Đề tài Quá trình hình thành, phát triển công ty cổ phần và vai trò của nó trong nền kinh tế Việt Nam

LỜI NÓI ĐẦU 1

PHẦN NỘI DUNG 2

CHƯƠNG I: SỰ RA ĐỜI PHÁT TRIỂN CÔNG TY CỔ PHẦN LÀ MỘT

QUẢ TRÌNH KINH TẾ KHÁCH QUAN VÀ VAI TRÒ CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ 2

1.1 Công ty cổ phần là gì? 2

1.2 Sự ra đời của công ty cổ phần là tất yếu kinh tế khách quan. 3

1.3 Công ty cổ phần là sản phẩm của nền kinh tế thị trường. 4

1.4 Điều kiện để hình thành công ty cổ phần. 5

1.5 Những vấn đề cơ bản về công ty cổ phần. 6

CHƯƠNGII: QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH PHÁT TRIỂN CÔNG TY CỔ PHẦN VÀ VAI TRÒ CỦA NÓ TRONG NỀN KINH TẾ VIỆT NAM 8

2.1 Việc hình thành và phát triển công ty cổ phần thông qua cổ phần hoá

là một yếu tố khách quan. 8

2.2 Các con đường cổ phần hóa để hình thành công ty cổ phần ở nước ta. 8

2.3 Phương hướng tiếp tục thực hiện việc hình thành và phát triển công ty

cổ phần thông qua các con đường cổ phần hóa. 9

2.4 Hình thái cổ và vấn đề cổ phần hóa ở nước ta hiện nay. 10

2.5 Cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước. 11

2.6 Tính tất yếu khách quan của việ hình thành công ty cổ phần ở nước ta. 14

2.7 Đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước về công ty cổ phần. 14

2.8 Các nguyên nhân cơ bản cản trở quá trình hình thành công ty cổ phần

ở nước ta. 15

CHƯƠNG III: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM ĐẨY NHANH QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH PHÁT TRIỂN VÀ NÂNG CAO VAI TRÒ CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN TRONG NỀN KINH TẾ NƯỚC TA THỜI GIAN TỚI 16

3.1 Mục tiêu cổ phần hóa. 16

3.2 Quá trình thực hiện chủ trương cổ phần hóa DNNN: 17

3.3 Vai trò của công ty cổ phần trong nền kinh tế nước ta. 18

3.4 Những vấn đề nảy sinh xung quanh công ty cổ phần. 19

3.5 Những giải pháp và kiến nghị để thúc đẩy quá trình hình thành công ty cổ phần

ở nước ta để nâng cao vai trò của công ty cổ phần trong phát triển kinh tế. 20

3.6 Kế hoạch xây dựng công ty cổ phần trong thời gian tới. 21

KẾT LUẬN 22

Tài liệu tham khảo 23

doc24 trang | Chia sẻ: huong.duong | Ngày: 01/09/2015 | Lượt xem: 644 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đề tài Quá trình hình thành, phát triển công ty cổ phần và vai trò của nó trong nền kinh tế Việt Nam, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ên tắc công ty không hoàn lại vốn, cổ phiếu chỉ mất đi khi công ty bị phá sản. 1.5.4 Quản trị công ty cổ phần. Công ty cổ phần được quản trị bởi một hội đồng quản trị do đại hội cổ đông bầu ra, số lượng thành viên trong hội đồng quản trị được qui định theo luật thương mại, thành viên hội đồng quản trị phải có cổ phiếu không chuyển nhượng được, kiểm toán viên không được là thành viên trong hội đồng quản trị. Hội đồng quản trị không thể thiếu được, nếu thiếu phái được thông qua đại hội cổ đông. Mỗi thành viên trong hội đồng quản trị đều có nhiệm kì cố định và được bầu sau mỗi kì. Hội đồng quản trị có các quyền nhiệm vụ vạch các chính sách để quản trị công ty: Mở rộng thu hẹp công ty, mua bán đổi trác tài sản, quyết định sản phẩm, bổ nhiệm bãi miễn giám đốc điều hành thông qua quy chế hoạt động công ty, phương án cổ tức; triệu tập đại hội cổ đông...... ChươngII: Quá trình hình thành phát triển công ty cổ phần và vai trò của nó trong nền kinh tế Việt nam 2.1 Việc hình thành và phát triển công ty cổ phần thông qua cổ phần hoá là một yếu tố khách quan. Nước ta qua nhiều năm đổi mới kinh tế, tuy đã đưa lại một số thành tựu, tạo thế và lực đề đất nước chuyển sang thời kì mới, thời kì đẩy mạnh công nghiệp hoá hiện đại hoá. Song không thể thực hiện được nếu thiếu điều kiện về vốn. Ngoài việc thu hút vốn từ nước ngoài còn cần phải nâng tỷ lệ huy động vốn trong nước, muốn vậy phải cổ phần hoá, một hình thái huy động vốn có hiệu quả. Cổ phần hoá để phát triển công ty cổ phần không chỉ để huy động vốn mà còn tạo thêm động lực thúc đẩy các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh có hiệu quả, khắc phục tình trạng vô chủ trong các doanh nghiệp nhà nước trước đây. Mặc dù cổ phần hoá các doanh nghiệp là cần thiết và có tác dụng to lớn nhưng việc thực hiện còn rất chậm. Điều nay có nhiều nguyên nhân như nhận thức khác nhau về cổ phần hoá, lãi suất tiền gửi nhân hàng và tín phiếu kho bạc còn cao hơn lại bảo đảm nên nhân dân và các tổ chức kinh tế muốn gửi tiết kiệm và mua tín phiếu hơn là mua cổ phiếu, cổ phần; một số giám đốc và công nhân chưa muốn cổ phần hoá; việc đánh giá tài sản doanh nghiệp còn khó khăn; công tác lãnh đạo, chỉ đạo chưa chặt chẽ. Không thể phát triển kinh tế thị trường hiện đại, không thể có thị trường chứng khoán nếu không cổ phần hoá cho dù bằng con đường hay giải pháp nào. Do vậy, sự hình thành phát triển công ty cổ phần thông qua cổ phần hóa và kinh tế tư bản nhà nước ở nước ta, để nâng trình độ xã hội hoá sở hữu tạo ngày càng nhiều sở hữu xã hội hóa, dưới hình thức công ty cổ phần, một hình thức của kinh tế tư bản nhà nước để quá độ lên chủ nghĩa xã hội là vấn đề mang tính khách quan và bức xúc hiện nay ở nước ta. 2.2 Các con đường cổ phần hóa để hình thành công ty cổ phần ở nước ta. Cổ phần hóa - một giải pháp để hình thành và phát triển công ty cổ phần thông qua ba con đường. + ở nước ta sau nhiều năm do nôn nóng, chủ quan duy ý chí và giáo điều nên đã xoá bỏ kinh tế tư nhân. Từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đến nay, kinh tế tư nhân nói chung đã được khôi phục và phát triển trong chừng mực nhất định, nên đã xuất hiện một số công ty trách nhiệm hữu hạn nhưng chưa nhiều. Nói cách khác loại hình công ty cổ phần theo con đường truyền thống đi từ tư nhân một chủ thành công ty trách nhiệm hữu hạn - công ty nhiều chủ, còn bị hạn chế do nhiều nguyên nhân. Nước ta đi lên CNXH từ một nước thuộc địa nửa phong kiến, sản xuất nhỏ là chu yếu, nên lực lượng năng lực về vốn không lớn, đặc biệt do ảnh hưỏng của cơ chế kế hoạch hóa tập trung là cho mai một. Việc hình thành công ty cổ phần theo con đường này đòi hỏi phải có một quá trình, đặc biệt là phụ thộc vào chính sách khuyến khích và giúp đỡ của Nhà nước đối với kinh tế tư nhân nói chung. + Công ty cổ phần hình thành qua cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước. Bằng con đường này, các doanh nghiệp nhà nước sau khi cổ phần hóa sẽ tồn tại dưới nhiều dạng khác nhau. - Doanh nghiệp nhà nước bán một phần cổ phiếu cho công nhân viên doanh nghiệp. - Doanh nghiệp nhà nước bán một phần cổ phiếu cho cả người trong và ngoài doanh nghiệp. - Loại doanh nghiệp nhà nước được giữ nguyên nhưng có phát hành cổ phiếu, trái phiếu để tăng vốn. - Doanh nghiệp nhà nước được thành lập bằng cách phát hành và bán cổ phiếu ngay từ khi thành lập. - Tách một phần vốn của doanh nghiệp nhà nước ra để tạo lập một doanh nghiệp nhà nước mới. + Công ty cổ phần được hình thành thông qua liên doanh liên kết giữa kinh tế nhà nước với tư bản tư nhân trong nước và tư bản nước ngoài. Đây là con đường phát triển công ty cổ phần được hình thành khá nhanh nước ta. 2.3 Phương hướng tiếp tục thực hiện việc hình thành và phát triển công ty cổ phần thông qua các con đường cổ phần hóa. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII đã chủ trương: “triển khai tích cực và vững chắc việc cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước.” và “áp dụng nhiều hình thức góp vốn liên doanh giữa nhà nước với các nhà kinh doanh tư nhân trong nước nhằm tạo thế và lực cho doanh nghiệp Việt Nam phát triển, tăng sức hợp tác cạnh tranh với bên ngoài. Đồng thời cải thiện môi trường đầu tư và nâng cao năng lực thu hút vốn đầu tư nước ngoài”. Cụ thể là: Thứ nhất, cần đánh giá đúng vai trò kinh tế tư nhân đồng thời có chính sách thoả đáng để khuyến khích kinh tế tư nhân đầu tư phát triển cả về chiều rộng lẫ chiều sâu, tạo cơ sở kinh tế cho việc chuyển hình thức tư nhân một chủ sang công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần có phát hành cổ phiếu. Bằng phương pháp này sẽ tạo điều kiện để phát triển công ty cổ phần nhanh hơn, góp phần làm cho các doanh nghiệp nâng cao chóng hiệu quả quá trình tích tụ vốn và tập trung vốn vào các doanh nghiệp lớn, tạo điều kiện đổi mới công nghệ hiện đại. Thứ hai, nắm vững mục tiêu cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước khi tiến hành cổ phần hóa. Các mục tiêu là: Trên cơ sở tổ chức sắp sếp lại các doanh nghiệp nhà nước thành 4 loại, mà đổi mới cơ cấu sở hữu, làm cho sở hữu nhà nước được củng cố và tăng cường, nắm được các vị trí then chốt, trọng yếu để giữ vai trò chủ đạo quyết định sự ổn định và phát triển nền kinh tế. Thực hiện tích tụ và tập trung vốn cuả nhà nước đầu tư vào các lĩnh vực then chốt, trọng yếu mà tư nhân hiện nay chưa có khả năng đầu tư. Bằng cách làm trên là tăng hiệu quả của việc huy động vốn, phân phối và sử dụng vốn trong tất cả các thành phần kinh tế, tăng tính xã hội hóa về mặt sở hữu tạo điều kiện về vốn cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Thứ ba, trong quá trình cổ phần hóa càn nắm được các yếu tố thuận lợi và khó khăn đang tác động như quan điểm đổi mới của Đảng và Nhà nước về cổ phần hóa hay sự nhỏ bé và yếu ớt của kinh tế tư nhân, sự thiếu vắng và non trẻ của thị trường tài chính, trong đó có thị trường chứng khoán. Thứ tư, việc chỉ đạo và thực hiện cổ phần hóa cần coi trọng các vấn đề sau: + Lựa chọn doanh nghiệp để cổ phần hóa, căn cứ vào chương trình tổng thể của việc tổ chức sắp sếp lại các doanh nghiệp nhà nước. + Dựa vào bảng tổng kết tài sản và kết quả hoạt động để xác định mục tiêu của cổ phần hóa; giải quyết thoả đáng với các nguồn vốn, những tồn đọng về tài chính trước khi chuyển sang công ty cổ phần; xác định giá trị doanh nghiệp chính xác về cả hữu hình và vô hình. + Xác định phương pháp và mức độ bán cổ phiếu một cách công khai rõ ràng. Các doanh nghiệp được cổ phần hóa sẽ hoạt động trong khuôn khổ luật công ty cổ phần cả về hình thức lẫn nội dung hoạt động tài chính. Cuối cùng, Nhà nước thông qua chức năng quản lí vĩ mô của mình tạo hành lang và môi trường chính trị, kinh tế, xã hội một cách thu lợi và ổn định, đưa các công ty cổ phần sau khi cổ phần hóa đi vào hoạt động bình thường và có hiệu quả. 2.4 Hình thái cổ và vấn đề cổ phần hóa ở nước ta hiện nay. So với hình thái sở hữu khác trong khuôn khổ của kinh tế thị trường, hình thái cổ phần ra đời muộn hơn cả. Điều đó có nghĩa là sự ra đời của hình thái cổ phần phải dựa trên những tiền đề vật chất và thiết chế kinh tế nhất định. Đó là sự phát triển trình độ cao của sức sản xuất xã hội cũng như mức độ hoàn thiện của cơ chế quan hệ hàng hóa - tiền tệ tương ứng với nó. Mức độ phổ biến của hình thái cổ phần trong điều kiện của nền kinh tế thị trường không phải chỉ là do nó có ưu thế tuyệt đối trong vệc tập trung vốn của xã hội cho những mục tiêu kinh doanh mà còn bao hàm trong đó những lợi điểm nổi bật sau: + Dưới hình thức cổ phần những người đồng sở hữu của công ty chỉ dược hưởng lợi và phải chịu trách nhiệm có giới hạn ở khuôn khổ số tiền mà họ đã bỏ ra để mua cổ phiếu. + Hình thái cổ phần đã tách quyền sở hữu với quyền quản lí và sử dụng vốn kinh doanh nên đã tận dụng một cách tốt nhất nguồn tài nguyên kinh doanh khan hiếm của xã hội thông qua chế độ thuê các nhà quản trị doanh nghiệp chuyên nghiệp. + Việc đầu tư tư bản ra nước ngoài dưới hình thái cổ phần đã trực tiếp mở rộng tính chất xã hội hóa của nền sản xuất xã hội theo xu hướng quốc tế hóa đời sống kinh tế. Hình thái cổ phần là một hình thái tổ chức sản xuất chứa đựng tính chất xã hội hóa rất cao trong khuôn khổ của kinh tế thị trường nên việc cổ phần hóa ở nước ta hiện nay với nội dung chủ yếu là chuyển một phần các doanh nghiệp quốc doanh sang hình thức công ty cổ phần thực chất là sự chuyển đổi hình thức xã hội hóa quá trình sản xuất từ dạng doanh nghiệp quốc doanh sang dạng công ty cổ phần. Sự thay đổi ở đây không phải là bản chất xã hội hóa của sản xuất mà là phương cách tổ chức sản xuất kinh doanh, phù hợp với sự chuyển đổi cơ chế kinh tế từ mô hình kế hoạch hóa tập trung sang kinh tế thị trường. Vì thế sự trì trện của tiến trình cổ phần hóa ở nước ta trong thời gian khá dài vừa qua là một sự chậm trễ lớn. - Dưới góc độ kinh tế thị trường cổ phần hóa không phải là tư nhân hóa. Trước đây chúng ta cho rằng cổ phà hóa doanh nghiệp nhà nước là do tính chất của CNXH bị suy yếu và không chấp nhận kinh tế thị trường nên cũng vì thế mà không chấp nhận các dạng thức xã hội hóa khác nhau của kinh tế thị trường. Nhưng trên phương diện logic và lịch sử hình thái cổ phần chính là mộ hình thái biểu hiện tính chất xã hội hóa cao nhất và hiệu quả của nó đã được thử thách qua thời gian với độ dài tính bằng thế kỉ. Và theo logic không thể chuyển sang kinh tế thị trường mà không chấn nhận hình thức tổ chức kinh tế chủ yếu đã tạo ra chính bản thân nó. - Để nâng cao sức mạnh kinh tế nhà nước không phải là các doanh nghiệp nhà nước vì nó chỉ là một trong số nhiều công cụ khác nhau trong tay nhà nước để điều hành nền kinh tế. Mà điều đã được khẳng định trong Nghị quyết đại hội lần thứ VIII của Đảng là: Cổ phần hóa là một biện pháp thực hiện mục tiêu này. 2.5 Cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước. Sắp xếp doanh nghiệp nhà nước thông qua các biện pháp giải thể, sát nhập và thành lập mới các tổng công ty và tập đoàn kinh tế mạnh của chính phủ nhằm cơ cấu lại khu vực kinh tế nhà nước. Chủ trương này được coi là cơ bản và cần thực hiện trước tiên trong cải cách doanh nghiệp nhà nước nhằm thu hẹp doanh nghiệp nhà nước đã phình to quá thái nhưng chưa giải quyết vấn đề quan trọng - vấn đề sở hữu. 2.5.1 Tính cấp thiêt của cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước. Trong tiến trình chuyển đổi kinh tế từ tập trung bao cấp sang cơ chế thị trường, sự đa dạng hóa các hình thức sở hữu đã trở thành đòi hỏi tất yếu và ngày càng phổ biến trong toàn xã hội. Những thành tựu của công cuộc đổi mới cho phép công chúng nhận thức ngày càng rõ hơn rằng bên cạnh hình thức sở hữu nhà nước, các hình thức sở hữu khác nếu được tạo điều kiện thuận lợi cũng phát huy vai trò tích cực trong đới sống kinh tế. Đồng thời việc đa dạng hóa các hình thức sở hữu cho phép thực hiện triệt để những nguyên tắc kinh tế nâng cao quyền tự chủ tài chính và khả năng tự quản kinh doanh sản xuất, nâng cao tinh thần trách nhiệm cũng như óc sáng tạo của người lao động và người lãnh đạo doanh nghiệp. Việc nhận thức sâu sắc như vậy thực sự đóng vai trò nền tảng cho một giải pháp cần thiết, quan trọng, thậm chí về phương diện nhất định được gọi là giải pháp trọng tâm của cuộc cải cách doanh nghiệp nhà nước - giải pháp cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước. 2.5.1.1 Xóa bỏ tình trạng vô chủ của doanh nghiệp. Thực tế rõ ràng mà mọi người đều thừa nhận là khu vực kinh tế quốc doanh kém hiệu quả hơn khu vực kinh tế tư nhân và tập thể. Thời kì dài trước đổi mới, doanh nghiệp nhà nước được hưởng chính sách tài trợ tràn lan đến mức bao cấp không tính đến lỗ lãi, không quan tâm đến tiết kiệm. Về phần chính phủ vì tin chắc rằng doanh nghiệp nhà nước sẽ đảm bảo thực hiện tốt mọi chủ trương phát triển kinh tế xã hội nên chính phủ cũng chẳng kiểm soát gay gắt ngân sách của các doanh nghiệp nhà nước, bù lỗ tràn lan cho nhiều doanh nghiệp nhà nước hoạt động kém hiệu quả ngay cả khi trên thực tế không còn cần duy trì DNNN như vậy nữa. Vô hình chung do buông lỏng quản lí một khoản vốn không nhỏ của chính phủ đầu tư vào kinh doanh sản xuất trông thấy thua lỗ. Để khắc phục tình trạng này, chủ trương xóa bỏ bao cấp trao quyền tự quả cho các DNNN là giải pháp kịp thời. 2.5.1.2 Tháo gỡ khó khăn cho ngân sách nhà nước đồng thời huy động được nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội. Ngững năm gần đây nền kinh tế Việt nam đang trong thời kì chuyển đổi mạnh mẽ, việc đảm bảo nền tài chính quốc gia vững mạnh là yêu cầ cực kì bức thiết. Ngân sách chính phủ không chỉ cần được phân bổ hợp lí mà cần được đàu tư có hiệu quả tối đa. Cổ phần hóa DNNN là giải pháp giúp chính phủ thực hiện được những đòi hỏi trên. Tài sản DNNN nhờ cổ phần hóa thu hồi lại sẽ được phân bổ cho những dự án quốc gia mang tính then chốt nhằm đảm bảo kinh tế phát triển bền vững và theo đúng định hướng của Đảng đã chọn. Hơn nữa công ty cổ phần dưới quyền điều hành của chủ nhân mới, với động lực mới trong quản lí doanh nghiệp, phương hướng hoạt động thay đổi theo hướng không ngừng củng cố sức cạnh tranh của công ty sẽ có thể huy động thêm nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội. 2.5.1.3 Tạo dộng lực mới trong quản lí doanh nghiệp. Cổ phần hóa DNNN đã biến doanh nghiệp trở thành có chủ, những người chủ trực tiếp điều hành và lao dộng trong chính doanh nghiệp. Quyền lợi của họ gắn liền với sự thành bại của doanh nghiệp vì thế tất cả các thành viên đều rất quan tâm đến công việc của mình, lao động tích cực với tinh thần trách nhiệm cao và óc sáng tạo phong phú. Những biểu hiện mới này hầu như không tồn tại trong doanh nghiệp trước khi cổ phần hóa. 2.5.2 Những nguyên tắc cơ bản của cổ phần hóa DNNN. Thông qua nghị quyết của Đại hội lần thứ hai ban chấp hành TW khoá VII, Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kì, Nghị quyết 10 - NQ/TW/1995 của Bộ chính trị, chủ trương cổ phần hóa DNNN đã được đặt ra một cách hết sức nghiêm túc và có hướng chỉ đạo rõ ràng. - Mục đích cơ bản của cổ phần hóa. + Thu hồi lại vốn của Nhà nước để phân bổ nguồn lực này hợp lí hơn, hiệu quả hơn. + Huy động vốn của côngnhân viên chức trong doanh nghiệp, cá nhân, các tổ chức kinh tế đầu tư phát triển. + Tạo điều kiện để người lao động thực sự làm chủ doanh nghiệp. - Đối tượng cổ phần hóa + Những doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ. + Không thuộc diện những doanh nghiệp cần thiết giữ 100% vố đầu tư nhà nước . + Có phương án kinh doanh hiệu quả. Ngoài ra đối với doanh nghiệp nghiệp lớn cũng có thể thực hiện cổ phần hóa theo hình thức phát hành cổ phiếu theo qui định nhằm thu hút thêm vốn phát triển sản xuất trong khi vẫn giữ nguyên giá trị tài sản hiện có của doanh nghiệp. Tuy nhiên khu vực kinh tế quốc doanh đóng vai trò chủ đạo trong nền kinh tế, Nhà nước cần duy trì 100% vốn nhà nước trên một số lĩnh vực quan trọng như các doanh nghiệp thuộc hạ tầng cơ sở, các doanh nghiệp sản xuất các sản phẩm chuyên dùng cho các lĩnh vực an ninh, quốc phòng, các doanh nghiệp thuộc cá ngành kinh tế then chốt hoặc đảm bảo số thu lớn cho ngân sách Nhà nước. 2.5.3 Thực trạng cổ phần hóa các doanh nghiệp. Là một giải pháp quan trong quá trình tổng thể đi mới và xắp xếp DNNN, tiến trình cổ phần hóa DNNN bắt đầu thực hiện từ năm 1991 đến nay sau gần 10 năm thực hiện đã trải qua 3 giai đoạn: Giai đoan thứ nhất thự hiện trong thời gian 1991 – 1994. Đây là giai đoạn kiểm kê toàn bộ DNNN, phân tích đánh giá tình hình hoạt động của doanh nghiệp và trên cơ sở đó thực hiện đăng kí lại các DNNN. Căn cứ pháp lí cho đợt này là Nghị định 388 HĐBT và Quyết định 202/CT. Đây cũng là giái đoạn thự hiện thí điểm cổ phần hóa DNNN với 3 DNNN được chuyển thành công ty cổ phần: Công ty đại lý liên hiệp vận chuyển 1993; Công ty cơ điện lạnh (1993); Xí nghiệp giày Hiệp An (1994). Giai đoạn thứ hai là thực hiện các quyết số 90/TTg, 91TTg, chỉ thị số 500TTg, tiếp tục giai đoạn trước đó, sắp sếp tổng thể hình thành hệ thống DNNN, bỏ dần chế độ Bộ chủ quản và các cấp hành chính chủ quản. Quá trình cổ phần hóa trong quá trình này đã được mở rộng, đánh dấu bằng Nghị định 28/CP ngày 7/5/96. Tuy nhiên tiến độ cổ phần hóa còn chậm. Trong giai đoạn này chúng ta có 20 doanh nghiệp được cổ phần hóa. Giai đoạn thứ ba thực hiện từ giữa năm 1998 đến nay, đưc đánh giấ bằng chỉ thị số 20/1998/CT - TTg ngày 21/4/1998 của Thủ tướng chính phủ về đẩy mạnh xắp xếp và đổi mới DNNN. Đây là giai đoạn mà tiến trình đổi mới, xắp xếp DNNN nói chung và cổ phần hóa nói riêng đươc đẩy mạnh với quy mô lớn, cụ thể là việc chính phủ ban hành Nghị định số 44/1998/NĐ-CP ngày 19/06/1998. Tính đến tháng 7 năm 2000 cả nước có 430 DNNN đã thực hiện cổ phần hóa với tông số vốn điều lệ trên 2000 tỷ đồng. Báo cáo hoạt động của 50 doanh nghiệp đã được cổ phần hóa hơn 1 năm cho thấy hầu hết đều chuyển biến tích cực kể kả những doanh nghiệp trước khi cổ phần hóa bị thua lỗ. Doanh thu bình quân hàng năm tăng hơn 25%. Số lượng lao động tăng bình quân 10%, thu nhập người lao động tăng bình quân 20% (chưa kể thu nhập từ cổ tức). Lợi nhuận hàng năm, tăng 26%, các khoản nộp ngân sách tăng bình quân trên 30% năm. Vốn điều lệ (bao gồm tích luỹ từ lợi nhuận, phát hành thêm cổ phiếu) tăng bình quân trên 25% năm. Lãi cổ tức đạt cao hơn lãi tiết kệm, đạt bình quân 1,2%/tháng, có những công ty đạt 2,5% tháng. Tuy nhiên hầu hết các doanh nghiệp cổ phần hóa là các doanh nghiệp nhỏ, vốn điều lệ thấp (bình quân xấp xỉ 6 tỷ đồng trên 1 doanh nghiệp). Trong số 430 công ty cổ phần, chỉ có 50 công ty có vốn điều lệ trên 10 tỷ đồng; còn lại là các công ty có vốn điều lệ dưới 10 tỷ đồng. Phần vốn thuộc sở hữu Nhà nước chiếm tỷ trọng lớn (35%). Mặc dù số lược DNNN cổ phần hóa trongnhững năm gần đây tăng lên nhanh chóng nhưng so với mục tiêu đến hết năm 2000 chuyển 1200 DNNN thành công ty cổ phần và so với các DNNN không thuộc diện nhà nước giữ 100% vốn thì tiến trình cổ phần hóa vẫn còn quá chậm. Nhiều doanh nghiệp lớn có tiềm lực kinh tế mạnh, đặc biệt là các Tổng công ty vẫn đang “đứng ngoài cuộc”, chưa sẵn sàng và chưa tích cực đổi mới theo hướng này. 2.6 Tính tất yếu khách quan của việ hình thành công ty cổ phần ở nước ta. Phân tích tính tất yếu khách quan hình thành công ty cổ phần ở nước ta cần chỉ ra điều kiện cần và đủ để hình thành công ty cổ phần. - Điều kiện hình thành công ty cổ phần. + Xuất phát từ nhu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng đa dạng hóa sở hữu, xác định người chủ đích thực của sở hữu nhà nước, thay đổi phương thức quản lí và hoạt động sản xuất kinh doanh để thích nghi với cơ chế thị trường. + Xuất phát từ nhu cầu huy động vốn để phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước. + Xuất phát từ mục tiêu nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống DNNN để nâng cao vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước. + Xuất phát từ xu hướng quốc tế hóa đời sống kinh tế và cổ phần hóa DNNN đã diễn ra ở hầu hết các trong cộng đồng thế giới. - Điều kiện đủ để hình thành công ty cổ phần. + Nền sản xuất đang dần được tự động hóa, mở rộng giao lưu với bên ngoài. Phân công lao động từng bước mở rộng, các thị trường từng bước hình thành, trình độ xã hội hóa sản xuất đã phát triển đến mức nhất định. + Hệ thống ngân hàng thương mại đang chuyển sang hoạt động kinh doanh tự hạch toán và có lãi. Ngân hàng thương mại cổ phần ra đời góp phần huy động vốn rộng rãi; hoạt động theo cơ chế mới là những điều kiện ban đầu vô cùng quan trọng để công ty cổ phần ra đời. + Đội ngũ cán bộ khoa học quản lí được đào tạo cơ bản đang từng bước tiếp cận với kinh tế thị trường hiện đại. + Nhà nước tạo hành lang pháp lí; luật pháp, các văn bản dưới luật, cùng bộ máy tổ chức thực hiện cổ phần hóa DNNN. 2.7 Đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước về công ty cổ phần. Nhận thức tính tất yếu khách quan của hình thức kinh tế công ty cổ phần ở nước ta hiện nay. Đảng, Quốc hội và Chính phủ đã cho ra đời nhiều văn bản pháp lý tạo cơ sở cho công ty cổ phần ra đời và hoạt động. + Quyết định số 202/CT ngày 8/6/1992 của Chủ tịch hội đồng bộ trưởng về tiếp tục thí điểm chuyển một số DNNN thành công ty cổ phần. + Chỉ thị số 84/TTg ngày 4/3/1993 của Thủ tướng chính phủ về việc xúc tiến thực hiện thí điểm cổ phần hóa DNNN và các giải pháp đa dạng hóa hình thức sở hữu đối với các DNNN. + Nghị định số 28/CP ngày 7/5/1996 của chính phủ về chuyển một số doanh nghiệp nhà nước thành công ty cổ phần. 2.8 Các nguyên nhân cơ bản cản trở quá trình hình thành công ty cổ phần ở nước ta. + Trình độ xã hội hóa sản xuất ở nước ta còn thấp. + Thị trường chứng khoán mới được thành lập và hoạt động thử nghiệm vào tháng 7 năm 2000 nhưng chỉ có 1 điểm giao dịch và còn rất nhiều mặt hạn chế. Mà thị trường chứng khoán là nơi để trao đổi mua bán cổ phiếu, trái phiếu.... nhằm khai thông dòng vốn dưới dạng cổ phiếu, trái phiếu vì vậy đã gây khó khăn cho sự hình thành công ty cổ phần. + Thiếu môi trường pháp luật, kiểm toán để hình thành công ty cổ phần. Luật pháp chưa quy định cụ thể về chế độ kiểm toán bắt buộc đối với hoạt động tài chính của công ty cổ phần, vì vậy các bảng tổng kết tài sản của công ty thiếu thuyết phục đối với các nhà đầu tư, việc phát hành cổ phiếu sẽ gặp nhiều khó khăn. + Nhận thức tư tưởng và tâm lí xã hội chưa quen với hình thức đầu tư bằng cổ phiếu, trái phiếu, có tâm lý e sợ lệch hướng XHCN. Do tồn tại lâu trong cơ chế kế hoạch hóa tập trung bao cấp nên không dám chấp nhận rủi ro mạo hiểm để đầu tư bằng cổ phiếu trái phiếu. + Chưa có văn bản pháp lí có tầm luật hoặc pháp lệnh về cổ phần hóa do đó phần lớn các doanh nghiệp không muốn cổ phần hóa. + Chưa có bộ máy tổ chức được giao đầy đủ quyền và nghĩa vụ tương xứng để thay mặt Nhà nước thực hiện nhiệm vụ cổ phần hóa. + Khó khăn về việc định giá, cơ quan chịu trách nhiệm. Chương III: Một số giải pháp nhằm đẩy nhanh quá trình hình thành phát triển và nâng cao vai trò của công ty cổ phần trong nền kinh tế nước ta thời gian tới 3.1 Mục tiêu cổ phần hóa. 3.1.1 Chuyển một phần sở hữu nhà nước thành sở hữu của các cổ đông nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất. Chúng ta đã có cuộc thử nghiệm trên thực tế “các quan hệ sở hữu đi trước một bước” đã không dẫn đến thành công. Nhưng thực tế cũng cho thấy, kinh tế nhà nước ở mức độ nào đó là cần thiết và là một công cụ điều tiết nền kinh tế. Cho nên một trong những vấn đề cơ bản trong chiến lược đổi mới là giảm một cách hợp lí khu vực kinh tế nhà nước và cổ phần hóa là một tỏng những biện pháp thực hiện sự cắt giảm này. Ngay từ khi bắt đàu công cuộc đổi mới chúng ta đã lựa chọn chiến lược phát triển nền kinh tế nhiều thành phần và cho đến nay đã đi được nhiều bước tiến tới tạo môi trường kinh doanh bình đẳng. Vài năm gần đây khu vực kinh tế ngaòi quốc doanh phát triển khá vững chắc. Điều này có nghĩa là khu vực kinh tế quốc doanh đã được thu hẹp một cách tương đối. Trong chiến lược phát triển kinh tế nhiều thành phần khu vực kinh tế Nhà nước tiếp tục giữ vai trò chủ đạo. Để đạt được điều này cần kết hợp chặt chẽ cổ phần hoá với việc tổ chức lại khu vực kinh tế quốc doanh, giữ lại số lượng hợp lý các doanh nghiệp lớn trong lĩnh vực nhất định đủ để điều tiết định hướng nền kinh tế và không vượt quá khả năng quản lý có hiệu quả của Nhà nước. 3.1.2 Huy động vốn và sử dụng có hiệu quả. Cổ phần hóa là điều kiện rất tốt để những người góp vốn và cán bộ công nhân viên trong doanh nghiệp có cổ phần nâng cao vai trò làm chủ thực sự, tạo thêm động lực thúc đẩy doanh nghiệp kinh doanh hiệu quả. Các công ty cổ phần mới thành lập theo luật doanh nghiệp sẽ có ưu việt về huy động vốn, khả năng mở rộng và thu hút cổ đông đáp ứng tính cạnh tranh trong kinh doanh, việc chuyển dịch vốn của các thành viên trong doanh nghiệp dễ dàng, việc chuyển nhượng chứng khoán ngoài xã hội rộng rãi hơn... Chính các công ty cổ phần thành lập mới sẽ là nguồn cung cấp hàng hóa đích thực cho thị trường chứng khoán. Tại thời điểm cổ phần hóa 370 DNNN cổ phần hóa có giá trị phần vốn Nhà nước là 1349 tỷ đồng qua cổ phần hóa đã thu thêm được 1432 tỷ đồng qua việc các cá nhân, pháp nhân thuộc mọi thành phần kinh tế đầu tư vào các công ty cổ phần, đông thời Nhà nước đã thu lại được 714 tỷ đồng để đầu tư vào các DNNN khác và giả quyết những chính sách cho người lao động trong DNNN thực hiện cổ phần hóa. 3.1.3 Tạo điều kiện để người lao động làm chủ doanh nghiệp. Trong cơ cấu tổ chức của công ty cổ phần do có hội đồng quản trị và cao hơn là Đại hội cổ đông nên hoạt động tài chính của doanh nghiệp thường xuyên được giám sát. Lợi ích của doanh nghiệp được gắn chặt với

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docL0870.doc
Tài liệu liên quan