Đề tài Quản lý và sử dụng lao động tại công ty cổ phần thức ăn chăn nuôi

 

lời nói đầu 1

phần II:thực trạng quản lý và sử dụng 3

1.Đặc điểm đội ngũ lao động tại công ty 3

2.Số lượng và cơ cấu lao động. 5

3.Chất lượng lao động 7

4-Công tác tuyển chọn lao động tại công ty cổ phần thức ăn chăn nuôI 10

5-Phân bổ và bố trí lao động tại công ty cổ phần thức ăn chăn nuôi 11

6.Công tác đào tạo và bồi dưỡng phát triển tay nghề đối với cán bộ công nhân viên trong công ty cổ phần thức ăn chăn nuôI 13

7.Yêu cầu đối với công tác quản lý lao động. 14

8.Điều kiện môi trường cho người lao động. 15

II.Hiệu quả sủ dụng lao động tại công ty cổ phần thức ăn chăn nuôI 15

1.Năng lực làm việc của người lao động. 15

2.Hiệp tác lao động: 17

3.Tạo động lực cho người lao động trong công ty 17

4.Thực hiện công tác kỷ luật lao động: 18

5.Cơ sở vật chất tại công ty cổ phần thức ăn chăn nuôI 19

6.Các hình thức trả lương 19

Phần III: Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả lao động tai công ty cổ phần thức ăn chăn nuôI. 22

I, Đánh giá thực trạng quản lý lao động 22

1.Những thành tích đã đạt được 22

2.Những mặt còn tồn tại 23

3.Về chất lượng cơ cấu phân bổ lao động trong công ty. 23

II.Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản 23

lý nhân sự tai công ty cổ phần thức ăn chăn nuôI 23

1.Tăng cường công tác quản lý lao động: 23

Kết Luận 25

 

 

 

doc26 trang | Chia sẻ: NguyễnHương | Ngày: 21/07/2017 | Lượt xem: 509 | Lượt tải: 4download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Đề tài Quản lý và sử dụng lao động tại công ty cổ phần thức ăn chăn nuôi, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường ,Công ty cổ phần thưc ăn chăn nuôI cũng như bao công ty chăn nuôikhác ,cũng phải chịu những qui luật khắc nghiệt của thị trường .ý thức được điều này ,những năm qua Công ty cô phần thức ăn chăn nuôi đã chủ trương đổi mới về nhiều mặt ,trong đó có vấn đề về quản lý số lượng và cơ cấu lao động . Việc xác định số lượng lao động và sự phân bổ nguồn lao động có ý nghĩa quan trọng trong việc hình thành một cơ cấu lao động tối ưu .Nếu như trong một doanh nghiệp sản xuất số lượng lao động gián tiếp dư thừa sẽ dẫn tới sự lãng phí nguồn lực ,tăng chi phí sản xuất kinh doanh,gây nhiều khó khăn trong việc quản lý của doanh nghiệp đó.Và nếu thiếu lao động gián tiếp thì việc đáp ứng các yêu cầu sản xuất kinh doanh sẽ phải gặp nhiều trở ngại .Vậy vấn đề đặt ra là phải xác định một cách hợp lý nhất ,chuẩn mực nhất cơ cấu này . Tổng số lao động của công ty tính đến ngày 31/12/2003 là 304 người .Trong đó: -Lao động hợp đồng không thời hạn là 302 người chiếm 99,34%tổng số lao động của công ty. -Lao động hợp đồng có thời hạn là 2 người chỉ chiếm 0,66% tổng số lao động của công ty. Nhìn vào số liệu trên,ta thấy sự chênh lệch quá lớn giữa số lao động hợp đồng không thời hạn 99,34% và số lao động hợp đồng có thời hạn 0.66% .Điều này chứng tỏ công ty cổ phần kinh nghiệm lâu năm và khả năng nắm bắt nhanh nhậy mọi vấn đề ,có chuyên môn kỹ thuật cao .lại gắn bó lâu dài với công ty .Nhưng do số lượng lao động hợp đồng không thời hạn là quá lớn so với tổng số lao động nên chi phí cho việc quản lý và trả lương cũng như các chế độ chính sách khác của Nhà nước đối với các đối tượng lao động này tăng lên một cách đáng kể.Tuy nhiên Công ty cố một đội ngũ lao động có tính kỷ luật tốt ,chuyên môn vững vàng và thực sự làm việc vì lợi ích chung của công ty và lợi ích chung của cả một tập thể người lao động. -Lao động trực tiếp là 217 người chiếm 77,64% tổng số lao động của toàn công ty. -lao động gián tiếp là 43 người chiếm 11,18 % tổng số lao động của toàn công ty. Việc giảm bộ máy quản lý và giảm số lượng lao động gián tiếp tại các phòng ban đã đem lại hiệu quả cao ,giảm đáng kể chi phí nhân công .Số lượng lao động trực tiếp tham gia sản xuát rất cao chiếm 77,64% ,trong khi đó lao động gián tiếp chỉ chiếm 11,18% ,đay là môt cơ cấu rất hợp lý,đảm bảo cho sản xuất mang lai hiệu quả trong khi bộ máy quản lý chỉ đạo luôn cung cấp đủ các thông tin cho bộ phận sản xuất.Tuy nhiên ,bên cạnh hai lương lao động của công ty,còn có một bộ phận đáng kể không tham gia sản xuất nhưng vẫn thuộc biên chế lao động của công ty ,đó là các cán bộ công nhân viên đang chờ nghỉ hưu theo đúng chế độ hưu trí Nhà nước đã qui định ,bộ phận này cũng chiếm một tỷ trọng bằng với số lao động gián tiếplà 11,18%. Số công nhân viên chức là nữ chiếm 11,18% tổng số lao động trong toàn công ty và chủ yếu làm việc gián tiếp tại các phòng ban và ở các dịch vụ khác.Không có lao động nữ trực tiếp tham gia sản xuất ,điều này rất hợp lý ,khoa học đối với một công ty thưc ăn chăn nuôI mà cụ thể là nghề sản xuất thức ăn gia súc ,thường xuyên phải tiếp súc với hoá chất nên gây nhiều khó khăn cho phụ nữ (nhất là nghững phụ nữ đã có gia đình )Với đặc thù đó công ty cần lực lưọng lao động nam trẻ khoẻ ,có tay nghề là chủ yếu. 3.Chất lượng lao động Một doanh nghiệp hay một công ty muốn đạt được kết quả sản xuất kinh doanh và chất lượng sản phẩm dịch vụ của mình,trước hết công ty,doanh nghiệp đó phải nâng cao trình độ tay nghề của tất cả bộ công nhân viên trong công ty ,muốn như vậy ngoài việc phải thông qua công tác tuyển chọn lao động còn có thể phụ thuộc vaò sự đào taọ cuả công ty.Vì chất lượng của lao động tại công ty Cổ phần thức ăn chăn nuôi được thể hiện trước hết ở trình độ học vấn ,trình độ chuyên môn và tuổi đồi cũng như thâm niên công tác của cán bộ công nhân viên qua số liệu dưới đây: Trình độ Số lượng Tỷ lệ Tuổi đời Thâm niên <30 30-50 >50 <5 >5 1 Cao đẳng trở lên 43 11,18 7 20 16 9 34 2 Trung cấp 15 4,93 2 9 4 6 9 3 CN kỹ thuật 208 71,06 93 107 8 109 99 4 Lao động phổ thông 38 12,83 8 29 1 8 30 5 Tổng số 304 110 165 39 132 172 6 Tỷ lệ % 100 36,18 51,32 12,5 43,42 56,58 Qua số liệu trên bảng 2 ta thấy: -Số người có trình độ cao đẳng trở lên là 43 người chiếm 11,18% tổng số lao động. Đây là một con số chưa cao.Nhưng lại kha phù hợp với những đặc thù vận tải của công ty.Ngoài ra, số người có thâm niên công tác trên 5 năm của công ty là khá cao 34/43. Con số này cho ta thấy sự đãi ngộ lớn đối những người có trình độ cao -Số người có trình độ trung cấp là 15 người chiếm 4,93% tổng số lao động _Số lượng công nhân kỹ thuật chiếm tỷ lệ lớn nhất trong tổng số lao động 71,06% -Lực lượng lao động phổ thông là 38 người chiếm 12,83% tổng số lao động Dựa vào các số liệu trên và các bảng chất lượng lao động cho ta thấy công ty cổ phần gũ cán bộ có trình độ cao đẳng,đại học và trên đại học là khá phù hợp với đặ thù của công ty.Đây chính là điều kiện thuận lợi lớn cho công ty.Đội ngũ cán bộ lãnh đạo, công nhân kỹ thuật lành nghề có thâm niên công tác lâu năm(chiếm 56,58% tổng số lao động)có kinh nghiệm lâu năm, chất lượng cao chiếm phần lớn trong công ty kết hợp với một đội ngũ lao động trẻ có độ tuổi trên dưới 30 chiếm tỷ lệ 36,18%.Họ là những cán bộ, công nhân kỹ thuât trẻ có khả năng sáng tạo, tìm tòi từ những kiến thức, từ bên ngoài vào để áp dụng cho công ty mình.Đặc biệt họ có lòng say mê công việc,có nhiệt huyết,có năng lực tiếp thu những kiến thức mới, khoa học kỹ thuật tiên tiến nên họ rất nhạy bén trong công việc.Đội ngũ lao động trẻ đó lại được dìu dắt tận tình, truyền đạt kinh nghiệm của đội ngũ cán bộ lâu năm của công ty, giúp cho công ty ngày càng nâng được tầm quan trọng của mình trong nền kinh tế thị trường hiện nay. Qua đây, ta thấy công ty cổ phần thưc ăn chăn nuôiđang có những hướng đi đúng đắn, phù hợp với những chính sách của Đảng và Nhà nước đã đề ra. Công ty đã biết cách kết hợp hài hoà giữa hai thế hệ cán bộ công nhân viên, trong đó cán bộ trẻ có khả năng sáng tạo, nghiên cứu, nắm bắt những cái mới để đưa ra các phương án sản xuất kinh doanh hiệu quả nhất còn những cán bộ lãnh đạo lớn tuổi lại có trình độ hiểu biết lâu năm hơn, có kinh nghiệm để chỉ huy, nhận xét, đánh giá và đua ra quyết đinh cuối cùng. Sự kết hợp này là động lực thúc đẩy công ty cổ phần thức ăn chăn nuôI ngày càng lớn mạnh, đem lại uy tín chất lượng cao không chỉ ở trong nước mà còn ở các nước khác 4-Công tác tuyển chọn lao động tại công ty cổ phần thức ăn chăn nuôI Tuyển chọn lao động là một trong những khâu quan trọng của quản trị nhân sự. Khi nguồn nhân lực thiếu hụt, công ty cần tuyển chọn những người thích hợp để thay thế vào những vị trí đó. Tuyển chọn lao động vào làm việc gắn liền với đòi hỏi của công việc sản xuất kinh doanh của công ty. Nó phải đạt được các yêu cầu về trình độ chuyên môn hiệu xuất công tác tốt, năng xuất lao động cao, có kỷ luật, trung thực, có sức khoẻ và gắn bó lâu dài với công việc của công ty. Vì vậy, ta sẽ thấy được sự thay đổi kế hoạch sản xuất kinh doanh thông qua sự biến động lao động. STT Chỉ tiêu LĐ đầu kỳ Biến động trong kỳ LĐ cuối kỳ Tăng Giảm 1 Lao động trong biên chế - Kỹ sư, cư nhân - Nữ 342 60 48 50 13 2 90 2 6 302 71 44 2 Lao động hợp đồng 43 0 41 2 3 Tổng số 385 50 131 304 Nguồn :phòng tổ hức lao động ( đến 31/12/2002) Nhìn vào bảng 3 ta nhận thấy số lượng cán bộ công nhân viên của công ty trong năm 2003 vừa qua cũng tăng giảm một lượng đáng kể. Trong đó chủ yếu là giảm. Do nhu cầu công việc, công ty vận tải ôtô số 3 đã tuyển chọn thêm 50 lao động trong biên chế để bù đắp sự thiếu hụt về nguồn lực. Số lao động trong biên chế này đa phần được tuyển chọn từ số lao động có hợp đồng thời hạn mà công ty đã kí kết trước đó. Con số 90 lao động trong biên chế nghỉ việc là mọt con số khá lơn nhưng nó lại không gây ảnh hưởng lớn đến công ty. Nguyên của việc giảm lao động một phần nhỏ là do một số công nhân viên chức tự ý thôi việc để chuyển sang làm cho một đơn vị khác phù hợp với năng lực của mình và một số lao động bị buộc thôi việc do không chấp hành nội quy. Con số này khá nhỏ chỉ 1 hay 2 người. Nguyên nhân chủ yếu của việc lao động là sự giảm biên chế lao động mà Nhà nước quy định và quy định về hưu trí. Do những quy định này số lượng cán bộ công nhân viên chờ nghỉ hưu của công ty là khá lớn, 44 người chiếm 11,18% tổng số lao động của công ty. Hiện nay số lượng công nhân viên trong công ty đã được sắp xếp ổn định và khá phù hợp nên công ty không phải thuê thêm lao động hợp đồng, và tiến tới đây công ty chỉ tuyển thêm lao động khi cần thay thế các vị trí trống. Đó là khi các cán bộ công nhân viên chức nghỉ việc. Ngoài ra công ty vẫn liên tục tuyển chọn các công nhân kỹ thuật có trình độ tay nghề cao để mở rộng địa bàn hoạt động, nâng qui mô của công ty đem lại hiệu quả lớn trong sản xuất kinh doanh. 5-Phân bổ và bố trí lao động tại công ty cổ phần thức ăn chăn nuôi Bố trí lao động một cách hợp lý sẽ tạo điều kiện thúc đẩy sản xuất tốt hơn, tiết kiệm được chi phí nhân công, đồng thời nâng cao chất lượng công việc của người lao động. Do đó việc bố trí và phân bổ lao động là mộy trong những nghệ thuật của các nhà quản lý . STT Bố trí cán bộ Trình độ cán bộ Cao đẳng- ĐH Trung cấp CN kỹ thuật 1 Ban giám đốc 4 2 Trưởng ,phó phòng 8 STT Bố trí lao động Số người Tỷ trọng (%) 1 2 3 4 5 6 7 8 Tổng số lao động Bộ phận lãnh đạo Phòng tổ chức lao động Phòng kế hoạch Phòng tài vụ Phòng hành chính Phòng tư vấn Các đơn vị sản xuất 304 4 3 3 7 7 5 275 100% 1,32 0,99 0,99 2,31 2,31 1,61 90,47 (Nguồn số liệu tại phòng tổ chức lao động T12/2003) Tại các đơn vị sản xuất bố trí một trưởng một phó phụ trách lao động Nhìn vào số liệu bảng 5 ta thấy công ty đã bố trí và sử dụng lao động ở các phòng ban là khá hợp lý ,đáp ứng được khối lượng công việc mà công ty giao .ở các phòng ban bộ máy quản lý được tổ chức khá gọn nhẹ ,hợp lý mang lại hiệu quả cao cho công ty . Để đáp ứng được các yêu cầu khắt khe của nền kinh tế thị trường đòi hỏi các doanh nghiệp ,nhất là các doanh nghiệp nhà nước vẫn còn ảnh hưởng của nền kinh tế cũ phải có đội ngũ cán bộ ,công nhân viên có trình độ ,có khả năng sáng tạo ,tìm tòi ,có sự hiểu biết sâu rộng . Chính vì vậy , ngoài việc chú trọng công tác tuyển chọn lao động ,công ty cổ phần thức ăn chăn nuôicòn chú trọng vào việc bố trí cho các cán bộ công nhân viên trong công ty tham gia các lớp bồi dưỡng và nâng cao trình độ nghiệp vụ ,giúp cho họ hiểu biết sâu hơn về trình độ chuyên môn ,cũng như nắm bất nhanh nhậy hơn về mọi vấn đề trong công việc và họ cũng chính là nhữnh người truyền đạt kinh nghiệm cho thế hệ trẻ vừa mới bước chân vào nghề. 6.Công tác đào tạo và bồi dưỡng phát triển tay nghề đối với cán bộ công nhân viên trong công ty cổ phần thức ăn chăn nuôI Ngày nay khoa học kỹ thuật ngày càng phát triển mạnh mẽ ,để không bị lạc hậu cần phải thường xuyên nâng cao học vấn và trìh độ chuyên môn .Không ngoài mục đích đó,công ty cổ phần thức ăn chăn nuôI thường xuyên đào tạo cán bộ công nhân viên ,giúp họ nâng cao chuyên môn qua hai hình thức đào tạo chính: -Đào tạo nội bộ -Đào tạo chính quy *Đào tạo nội bộ : là hình thức tự đào tạo .Công ty mở lớp học nghề cho lao động mới và các lớp nâng cao trình độ về tay nghề cho cán bộ công nhân viên.Trong thời gian đi học họ vẫn được nhận lương và các khoản khác. *Đào tạo chính quy: là hình thức cung cấp một số lượng lao động có trình độ tay nghề ,có chuyên môn do các trường đại học ,cao đẳng ,trung cấp đào tạo ra,cnên công ty không phải mất thời gian đào tạo và chi phí đào tạo Năm 2003 vừa qua, công ty cổ phần thức ăn chăn nuôI đã gửi đi đào tạo đại học và trên đại học tại trường nông nghiệp và một số các trường đại học khác có liên quan. Việc công ty gửi các cán bộ công nhân viên đi đào tạo nhằm chuẩn bị nguồn lực trong tương lai, đáp ứng các yêu cầu công tác và vị trí cán bộ của công ty trong một vài năm tới. Cùng với việc đào tạo nâng cao trình độ học vấn cho các cán bộ công nhân viên ,công ty còn mở các lớp học, khoá học nâng cao cho công nhân Ngoài ra, công ty còn mở các lớp học an toàn lao động ,quy chế lao động cho công nhân viên nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất cho người lao động. 7.Yêu cầu đối với công tác quản lý lao động. Để đánh giá hiệu quả sản xuất của người lao động, ngoài các yếu tố mang tính chất định tính, yếu tố quan trọng nhất chính là tổng chi phí sản xuất kinh doanh (yếu tố định lượng) hay còn gọi là tổng giá thành sản phẩm. Việc giảm giá thành tổng sản phẩm sẽ giúp cho công ty cổ phần thức ăn chăn nuôI tăng hiệu quả đem lại lợi nhuận cao hơn ,sức cạnh tranh trên thị trường sẽ ngày càng lớn. Để thực hiện giá thành tổng sản phẩm ta cần phân tích bản chất của nó : Tổng chi phí = chi phí + chi phí + chi phí sản nhân công nguyên vật liệu xuất khác Trong đó : chi phí nhân công = chi phí quản lí + chi phí nhân công trực tiếp * chi phí nguyên vật liệu = chi phí nguyên vật liệu + chi phí nguyên vật liệu chính phụ * chi phí sản xuất khác :bao gồm tất cả các chi phí còn lại liên quan tới sản phẩm . Để giảm giá thành dịch vụ ta phải giảm các chi phí cấu thành nên nó .Đó là chi phí nhân công, chi phí nguyên vật liệu, chi phí sản xuất khác. Nhưng trong quản lí nhân sự quan trọng nhất là phân tích đến chi phí nhân công. Do đó để giảm giá thành ta phải giảm chi phí nhân công. Bản chất của chi phí nhân công chính là tổng các khoản thu nhập có tính chất lương . Như vậy ,yêu cầu đối với công tác quản lí lao động là quản lí ,tính toán sao cho các khoản thu nhập có tính chất lương của công nhân viên là thấp nhất.Thực hiện điều này ,phòng tổ chức đã bố trí nhân viên đúng người đúng việc không để thừa người,tránh việc lãng phí tiền lương. 8.Điều kiện môi trường cho người lao động. Xuất phát từ đặc thù của ngành chăn nuôI là tính ổn định thấp tính lưu động cao, các hoạt động vận tải được chủ yếu diễn ra ngoài trời lên phải chịu nhiều ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên. Thời tiết xấu không những gây ảnh hưởng xấu tới người lao đông như: ốm đau ,tai nạn ... phải nghỉ việc làm cho tiến độ công việc chậm lại, mà còn làm hư hỏng tài sản và vật tư máy móc của công ty . II.Hiệu quả sủ dụng lao động tại công ty cổ phần thức ăn chăn nuôI 1.Năng lực làm việc của người lao động. Yếu tố con người luôn luôn dặt lên hàng đầu trong bất cứ hoạt động nào ,đặc biệt là đối với các doanh nghiệp. Do vậy năng lực làm việc của mỗi một người lao động có ý nghĩa quyết định đối với kết quả hoạt động kinh doanh của công ty. Nhất là trong nền kinh tế thị trường có sự điều tiết của nhà nước . công ty cổ phần thức ăn chăn nuôI đã đem lại 1 số hiệu quả năng suất lao động sau: Năng suất lao động = giá trị tổng sản lượng bình quân Tổng số cán bộ công nhân viên +Năm 2002: giá trị tổng sản lượng của công ty là 49.360.365đ với tổng số cán bộ công nhân là 385 người +Năm 2003: giá trị tổng sản lượng là 36.000.000.000 với tổng số cán bộ công nhân viên là 304 người (số liệu khoa học) Như vậy: .Năm 2002 :Năng suất lao động = 49.360.141.365 = 128208161 đồng/ng bình quân 385 . Năm 2003 :Năng suất lao động = 36.000.000.000 = 118.421.050 đồng/ng bình quân 304 Nhìn vào số liệu trên ta nhận thấy sự chênh lệch giá trị tống sản lượng giữa 2 năm 2002 và 2003 là không lớn lắm .Giá trị tổng sản lượng năm 2003 thấp hơn năm 2002 là 3.360.141.365đ .Năng suất lao động bình quân năm 2002 là 128.208.161đ còn năm 2003 là 118.421.050đ/người .Như vậy năm 2003 năng suất lao động bình quân thấp hơn năm 2003 một lượng là 9.787.111đ/người .Nếu chỉ nhìn vào năng suất lao động bình quân ta sẽ đánh giá năm 2003 công ty làm ăn kém hiệu quả hơn năm 2002. Còn thực tế năm 2003 công ty làm ăn có hiệu quả hơn nhiều so với năm 2002 .Kết quả thể hiện ở số lợi nhuận trước thuế của công ty (năm 2002 là:144.691.022đ còn năm 2003 là 263.707.000đ ). Để có được kết quả trên đội ngũ cán bộ của công ty đã đề ra các biện pháp chính sách kinh tế phù hợp :sản xuất dịch vụ đem lại hiệu quả cao hạn chế tới mức cao nhất các dịch vụ kém hiệu quả.Bằng các biện pháp ,chính sách kinh tế phù hợp đội ngũ cán bộ của công ty cổ phần thức ăn chăn nuôI đã nâng cao tầm quan trọng của công ty đối với cac công ty khác nhất là khi đất nươcs ta đang có những bước phát triển mới. 2.Hiệp tác lao động: Hiệp tác lao đông là sự kết hợp của nhiều người trong 1 quá trình hoặc trong nhiều quá trình khác nhau để tạo lên sức mạnh của tập thể trong lao đông sản xuất kinh doanh để đạt đơực hiệu quả kinh tế cao. công ty cổ phần thức ăn chăn nuôI đã tiến hành hợp tác lao động trên 2 măt : * Về mặt không gian :trước hết đó là sự kết hợp giữa các phòng ban chức năng với nhau. Giữa các phòng ban có sự hiệp tác về mặt thông tin. Chẳng hạn như :phòng tổ chức lao động không thể đưa ra kế hoạch lao đông ( chất lượng và số lượng ) cần thiết cho kì tới nếu không có thông tin từ các phòng ban khác. * Về mặt thời gian: Trong cùng 1 hợp đồng các phòng đã có sự hỗ trợ với nhau về hoạt động kinh doanh.Từ sự phối hơp chặt chẽ , hỗ trợ lẫn nhau đã giúp cho các hợp đồng hoàn thành đúng thời hạn tránh nhưng sai sót không đáng có . Sự hợp tác giữa các cán bộ công nhân viên trong công ty cổ phần thức ăn chăn nuôI cả về mặt không gian và thời gian đã và đang đem lại nhiều thành qua cho công ty. Trong thời gain tới công ty sẽ tăng cường sự hiệp tác chặt chẽ hơn nữa để công ty ngày càng phát triển lớn mạnh. 3.Tạo động lực cho người lao động trong công ty Hiện nay công ty cổ phần thức ăn chăn nuôI sử dụng hình thức tiền lương làm đòn bẩy kinh tế để đưa hiệu quả kinh tế của mình lên. Vì tiền lương đảm bảo cho người lao động có thể tái sản xuất sức lao động và thoả mãn các nhu câù khác của họ. Công ty trả lương đúng với sức lao động mà người công nhân bỏ ra ,tạo thoải mái về nhu cầu vật chất cũng như tinh thần cho người lao động .Đặc biệt, trong những năm qua công ty cổ phần thức ăn chăn nuôI đã kết hợp giữa nhu cầu vật chất và nhu cầu tinh thần để nâng cao hiệu quả quản lí lao động trong công ty. - Về nhu cầu tinh thần :Công ty tạo ra 1 môi trường làm viẹc thoải mái, giảm sự căng thẳng mệt mỏi cho người lao động .Như tổ chức các hoạt động văn hoá thể thao, tổ chức thăm quan ,nghỉ mát...để họ vừa có thời gian sảng khoái lại vừa có sự hoà đồng ,trao đổi kiến thức ,kinh nghiệm với nhau. - Về nhu cầu vật chất :tiền lương là hình thức chính để tạo động lực cho người lao động. Ngoài ra còn có khoản bổ sung cho tiền lương đó là tiền thưởng .Nó không những góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của người lao động mà nó còn là động cơ để phát huy năng lực sáng tạo cửa người lao động , thúc đảy hoạt dộng kinh doanh của công ty. 4.Thực hiện công tác kỷ luật lao động: Nền tảng của kỷ luật trong quản lý lao động là việc giáo duc , đào tạo và chỉ dẫn tốt .Ban quản lý phải luôn luôn giúp người lao dộng hiểu rằng nếu mọi việc không được thực hiện theo đúng nguyên tắc thì ky luật sẽ được áp dụng .Các quy tắc của công ty cổ phần thức ăn chăn nuôI luôn nhằm mục đích khuyến khích ý thức thực hiện giữ gìn kỷ luật trong từng phòng ban và trong toàn công ty .Việc phổ biến các quy tắc của công ty đến từng lao động được thực hiện thông qua các văn bản ,công văn,hợp đồng lao động. Kỷ luật lao động không những gây ảnh hưởng tới lòng tự trọng của lao động ở bất cứ nơi nào mà nó còn có ảnh hưởng tới người quản lý lao động đó , vì vậy mức độ kỷ luật phải được xác định rõ ràng .Trong những năm vừa qua công ty tiến hành xử lý một số trường hợp vi phạm nội quy của công tybằng hình thức phạt tiền .Mức phạt dược tính theo tổn thất mà người lao động gây ra cho công ty.Việc xử phạt về kinh tế sẽ làm cho người lao động trong công ty có ý thức kỷ luật hơn.Vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập chính bản thân họ. Đối với những sai phạm trước khi đình chỉ hoặc buộc thôi việc một lao động,công tu phải chứng minh xem xét rõ ràng mức độ sai phạm dẫn đến việc sa thải,tuyệt đối khôngđể việc kỷ luật trở thành kẻ thù cá nhân gây mất lòng tin của người lao động. Ngoài ra , công ty cổ phần thức ăn chăn nuôI còn thực hiện các biện pháp nhằm cụ thể hoá các chính sách,chế độ củanhà nước đối với người lao động tạo cho họ có một hành lang hợp lý,phát huy hết khả năng của mình.Từ cơ sở trên,hàng quý hàng năm công ty tổng kết đánh giá nhận xét những mặt tốt,xấu cần uốn nắn kịp thời giúp họ tự tin khi bước vào công việc. 5.Cơ sở vật chất tại công ty cổ phần thức ăn chăn nuôI Trong năm 2002 vừa qua, công ty cổ phần thức ăn chăn nuôI đầu tư thêm máy móc,trang thiết bị hiện đại nhằm nâng cao hiệu quả lao động. Máy móc thiết bị cũ,hỏng sẽ làm ảnh hưởng tới sức khoẻ người lao động,ảnh hưởng tới công tác quản lý và làm chậm chễ tiến độ phục vụ.Vì thế thường xuyên nâng cấp,sửa chũa và mua sắm những trang thiết bị mớilà hoàn toàn hợp lý và đem lại hiệu suất lao động cho người sử dụng. Với cơ sở làm việc khang trang,đầy đủ,máy móc thiết bị hiện đại, công ty cổ phần thức ăn chăn nuôI luôn đạt dược hiệu quả kinh tế cao. 6.Các hình thức trả lương Hiện nay công ty cổ phần thức ăn chăn nuôI áp dụng hai hình thức trả tiền lương:lương thời gian đối với CBCNV và lương năng suất đối với công nhân sảm xuất. *Tính lương thời gian Cuối tháng phòng tổ chức tính lương cho từng người lao động dựa trên hệ số lương và số ngày công thực tế trên bảng chấm công.Mức lương tối thiểu của doanh nghiệp là:290.000Đ Lương thời gian = Lương cơ bản * Hệ số lương * Ngày công 24 Ví dụ: Tính lương cho ông phó giám đốc công ty có hệ số lương 4,366 phụ cấp 131.500đ, phụ cấp kinh nghiệm 139.000đ. Lương thời gian = 290.000 * 4,366 * 27 = 1.424.404đ 24 * Tính tiền lương năng suất: Để tính tiền lương suất cho người lao động, ngoài các thông tin trên bảng chấm công, bảng hệ lương năng suất, cán bộ tính lương phải đánh giá được mức độ hoàn thành nhiệm vụ được giao, hiệu suất công tác... của người lao động để xếp hạng thành tích cho họ. Từ đó tính ra tiền lương năng suất. Tuỳ vào tình hình kinh doanh, giám đốc công ty sẽ quyết định quỹ lương suất của từng tháng (hiện nay quỹ lương năng suất bằng 60% quỹ lương). Lương cấp bậc của = (Mức lương tối thiểu * cấp bậc) số ngày làm công nhân i số ngày công theo chế độ * việc thực tế *Lương làm thêm. Người lao động làm thêm giờ vào ngày thường được hưởng 150% lương giờ làm việc theo tiêu chuẩn, vào ngày nghỉ, ngày lễ, tết được hưởng bẳng 200% lương giờ làm việc theo tiêu chuẩn. *Phụ cấp trách nhiệm, kiêm nhiệm Người lao động từ tổ phó trở lên và những người kiêm nhiệm công tác Đảng, Đoàn thể được tính thêm hệ số phụ cấp vào hệ số lương năng suất. *Tiền thưởng: Chế độ tiền thưởng ở công ty đã được thể hiện thông qua việc xếp hạng thành tích (A,B,C) trong khi tính tiền lương năng suất, theo quy định của công ty có 4 hạng như sau: Hạng thành tích Hệ số Tiêu chuẩn A 1 Hoàn thành tốt nhiệm vụ, kỉ luật tốt: 150.000đ B 0,8 Hoàn thành nhiệm vụ nhưng vi phạm ở nội quy chưa tới mức bị kỉ luật: 100.000đ C 0,6 Hoàn thành nhiệm vụ ở mức thấp ,có vi phạm nội quy ở mức nhẹ: 50.000đ O O Không hoàn thành nhiệm vụ Ngoài ra công ty còn thưởng đột xuất 6 tháng, hàng năm cho tập thể cá nhânlao động có thành tích xuất sắc trong công tác. * Theo chế độ tài chính hiện hành người lao động phải nộp BHXH(5%),BHYT(1%),KPCĐ(1%) các khoản này được trừ vào thu nhập của người lao động. Nhìn chung trong những năm qua công ty cổ phần thức ăn chăn nuôI đã có những hoạt động tương đối tốt để kích thích tinh thần cho người lao động số lượng lao động của công ty biến động theo chiều sâu chất lượng. Điều này chứng tỏ công ty đã có sự quản lý bộ máy lao động hợp lý, thu nhập của lao động mỗi ngày một cao , đáp ứng được nhu cầu thị trường hiện nay. Công ty đã biết rút kinh nghiệm từ thực tế để áp dụng đem lại hiệu quả kinh tế cao, đem lại sự tin tưởng hăng say làm việc cho người lao động. Phần III: Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả lao động tai công ty cổ phần thức ăn chăn nuôI. I, Đánh giá thực trạng quản lý lao động 1.Những thành tích đã đạt được Qua nghiên cứu và, phân tích tình hình quản lý nguồn nhân lực ở công ty cổ phần thức ăn chăn nuôI em nhận thấy những năm qua công ty đã có rất nhiều cố gắng trong việc tổ chức và quản lý lao động *Về số lượng: so với tình hình thực tế hiện nay và đạc thù của ngành số lượng lao động của công ty là tương đối ổn định, phù hợp với yêu cầu của khối lượng công việc. * Về công tác tuyển dụng lao động, đào tạo bồi dưỡng lao động: Trong những năm vừa qua công ty tuyển chọn nhân viên có trình độ kỹ thuật tay nghề cao cũng như có sự hiểu biết khá rộng, biết áp dụng khoa học tiên tiến để đem vào cho công ty mình. Bên cạnh đó công tác đào tạo bồi dưỡng phát triển tay nghề cũng được công ty chú trọng làm cho tay nghề đội ngũ lao động của công ty ngày càng được nâng cao đem lại hiệu quả lao động lớn cho công ty. *Về nhu cầu tinh thần và nhu cầu vật chất: Công ty đã tạo được sự hoà đồng giữa người lao động, tạo cho một tư tưởng ổn định, thoải mái, đem lại cho họ sự tin tưởng để bước vào công việc. 2.Những mặt còn tồn tại - Thứ n

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docKT572.doc
Tài liệu liên quan