà nước thành lập vào tháng 08 năm 1976 do Uỷ Ban Nhân Dân cách mạng tỉnh Quảng Nam Đà Nẵng, theo quyết định số 4271/QĐ/CTUB và chịu sự quản lý trực tiếp của công ty xây dựng Quảng Đà. Đây là thời kỳ đầu của những ngày miền Nam giải phóng, công tác tổ chức các doanh nghiệp Nhà nước tại các địa phương chưa ổn định, nền kinh tế cả nước còn thực hiện theo cơ chế kế hoạch hoá tập trung. Đơn vị được giao nhiệm vụ thu mua các loại vật liệu xây dựng như: xi măng, gạch ngói, cát, đá, sỏi và sản xuất gạch hoa để cung cấp cho các cơ sở địa phương trong tỉnh. Đến năm 1983 khi công tác tổ chức doanh nghiệp Nhà nước tại địa phương dần ổn định, công tác thu mua và cung ứng các loại gạch hoa, ngói, cát, đá, sỏi được giao cho công ty cấp III do huyện quản lý. Năm 1985, công ty mua lại Xí nghiệp gạch ngói Đồng Nhất của UBND huyện Tam Kỳ và đổi tên thành Xí nghiệp gạch ngói số 4. Vào năm 1987 đơn vị được giao nhiệm vụ khai thác, chế biến đá Granit; xuất khẩu, sản xuất các mặt hàng xây dựng và sản xuất gạch ngói. Tại thời điểm này, công ty được đổi tên thành Xí nghiệp Liên Hiệp VLXD và đá xuất khẩu. Từ năm 1989, khi nền kinh tế bắt đầu dần chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường hoạt động và chế biến đá xuất khẩu bị bế tắt do nguồn vốn đầu tư có hạn, không đủ đáp ứng cho sản xuất. Trong khi đó nhu cầu về vốn của hoạt động này rất lớn, đơn vị chủ yếu dùng bằng nguồn vốn tín dụng. Hơn nữa, mặt hàng lại là sản phẩm VLXD cao cấp, công tác tổ chức chưa mang tính khoa học, giá thành sản phẩm làm ra rất cao, việc nghiên cứu thị trường chưa kỹ, khách hàng của công ty chủ yếu là các nước XHCN ở Đông Âu, khi các nước này sụp đổ, công ty không tìm được đối tác tiêu thụ, hàng hoá bị tồn đọng, lãi vay Ngân hàng không thanh toán được, máy móc ngừng hoạt động nhưng phải trích khấu hao. Điều này dẫn đến việc công ty bị thua lỗ nặng trong hai năm 1990-1991. Cuối năm 1992, theo nghị định số 388/H ĐBT của Hội đồng bộ trưởng về việc tổ chức doanh nghiệp Nhà nước. UBND tỉnh quyết định thành lập lại doanh nghiệp với tên gọi Công ty vật liệu xây dựng và đá xuất khẩu Quảng Nam Đà Nẵng Trong nền kinh tế thị trường tính cạnh tranh quyết liệt, đòi hỏi bản thân doanh nghiệp phải nổ lực không ngừng trên mọi phương diện từ khâu quan trọng nhất trong vấn đề sử dụng vốn và vận dụng vòng quay của vốn, từ khâu nghiên cứu thị trường để quyết định đầu tư cho việc sản xuất, tiêu thụ sản phẩm hàng hoá. Năm 1994, xét thấy hoạt động khai thác, chế biến đá Granit xuất khẩu không phù hợp với tình hình của công ty, không đem lại hiệu quả nên công ty đã giải tán hoạt động này, đồng thời đảm nhận thêm chức năng xây lắp và kinh doanh nhà, hình thành một chu kỳ khép kín trong hoạt động từ sản xuất kinh doanh vật liệu xây dựng đến khi tiêu thụ sản phẩm cho công tác xây lắp. Từ đó đến nay hoạt động của đơn vị ngày càng ổn định và có xu hướng phát triển tốt. 3.Chức năng và nhiệm vụ của Công ty: a.Chức năng: Công ty là một doanh nghiệp nhà nước cấp thành phố hoạt động trong lĩnh vực xây dựng chịu sự lãnh đạo trực tiếp của Sở xây dựng Tp Đà nẵng, toàn bộ hoạt động của công ty có thể được khái quát thành ba bộ phận như sau: .Sản xuất vật liệu xây dựng gồm:gạch ống, gạch ngói, khai thác đá .Tổ chức thực hiện bán buôn, bán lẻ các loại vật liệu xây dựng .Thực hiện việc xây lắp và kinh doanh nhà b.Nhiệm vụ: Công ty có nhiệm vụ phải linh động tìm kiếm nguồn hàng để cung cấp kịp thời trên thị trường. Bên cạnh đó, các mặt hàng do công ty sản xuất ra phải đảm bảo chất lượng nhằm cạnh tranh trên thị trường; tổ chức bán buôn bán lẻ tại thành phố, tìm nơi tiêu thụ cho sản phẩm sản xuất. Cần xây dựng các kế hoạch toàn diện, hàng năm và tiến hành việc tổ chức thực hiện tốt các kế hoạch đã đề ra.Chấp hành các chính sách chế độ pháp luật Nhà nước, thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước xây dựng và phát triển cơ sở vật chất kỹ thuật, nghiên cứu và áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ góp phần làm tăng hiệu quả hoạt động kinh doanh. Hoàn thành nghĩa vụ đối với Nhà nước,quản lý và chỉ đạo các đơn vị trực thuộc theo quy định hiện hành của Nhà nước và của công ty. II. Tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty: 1.Đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh: a.Đặc điểm mặt hàng sản xuất: Sản phẩm gạch ngói và gạch ống được sản xuất và tiêu theo thời vụ, do đó công ty sử dụng nguồn lao động tại chỗ hợp đồng theo thời vụ và khoán theo sản phẩm. Hiện nay công ty đang cố gắng đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm bằng cách kết hợp mở rộng thị trường và áp dụng phương thức bán trả chậm. Bên cạnh đó, hoạt động khai thác đá cũng được công ty tiến hành trang bị hệ thống nghiền đá, hệ thống máy nghiền sẽ cho ra sản phẩm đá ở dạng mịn hơn dùng cho xây dựng cầu đường. b.Kinh doanh vật liệu xây dựng: Đây là nhiệm vụ chủ yếu của công ty được thành lập năm 1976.Trong cơ chế cũ hàng năm được Uỷ ban kế hoạch tỉnh giao chỉ tiêu tiếp nhận tại đầu nguồn một số xi măng, sắt, gạch lát nhà nhất định rồi phân phát cho các địa phương trong tỉnh. Nhưng từ năm 1989 đến nay, cùng với việc nhà nước đổi mới cơ chế quản lý kinh tế công ty phải tự tìm kiếm nguồn hàng mà công ty kinh doanh như xi măng, các loại hàng trang trí nội thất, sắt các loại. c.Hoạt động xây lắp và kinh doanh nhà: Đây là công việc mà công ty đảm nhận thêm từ cuối năm 1994, với chức năng này công ty đảm nhận xây lắp công trình dân dụng và mua bán nhà. Hiện nay ở công ty hoạt động này này đang phát triển và đem lại lợi nhuận nhiều nhất cho công ty, tuy nhiên phải chịu sự cạnh tranh gay gắt trên thị trường và cho đến nay công ty đã xây dựng được nhiều công trình có giá trị. 2. Đặc điểm môi trường kinh doanh: Trong môi trường kinh doanh của công ty có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động của công bao gồm yếu tố kinh tế, môi trường tâm lý-văn hoá-xã hội, chính trị pháp luật, yếu tố tự nhiên, khách hàng, nhà cung cấp, đối thủ cạnh tranh…Trong đó yếu tố ảnh hưởng có tính chi phối mạnh mẽ đến hoạt động của công ty đó là có nhiều các đối thủ cạnh tranh mà hoạt động của họ cũng không thua kém gì công ty và uy tín của họ cũng rất cao, công ty đã và đang có các đối thủ cạnh tranh như: Công ty xây dựng Đà nẵng, công ty xây dựng số 1, công ty xây dựng số 7, công ty phát triển Khu công nghiệp Đà Nẵng… III. Tổ chức bộ máy quản lý: 1.Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của công ty: a.Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý của công ty: (Trang sau) Giám đốc Phó giám đốc Phòng Tài vụ Phòng Kế hoạch Phòng tổ chức hành chính Phòng Kinh doanh & VLXD Phòng Xây lắp và KD nhà XN Gạch Đội kính nhôm Các đội xây dựng Các cửa hàng Ghi chú: Quan hệ trực tuyến chỉ đạo Quan hệ phối hợp theo chức năng b.Chức năng, nhiệm vụ của từng các nhân, bộ phận trong bộ máy quản lý: *Ban giám đốc: -Giám đốc: Là người lãnh đạo cao nhất của công ty, toàn quyền điều hành mọi hoạt động sản xuất kinh doanh, tổ chức bộ máy quản lý thích hợp và chịu tránh nhiệm chung về mọi hoạt động của công ty theo chế độ một thủ trưởng. Là người điều hành toàn bộ hoạt động của công ty, Giám đốc giải quyết các vấn đề có tính chất chiến lược, định hướng phát triển lâu dài trong sản xuất kinh doanh; trực tiếp chỉ đạo công tác tài chính- kế toán, công tác tổ chức cán bộ, kế hoạch đầu tư phát triển sản xuất, đồng thời trực tiếp chỉ đạo các xí nghiệp, nhà máy, các đội xây dựng trực thuộc công ty. -Phó giám đốc: Chịu trách nhiệm về mọi hoạt động của phòng xây lắp, đồng thời tham mưu cho Giám đốc về hoạt động của công ty. *Các phòng ban chức năng: -Phòng kế hoạch: Làm nhiệm vụ tham mưu cho lãnh đạo, nghiên cứu thị trường so sánh với năng lực thực tế tại đơn vị để xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh cho toàn bộ công ty, thông thường các kế hoạch của đơn vị được xây dựng cho mỗi năm hoạt động. -Phòng tài vụ: Tham mưu cho lãnh đạo trong công tác tài chính, quản lý toàn bộ vốn và nguồn vốn hoạt động tại đơn vị. Căn cứ vào kết quả hoạt động kinh doanh và tình hình thực tế về vốn tại các đơn vị trực thuộc để đáp ứng kịp thời về vốn cho hoạt động kinh doanh ở một đơn vị và kèm theo các biện pháp thu hồi vốn, đảm bảo cho hoạt động tài chính của doanh nghiệp ổn định. -Phòng tổ chức hành chính: Z Bộ phận hành chính: Quản lý toàn bộ các khâu liên quan đến công tác hành chính của đơn vị, quản lý hồ sơ, cán bộ công nhân viên. Z Bộ phận tổ chức: Làm nhiệm vụ tham mưu cho Giám đốc về tình hình tổ chức nhân sự, tuyển chọn lao động, đáp ứng với điều kiện sản xuất trong thời kỳ theo yêu cầu hoạt động sản xuất; phòng có trách nhiệm theo dõi việc thực hiện các chế độ, chính sách, công tác Đoàn, Đảng; quan tâm đến đời sống cán bộ công nhân viên và các hoạt động về công tác xã hội của công ty. Qua đó tổ chức bình xét thi đua, khen thưởng cho các bộ phận và từng cá nhân trong công ty. -Phòng kinh doanh VLXD: Phụ trách công tác kinh doanh, quản lý, theo dõi việc mua bán VLXD, hàng trang trí nội thất và mạng lưới nhân viên bán hàng qua kho, quản lý các cửa hàng; theo dõi việc thu các đại lý, vận chuyển thẳng và việc xuất giao cho nhân viên bán hàng hưởng lợi. -Phòng xây lắp và Kinh doanh nhà: Phụ trách công tác xây lắp và kinh doanh nhà, tham mưu cho lãnh đạo trong công tác quản lý các xí nghiệp sản xuất, các đội xây dựng, có nhiệm vụ khai thác, tìm kiếm công trình và các đối tượng có nhu cầu xây dựng để đáp ứng nhu cầu cho khách hàng, đồng thời đẩy mạnh hoạt động kinh doanh của mình. 2.Tổ chức bộ máy kế toán tại công ty: a.Sơ đồ tổ chức bộ máy kế toán ở công ty: Kế toán trưởng Kế toán tổng hợp toàn công ty Kế toán thanh toán Kếtoán TGNH Kếtoán tiền mặt Kế toán vật tư, TSCĐ Thủ quỹ Kế toán các đội xây dựng Kế toán XN Cơ khí xây dựng Kế toán XN Gạch ngói b.Chức năng, nhiệm vụ của bộ máy kế toán tại công ty: -Kế toán trưởng: Quản lý chỉ đạo chung công tác xây dựng kết quả của từng hoạt động, cùng với Giám đốc thay mặt công ty ký kết các hợp đồng kinh tế, các hoá đơn chứng từ. Chịu tránh nhiệm trước lãnh đạo và cấc cơ quan tài chính chủ quản cấp trên về toàn bộ hoạt động tài chính kế toán tại công ty. -Kế toán tổng hợp: Căn cứ vào sổ sách kế toán của các đơn vị trực thuộc để tập hợp và lập báo cáo cho toàn công ty. -Kế toán tiền mặt: theo dõi tình hình biến động của tiền mặt trong việc thu, chi về đền bù giải toả và kinh doanh nhà của công ty. -Kế toán tiền gửi ngân hàng: theo dõi tình hình biến động của tiền gửi ngân hàng. -Kế toán vật tư, TSCĐ: theo dõi tình hình đầu tư xây dựng cơ bản của toàn công ty, tình hình thanh lý, giải toả, tính khấu hao và phân bổ cho các bộ phận liên quan. -Kế toán thanh toán: theo dõi các khoản phải thu của khách hàng; phải trả cho CBCNV, nhà cung cấp, các khoản tạm ứng, phải trả khác… -Thủ quỹ: có nhiệm vụ quản lý tiền mặt tại quỹ, thực hiện các nhiệm vụ thu, chi tiền mặt theo chứng từ đã được duyệt, kiểm tra số dư cuối ngày và lập báo cáo kiểm quỹ hàng tháng. 3.Hình thức sổ kế toán áp dụng tại công ty: .Hình thức sổ kế toán: Hình thức sổ kế toán áp dụng cho toàn công ty là hình thức Chứng từ ghi sổ có cải biên cho phù hợp với tình hình thực tế tại công ty. .Sơ đồ luân chuyển chứng từ: Chứng từ gốc Sổ quỹ, sổ tiền gửi ngân hàng Sổ kế toán chi tiết Chứng từ ghi sổ Tập quỹ, tập ngân hàng, tập tổng hợp Sổ Cái Bảng tổng hợp, chi tiết Bảng cân đối số phát sinh Báo cáo tài chính Ghi chú: Ghi hàng ngày Ghi hàng tháng Ghi cuối quý Quan hệ đối chiếu kiểm tra Hằng ngày căn cứ vào chứng từ gốc phát sinh, kế toán phụ trách của từng phần căn cứ vào các chứng từ gốc đã được kiểm tra để vào các tập quỹ, tập ngân hàng, tập tổng hợp; vào sổ kế toán chi tiết đối với các đối tượng cần theo dõi chi tiết; vào sổ quỹ, sổ tiền gửi đối với các chứng từ thu, chi tiền mặt, tiền gửi ngân hàng. Định kỳ tổng hợp số liệu dựa trên các tập quỹ, tập ngân hàng, tập tổng hợp để ghi vào Sổ Cái. Cuối kỳ từ số liệu trên Sổ Cái hoặc bảng tổng hợp chi tiết sẽ được tổng hợp để lập các Báo cáo tài chính cuối quý và lên Báo cáo tài chính cho cả năm. B.PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH TẠi CÔNG TY VẬT LIỆU- XÂY LẮP VÀ KINH DOANH NHÀ ĐÀ NẴNG: I.Một số nội dung liên quan đến tình hình tài chính của công ty: 1.Các quan hệ tài chính của công ty: a.Quan hệ tài chính của công ty đối với Nhà nước,chính quyền địa phương: Công ty Vật liệu-xây lắp và kinh doanh Nhà Đà Nẵng là một đơn vị Nhà nước nên vốn hoạt động được Ngân sách Nhà nước cấp và công ty tự bổ sung thêm nguồn vốn lúc cần thiết.Cũng như mọi doanh nghiệp Nhà nước khác, công ty có nghĩa vụ bảo toàn và phát triển vốn, đồng thời phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình đối với Nhà nước và tham gia các phong trào an toàn lao động do thành phố đề ra, đặc biệt phong trào đền ơn đáp nghĩa, thường xuyên thăm hỏi các gia đình chính sách giúp họ về mặt vật chất cũng như tinh thần trong những lúc khó khăn. b.Quan hệ tài chính của công ty với ngân hàng: Trung gian tài chính chủ yếu của công ty là Ngân hàng công thương, Ngân hàng đầu tư và phát triển Đà Nẵng đây nhà hổ trợ chính của công ty, giúp công ty vay vốn khi gặp khó khăn với mức lãi suất 0.65%/năm. c.Quan hệ tài chính giữa công ty với khách hàng: Là một trong những nhân tố quan trọng cho sự tồn tại và phát triển của công ty, họ là những người đến với công ty nhằm thoã mãn những đòi hỏi và mong muốn của mình. Chính vì vậy mà công ty luôn quan tâm đến quan hệ khách hàng, tìm cách lôi kéo và tạo niềm tin đối với họ vì mỗi khách hàng đều có những đặc điểm riêng nên cần có những chính sách phù hợp cho từng đối tượng. -Khách hàng là các đại lývà các doanh nghiệp kinh doanh: đây là các trung gian phân phối chủ yếu nên công ty áp dụng chónh sách hoa hồng, phương thức thanh toán cũng được ưu đãi. -Khách hàng là các đơn vị xây dựng: khi có nhu cầu họ thường liên hệ trực tiếp với công ty để ký hợp đồng mua bán với khối lượng lớn, ổn định nên công ty thường áp dụng chiết khấu nhưng được gia hạn trả tiền trong vòng 1 tháng. d.Quan hệ tài chính của công ty đối với các đơn vị trực thuộc: Công ty có một số đơn vị trực thuộc, các đơn vị đều hạch toán độc lập nhưng không đủ tư cách pháp nhân nên khi thiếu vốn hoạt động công ty thường đứng ra bảo lãnh cho các đơn vị này vay được vốn tại Ngân hàng. Có các đơn vị như: -Xí nghiệp bê tông thương phẩm và xây lắp Đà Nẵng tại khu công nghiệp Hoà Khánh, diện tích 9.400m2 -Nhà máy gạch tuy-nen Tam Phước, Tam Kỳ, diện tích 19.700m2 -Xí nghiệp Gạch ngói Quảng Thắng tại Khánh Sơn, Liên Chiểu Đà Nẵng. -Xí nghiệp xây dựng Sơn Trà diện tích là 10.000m2 -Xí nghiệp thi công cơ giới và xây lắp tại 57 Nguyễn Thái Học 2.Một số yếu tố kinh doanh ảnh hưởng đến công ty: Trong những năm kể từ khi Đà Nẵng trở thành Thành phố trực thuộc Trung Ương, được sự quan tâm của các cấp lãnh đạo Nhà n ước, sự lãnh đạo của các cấp chính quyền cùng với sự nỗ lực vươn lên và sự đoàn kết nhất trí cao của tập thể lãnh đạo và cán bộ công nhân viên. Công ty từng bước đầu tư thêm nghành nghề và được Uỷ ban thành phố giao nhiệm vụ làm chủ đầu tư cho các dự án, chỉnh trang đô thị, tái định cư …công ty đã hoàn thành tốt và được lãnh đạo các cấp tin tưởng. -Công ty có mạng lưới kinh doanh phân bổ trên các địa bàn như Đà Nẵng, Tam Kỳ, Hội an…Do đó cùng với các chi nhánh khác công ty đã đáp ứng được nhu cầu về xi măng, sắt thép, vlxd ngày càng tăng tại thành phố và các vùng lân cận. -Hệ thống bán hàng cùng với đội ngũ nhân viên bán hàng nhiệt tình năng nổ, công ty đã tổ chức tốt công tác bán hàng. 3.Nguồn số liệu phân tích: -Bảng cân đối kế toán ngày 31/12/2003 và 31/12/2004 -Báo cáo kết quả kinh doanh -Sổ chi tiết các tài khoản có liên quan như:TK131,331,211… -Tham khảo thuyết minh báo cáo tài chính tại công ty. II.Phân tích tình hình tài chính tại công ty VL-XL và KD Nhà Đà Nẵng: 1.Đánh giá khái quát tình hình tài chính thông qua Bảng cân đối kế toán: a.Phân tích cơ cấu tài sản: Từ bảng cân đối kế toán ngày 31/12/2004 ta có bảng phân tích tình hình phân bổ tài sản của công ty như sau: Qua bảng tổng kết tài sản ở trên ta thấy tổng số tài sản của công ty vào cuối năm 2003 là 128.027.931.910 đồng và đã tăng lên vào năm 2004 là 140.799.477.374 đồng.Tương ứng với mức tăng là 12.771.545.464 đồng với một tỷ lệ tăng là 9,98 % .Điều này chứng tỏ qui mô sử dụng vốn của công ty ngày càng được mở rộng,để xem xét vấn đề trên có đúng hay không ta cần đi sâu phân tích các khoản mục. Tài sản của công ty bao gồm hai loại tài sản đó là tài sản lưu động và tài sản cố định. Với số liệu của bảng phân tích tình hình phân bổ tài sản ta thấy việc gia tăng tài sản của công ty là do tăng tài sản lưu động. Năm 2003 so với năm 2004 tăng lên một lượng là 15.374.983.053 đồnghay tỷ lệ tăng 36,25% và tỷ trọng tăng từ 33,13% lên đến 41,05%. Là một doanh nghiệp vừa sản xuất vừa kinh doanh nên tài sản lưu động chiếm một tỷ lệ như vậy là hợp lý. Xem xét sâu hơn vào bảng phân tích tình hình phân bổ tài sản ta nhận thấy biểu hiện tăng của tài sản lưu động là do lượng tiền, khoản phải thu, và hàng tồn kho đều tăng. .Khoản phải thu: Cuối năm tăng so với đầu năm 10.986.864.830 đồng tương ứng với tỷ lệ tăng 41%, nhìn vào tỷ trọng khoản phải thu ta thấy nó chiếm một tỷ trọng lớn trong tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn. Khoản phải thu tăng là do khoản phải thu của khách hàng tăng cao, vì để kích thích tiêu thụ và gia tăng lượng hàng bán ra công ty dã thực hiện các chính sách tín dụng bán hàng như gia tăng thời hạn tín dụng ,số dư nợ định mức cho khách hàng cao để giải phóng hàng tồn kho.Mức tăng liên tục của khoản phải thu cũng đã làm tỷ trọng Nợ phải thu từ 20,48% vào đầu năm và cuối năm tăng lên đến 26,09%. Việc khoản phải thu của công ty tăng nhiều cũng cần phải lưu ý vì dễ dẫn đến những rủi ro cho công ty bởi khả năng thanh toán của khách hàng gặp trở ngại thì tình hình tài chính của công ty sẽ bị khó khăn. Bên cạnh sự gia tăng của khoản phải thu thì sự biến động của lượng tiền cũng không kém phần quan trọng trong việc tăng quy mô chung của tình hình sử dụng vốn. .Vốn bằng tiền: Tăng so với năm trước là 3.297.244.164 đồng tương ứng với mức tăng 26,89% làm cho tỷ trọng của nó trong tổng tài sản tăng từ 10,36% năm 2003 và là 11,05% trong năm 2004. Trong đó tiền gửi Ngân hàng của công ty tăng cao thêm một mức là 4.373.297.005 đồng tương ứng với tỷ lệ tăng là 43,06% trong năm 2004 chiếm một tỷ trọng tương đối lớn, nguyên nhân chủ yếu là do cuối năm công tác đền bù giải toả để xây dựng các khu dân cư của Thành phố chưa thực hiện xong mặc dù nguồn kinh phí đã được Thành phố cấp từ trước đó nên lượng tiền này công ty gửi vào Ngân hàng để tránh rủi ro và để thu được lãi từ tiền gửi Ngân hàng. Cũng vì lý do đó mà lượng tiền mặt vào cuối năm giảm mạnh đến 1.076.052.841 đồng tương ứng với tỷ lệ giảm là 51,08% Như vậy xem xét ở khía cạnh khác Vốn bằng tiền tăng chứng tỏ khả năng thanh toán tức thời của doanh nghiệp được dễ dàng, thông suốt nhất là trong những trường hợp lượng vốn của doanh nghiệp bị ứ đọng quá nhiều dưới các khoản phải thu. .Về hàng tồn kho: Vào thời điểm cuối năm lượng hàng tồn kho của công ty có tăng nhưng tăng ít so với đầu năm một lượng là 604.258.744 đồng tương ứng với tỷ lệ tăng là 18,05%. Nguyên nhân chủ yếu làm cho giá trị hàng tồn kho tăng là do đặc điểm hoạt động của mảng xây lắp và kinh doanh nhà thì việc hoàn thành sản phẩm phải kéo dài trong nhiều kỳ, nên làm cho chi phí sản xuất kinh doanh dở dang tăng lênmột lượng là 756.996.601 đồng tương ứng tỷ lệ tăng 77.95%. Mặc khác, công ty quyết định tăng lượng dự trữ vật liệu để đáp ứng nhu cầu xây dựng nhà đang gia tăng như hiện nay. Nếu cứ nhìn vào bảng ta thấy Hàng tồn kho tăng rồi kết luận là không tốt gây khó khăn cho doanh nghiệp trong quá trình sản xuất kinh doanh nhất là vấn đề quay vòng vốn là không chính xác, nhưng ta cũng nhận thấy rằng công ty cần có biện pháp, kế hoạch dự trữ thích hợp để đảm bảo đủ cung ứng không thừa cũng không thiếu. .Tài sản lưu động khác: Vào thời điểm cuối năm tăng so với đầu năm là 486.615.315 đồng với tỷ lệ tăng 68,47%, nguyên nhân chủ yếu là do nhân viên công ty tạm ứng để mua hàng chưa thanh toán lại. Qua phân tích ta thấy vốn lưu động của công ty tăng lên so với năm 2003 trong đó đặc biệt là lượng tiền vào cuối năm chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng tài snả lưư động, làm tăng khả năng thanh toán của công ty. Ngược lại khoản phải thu của khách hàng tăng đồng thời doanh số bán trong năm cũng tăng chứng tỏ doanh nghhiệp chưa tự chủ, chưa tăng cường thu hồi nợ thể hiện một tín hiệu không tốt điều

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docQuản lý và sử dụng vốn lưu động tại công ty vật liệu xây dựng –xây lắp và kinh doanh nhà đà nẵng.Doc
Tài liệu liên quan