Đề tài Sự phát triển bền vững và môi trường

Trang

Chương I: PHẦN MỞ ĐẦU 1

I. Lí do chọn đề tài 1

II. Mục tiêu nghiên cứu 1

III. Phương pháp nghiên cứu 1

IV. Phạm vi nghiên cứu 2

Chương II. NỘI DUNG. 3

I. Cơ sở lí luận 3

1. PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG: TIỀN ĐỀ LỊCH SỬ VÀ NỘI DUNG KHÁI NIỆM 3

1.1 Tiền đề lịch sử 3

1.2 Nội dung khái niện 5

II. HỆ THỐNG CÁC NGUYÊN TẮC PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG VÀ ĐÁNH GIÁ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG 6

A. Nghuyên tắc cơ bản phát triển bền vững 6

B. Tiêu chí đo lường sự phát triển bền vững 9

Chương III: THỰC TIỄN Ở CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN 12

1. Khái niện về nước đang phát triển 12

2. Thực trạng 12

3. Phát triển bền vững và môi trường 17

3.1 Khí thải cùng với sự tăng trưởng 17

3.2 Môi trường tự nhiên và tăng trưởng kinh tế 20

4. Môi trường và sự tăng trưởng của Việt Nam 24

5. Những giải pháp 26

Chương IV. KẾT LUẬN 28

 

doc37 trang | Chia sẻ: maiphuongdc | Ngày: 08/09/2013 | Lượt xem: 6495 | Lượt tải: 81download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đề tài Sự phát triển bền vững và môi trường, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ười Khả năng nâng cao phúc lợi vật chất cho nhân dân một nước, không chỉ là tăng sản lượng của nền kinh tế, mà còn liên quan đến vấn đề dân số. Do vậy, chỉ số tổng thu nhập bình quân đầu người là một chỉ số thích hợp hơn để phản ánh sự tăng trưởng kinh tế. GNI bình quân đầu người được tính bằng tổng thu nhập quốc dân chia cho dân số tại thời điểm giữa năm. Thu nhập bình quân đầu người: GDP/ Người GNI, Dân số và GNI bình quân đầu người của một số nước, năm 2000 Bảng 3 Nước GNI (tỷ USD) Dân số (triệu người) GNI/người (USD/người) OECD 24100,0 851,1 28.310,0 Thuỵ Sĩ 273,8 7,2 38140,0 Nhật 4500,0 126,9 35620,0 Mỹ 9600,0 281,6 31100,0 Đức 2100,0 82,2 25120,0 Singapore 99,4 4,0 24740,0 Canada 649,8 30,8 21130,0 Malayxia 78,7 23,3 3380,0 Thái Lan 121,6 60,7 2000,0 LB Nga 241,0 145,6 1660,0 Trung Quốc 1100,0 1300,0 840,0 Việt Nam 30,4 78,5 390,0 LDCs 183,2 660,0 280,0 Nguồn: World Development Indicators Database, 4/2002 Cùng với GNI bình quân đầu người, GDP bình quân đầu người cũng là một chỉ tiêu quan trọng đo lường thu nhập bình quân của dân cư của một quốc gia. 2. Nhóm chỉ tiêu xã hội Các chỉ tiêu chăm sóc y tế - Số người dân/bác sỹ - Tỷ lệ phụ nữ sinh đẻ được sự giúp đỡ của y tế - Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng - Tỷ lệ chết trẻ sơ sinh - Tuổi thọ kỳ vọng (Life expectancy at birth): Được tính bằng thời gian kỳ vọng sống từ khi được sinh ra bình quân của cư dân Một số chỉ tiêu phát triển xã hội - Ve con người: để đảm bảo phát triển bền vững cần thiết nâng cao trình độ văn hoá, khoa học kỹ thuật cho người dân, nhờ vậy người dân sẽ tích cực tham gia bảo vệ môi trường cho sự phát triển bền vững. Muốn vậy phải đào tạo một đội ngũ các nhà giáo đủ về số lượng, cũng như các thầy thuốc, các kỹ thuật viên, các chuyên gia, các nhà khoa học trong mọi lĩnh vực của đời sống. Đảm bảo các tiêu chí : - Tỷ số người dân/1 bác sĩ - Tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng năm - Tỷ lệ chết trẻ sơ sinh dưới 1 tuổi, năm - Các chỉ tiêu về dân số và việc làm - Tốc độ tăng dân số: Thường được so sánh với tốc độ tăng trưởng kinh tế để xem xét khả năng đảm bảo việc làm - Cơ cấu dân số, lao động theo ngành, theo giới, theo độ tuổi và theo vùng Bảng 4 Một số chỉ tiêu về dân số của Việt Nam Năm Dân số (nghìn người) Tốc độ tăng (%) Cơ cấu theo giới (%) Cơ cấu theo vùng (%) Nam Nữ Thành thị Nông thôn 1990 66.016,7 1,92 48,78 51,22 19,51 80,49 1995 71.995,5 1,65 48,94 51,06 20,75 79,25 2000 77.635,4 1,36 49,17 50,84 24,22 75,78 2001 78.685,8 1,35 47,16 50,84 24,76 75,24 Nguồn: Thời báo kinh tế Việt Nam, 2002 - Tỷ lệ thất nghiệp x 100 - Một số chỉ tiêu về dân số và cơ cấu lao động Tốc độ tăng dân số năm 2000 của một số nước: Đức: 0,1%, Nhật: 0,2%, Trung quốc: 0,9%, Thái Lan: 0,8%, các nước chậm phát triển nhất: 2,3% (Nguồn: World Development Indicators Database, 4/2002). Cơ cấu lao động của lực lượng lao động chia theo nhóm ngành của Việt Nam tại thời điểm 1/7/2000: - Nông nghiệp: 22.650.814 người, chiếm 62,56% - Công nghiệp và XD: 4.761.436 người, chiếm 13,15% - Dịch vụ: 8.794.785 người, chiếm 24,29% - Các chỉ tiêu về phân phối thu nhập và nghèo đói Bất bình đẳng giữa các vùng, giữa các dân tộc, giữa nam và nữ, giữa các thế hệ: Bảng Phân phối thu nhập theo quy mô một quốc gia đang phát triển Bảng 5 Các nhóm dân số Phần trăm thu nhập (%) 20% dân số có thu nhập thấp nhất 5 20% dân số có thu nhập thấp 9 20% dân số có thu nhập trung bình 13 20% dân số có thu nhập cao 22 20% dân số có thu nhập cao nhất 51 100% dân số 100% thu nhập - Đường cong Lorenz Đường cong Lorenz là đường thể hiện mối quan hệ giữa các nhóm dân số và phần trăm thu nhập tương ứng của họ trong tổng thu nhập quốc dân. Đường cong Lorenz được xây đựng trên phương thức phân phối thu nhập theo quy mô. Từ các số liệu ví dụ ở Bảng 5 chúng ta có được những thông tin sau Dân số cộng dồn – Xi(%) Thu nhập cộng dồn - Yi(%) 20 5 40 14 60 27 80 49 100 100 20 30 40 50 20 40 60 80 100 % dân số Đường bình đẳng Đường cong Lorenz % Thu nhập 100 10 O O’ E Đường cong Lorenz - Hệ số Gini Tỷ lệ đỉnh/đáy: Tỷ lệ thu nhập của 20% dân số giầu nhất với thu nhập của 20% dân số nghèo nhất Tỷ lệ nghèo đói 20 30 40 50 20 40 60 80 100 % dân số % Thu nhập 100 10 O O’ (A) (B) Mô tả cách tính hệ số Gini Thể hiện bằng công thức đại số, ta có công thức tính hệ số Gini như sau Công thức 1 Công thức 2 Trong đó: Xi : Tỷ lệ cộng dồn các nhóm dân cư đến nhóm thứ i Yi : Tỷ lệ cồng don ve thu nhập của các nhóm dân cư Hệ số Gini phản ánh mức độ bất bình đẳng trong phân phối thu nhập, G càng lớn bất bình đẳng càng cao, G = 0 bình đẳng tuyệt đối, G = 1 bất bình đẳng tuyệt đối, các giá trị này không có trong thực tế. Theo thống kê của Ngân hàng Thế giới khoảng phân bổ của Hệ số Gini như sau: - Những nước có thu nhập thấp: 0,3 < G < 0,5 - Những nước có thu nhập trung bình: 0,4 < G < 0,6 - Những nước có thu nhập cao: 0,2 < G < 0,4 Từ thực tế trên Ngân hàng Thế giới đưa ra kết luận là quốc gia nào có Hệ số Gini ở mức xung quanh 0.3 thì được đánh giá là tốt. Tỷ lệ nghèo đói của Việt Nam, năm 2001 là 32%, Trung Quốc: 6% (World Development Indicators Database, 4/2002). - Chỉ số Phát triển con người (HDI) Chỉ số HDI một chỉ tiêu tổng hợp, thường được dùng để xếp loại mức độ phát triển con người của một đất nước. Chỉ số HDI được tính tổng hợp từ các chỉ tiêu cơ bản: + Tuổi thọ kỳ vọng + GDP bình quân đầu người + Trình độ học vấn: + Tỷ lệ biết chữ của cư dân + Tỷ lệ trẻ em nhập học Trong đó: IA : Chỉ số đo tuổi thọ IE : Chỉ số tri thức, giáo dục IIN: Chỉ số mức sống Bảng 6 Chỉ số phát triển con người của Việt Nam Năm 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004 HDI 0.540 0.557 0.560 0.682 0.688 0.688 0.691 0.704 0.709 Thứ tự HDI 120 121 122 101 109 109 112 108 109 Việt Nam thuộc nhóm 78 nước có chỉ số phát triển con người ở mức trung bình (0.5-0.8). Phạm vi phân bổ của chỉ số HDI của một quốc gia theo lý thuyết có khoảng phân bổ là 0 : HDI : 1. Chỉ số HDI của một quốc gia càng lớn thì mýc độ phát triển của quốc gia càng được đánh giá cao. 3. Nhóm chỉ tiêu môi trường Ve môi trường: phát triển bền vững đòi hỏi phải sử dụng tài nguyên như đất trồng, nguon nước, khoáng sản… Đồng thời, phải chọn lựa kỹ thuật và công nghệ tiên tiến để nâng cao sản lượng, cũng như mở rộng sản xuất đáp ứng nhu cầu của dân số tăng nhanh. Phát triển bền vững đòi hỏi không làm thoái hoá các ao hồ, sông ngòi, uy hiếp đời sống sinh vật hoang dã, không lạm dụng hoá chất bảo vệ thực vật trong nông nghiệp, không gây nhiễm độc nguồn nước và lương thực - Tỷ lệ che phủ rừng: tính theo phần trăm (%) - Tỷ lệ diện tích khu bảo tồn thiên nhiên so với diện tích tự nhiên, tính theo phần trăm (%) - Tỷ lệ đất bị suy thoái hàng năm, tính theo phần trăm (%) - Tỷ lệ các khu, cụm công nghiệp có hệ thống xử lý nước thải - Tỷ lệ các khu công nghiệp có hoặc sử dụng chung hệ thống xử lý rác thải rắn - Số doanh nghiệp đạt tiêu chuẩn ISO 14001 - Phát thải các khí nhà kính, tính theo tấn/năm - Tỷ lệ các vùng đô thị có mức ô nhiễm không khí vượt quá tiêu chuẩn cho phép - Hệ sinh thái đang bị đe doạ và các loài có nguy cơ diệt chủng, tính bằng số lượng - Tổn thất về kinh tế do thiên tai hàng năm, phải được qui đổi ra tiền Chỉ tiêu tổng hợp đo lường phát triển bền vững Giá Trị Của 1m2 Diện Tích Đất Rừng Điều hòa ổn định khí hậu, hấp thụ CO2 Quá quan trọng trong việc lưu trữ nước và làm chậm tốc độ dòng chảy sau mưa Vô giá đối với bảo vệ và phát triển đa dạng sinh học, các nguồn gien quý hiếm. Vô giá trong việc cung cấp các thảo dược quý. Vô giá đối với sức khỏe con người Con ngứời đã sống vượt quá khả năng chịu tải của Trái đất (ha/người) Theo cách sống hiện tại, loài người đến 2050 sẽ cần 02 hành tinh như Trái đất. Đã hơn 20 năm qua chúng ta đã sống vượt quá khả năng chịu tải của Trái đất. Đó là lối sống, tiêu dùng không bền vững. Báo cáo của LHQ năm 2005 đã cảnh báo: Mặc dù 1/5 dân số Châu Á còn sống duới 01 USD/ngày nhưng vùng này đã bị khai thác quá khả năng chịu tải về môi trường của nó. 20% người giầu nhất thế giới hưởng thụ và sở hữu 80% tổng số của cải vật chất 80% người nghèo nhất sở hữu 20% của cải còn lại. Ve Công nghệ: phát triển bền vững là giảm thiểu tiêu thụ năng lượng và sử dụng các nguon tài nguyên thiên nhiên trong sản xuất, áp dụng có hiệu quả các loại hình công nghệ sạch trong sản xuất. Trong sản xuất công nghiệp can đạt mục tiêu ít chất thải hoặc chất gây ô nhiễm môi trường, tái sử dụng các chất thải, ngăn ngừa các chất khí thải công nghiệp làm suy giảm tang ozon bảo vệ trái đất. Phát triển bền vững và các mục tiêu phát triển kinh tế –xã hội –văn hoá –môi trường.Mỗi mục tiêu phát triển có vị trí riêng của nó, song nó được gắn với mục tiêu khác. Sự hoà nhập hài hoà hữu cơ này tạo nên sự phát triển tối ưu cho cả nhu cầu hiện tại và tương lai vì xã hội loài người CHƯƠNG III THỰC TIỄN Ở CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN 1. Khái niệm về nước đang phát triển Nước đang phát triển là quốc gia có mức sống còn khiêm tốn, có nền tảng công nghiệp kém phát triển và có chỉ số phát triển con người (HDI) không cao. Ở các nước này, thu nhập đầu người ít ỏi, nghèo nàn phổ biến và cơ cấu tư bản thấp. "Nước đang phát triển" gần nghĩa với Thế giới thứ ba thường dùng trong Chiến tranh Lạnh. 2. Những Đặc điểm chung của các nước đang phát triển Thu nhập thấp GDP thấp, GNI/ người thấp GNI bình quân đầu người ở mức 2000 USD được coi là điểm mốc để giải quyết các vấn đề cơ bản của con người (lương thực, y tế, giáo dục...Tuy nhiên, hiện nay có trên 100 nước đang phát triển có mức thu nhập bình quân đầu người nhỏ hơn mức 2000 USD, trong số đó gần một nửa có mức thu nhập bình quân đầu người thấp hơn 600 USD, Khả năng tích luỹ thấp. Tỷ lệ tích luỹ của các nước đang phát triển hiện nay trên dưới 10% GDP. Phải chịu một áp lực lớn về dân số và việc làm - Dân số đông, tốc độ tăng dân số cao Sản xuất kém phát triển triển, do tỷ lệ tích luỹ thấp, dẫn đến tỷ lệ thất nghiệp cao Công nghệ sản xuất lạc hậu Hoạt động của nền kinh tế chủ yếu dựa trên cơ sở sản xuất nhỏ, nông nghiệp chiếm tỷ trọng cao trong GDP, kỹ thuật sản xuất thủ công, lạc hậu, năng suất thấp. Trình độ công nghệ của các nước đang phát triển chậm hơn từ 3 đến 6 thập kỷ so với trình độ công nghệ của các nước phát triển. Những đặc điểm cơ bản này tạo ra “vòng luẩn quẩn” cho các nước đang phát triển: Vòng luẩn quẩn của các nước ĐPT Năng suất thấp Tích luỹ thấp Công nghệ lạc hậu Thu nhập thấp Dân số đông Vấn đề đặt ra là các nước đang phát triển phải tìm ra con đường phát triển của mình để phá vỡ vòng luẩn quẩn trên vươn lên thành các nước phát triển. Mô hình phát triển kinh tế nào là phù hợp để đẩy nhanh quá trình phát triển của các nước đang phát triển Các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ Tám mục tiêu phát triển thiên niên kỷ (MDGMillennium Development Goals) bao gồm từ mục tiêu giảm một nửa tỷ lệ nghèo cùng cực tới chặn đứng sự lây lan của HIV/AIDS và đạt phổ cập giáo dục tiểu học, tất cả đều phải hoàn thành vào năm 2015. Các MDG đã được tất cả các nước cũng như tất cả các cơ quan/tổ chức phát triển hàng đầu trên thế giới nhất trí. Các mục tiêu này đã thúc đẩy những nỗ lực to lớn chưa từng có nhằm đáp ứng nhu cầu của những người nghèo nhất trên thế giới.Các MDG là nhằm phục vụ con người và đảm bảo rằng: Mọi người đều có đủ lương thực Tất cả trẻ em học hết tiểu học Phụ nữ có các cơ hội và được tôn trọng như nam giới Có thêm nhiều trẻ em dưới 5 tuổi lớn lên khoẻ mạnh Ngày càng có ít bà mẹ bị tử vong khi sinh con Số người bị mắc các bệnh hiểm nghèo như HIV/AIDS và sốt rét liên tục giảm Chúng ta để lại cho các thế hệ con cháu mai sau một môi trường trong lành và đẩy lùi tình trạng gây hại đối với môi trường Cộng đồng toàn cầu liên hiệp và phối hợp với nhau để xây dựng một thế giới bình đẳng và công bằng hơn. Tại Hội nghị Thượng đỉnh Thiên niên kỷ của Liên Hợp Quốc năm 2000, 189 quốc gia thành viên nhất trí thông qua Tuyên bố Thiên niên kỷ và cam kết đạt được tám Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ vào năm 2015. Đây là sự đồng thuận chưa từng có của các nhà lãnh đạo trên thế giới về những thách thức quan trọng toàn cầu trong thế kỷ 21 cũng như cam kết chung về việc giải quyết những thách thức này. Tuyên bố Thiên niên kỷ vào các MDG là lộ trình tiến tới xây dựng một thế giới mà ở đó không còn nghèo đói, tất cả trẻ em đều được học hành, sức khoẻ của người dân được nâng cao, môi trường được duy trì bền vững và mọi người được tự do, công bằng và bình đẳng. 3. Thực trạngcủa các nước đang phát triển Hình ảnh một thế giới phát triển “không bền vững”, hoàn toàn đi ngược với tinh thần của Thượng đỉnh Rio de Janeiro năm 1992. Khoảng cách giàu nghèo giữa các quốc gia càng lớn dần so với các nước Bắc bán cầu và Nam bán cầu. Đối với các quốc gia đang phát triển, giai cấp giàu chiếm thiểu số, giai cấp nghèo chiếm tuyệt đại đa số và giai cấp trung lưu chiếm tỷ lệ rất khiêm nhường. Trên thế giới vẫn còn có hàng tỷ người không có điều kiện tiếp cận và xử dụng nguồn nước sạch, hệ thống vệ sinh thường thức hàng ngày, có mức dinh dưởng tối thiểu, có nơi cư trú an toàn, và được chăm sóc sức khỏe. Tệ hại nhất, môi sinh tòan cầu đang phải gánh chịu hậu quả do sự phát triển “không bền vững” gây ra. Trước hết, về khía cạnh tăng trưởng, (theo lý thuyết, để nhân đôi GDP trong 10 năm, một quốc gia cần đạt tốc độ tăng trưởng trung bình 7%/năm).Bảng 7 dưới đây viện dẫn so sánh của Quỹ tiền tệ Quốc tế (IMF) Bảng 7 Quốc gia 1998 1999 2000 2001 2002 2003 Châu Á 4,0 6,1 6,8 5,7 6,5 6,3 Ấn Độ 5,8 6,7 5,4 4,2 4,9 5,1 Trung Quốc 7,8 7,1 8,0 7,3 8,0 7,5 Thái Lan -10,5 4,4 4,6 1,9 5,2 4,2 Việt Nam 5,8 5,2 6,8 6,9 7,0 7,2 Tuy nhiên, gia tăng bất bình đẳng thu nhập lại là một thách thức lớn. Theo các nghiên cứu của Ngân hàng thế giới (WB), Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP), Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB)…, không chỉ có sự chênh lệch ngày càng tăng về thu nhập giữa các nhóm dân cư mà hiện tượng này còn xảy ra giữa thành thị với nông thôn, giữa các tỉnh có điều kiện kinh tế xã hội khác nhau. Báo cáo thường niên năm 2003 của GSO chỉ rõ, trung bình nhóm 20% số người thuộc nhóm thu nhập cao nhất hằng năm kiếm thêm được số tiền nhiều gấp 8,1 lần so với nhóm 20% số người thu nhập thấp nhất. Mặc dù có trên 170 nguyên thủ quốc gia đã từng ngồi lại trong kỳ Thượng đỉnh 1992, nhưng việc thực hiện và tuân thủ các kết ước cho đến nay hầu như chỉ có trên giấy trắng mà thôi. Còn trên thực tế, do điều kiện và quyền lợi của từng quốc gia, việc thực thi các kết ước khó có thể xảy ra hay xảy ra đúng hạn kỳ. Một thí dụ căn bản là tất cả các quốc gia giàu đều đồng thuận trên quan điểm “xóa đói, xóa nợ” cho các nước nghèo. Nhưng trên thực tế, sự trợ giúp vẫn còn nhỏ giọt chưa đủ để giải quyết vấn đề cho từng quốc gia, đừng nói đến việc tiếp cận các vùng đất rộng lớn cần phải được chăm sóc. Sau đây là số liệu về sự phát triển kinh tế một số nước trên thế giới. Tổng sản phẩm trong nước theo giá thực tế của một số nước và vùng lãnh thổ Bảng 8 Triệu USD Quốc gia 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 Nam Phi 132877,6 118479,0 110874,3 166653,6 216443,2 242058,9 255155,5 Ni-giê-ri-a 42078,1 47999,8 46710,8 58294,4 72053,4 98564,8 115337,8 Ca-na-đa 713795,7 705149,1 734662,0 866039,6 992150,7 1131725,6 1271592,6 Mỹ 9764800,0 10075900,0 10417600,5 10907999,5 11657300,4 12397900,2 13163870,3 Trung Hoa 1080741,4 1324807,0 1453831,4 1640961,7 1931640,3 2243852,5 2644681,2 Nhật Bản 4746067,8 4162360,4 3918335,0 4229096,8 4605937,7 4549107,0 4368435,0 Cam-pu-chia 3593,9 3786,9 4277,6 4651,4 5310,4 6271,1 7258,0 In-đô-nê-xi-a 165020,5 164145,5 195660,4 234773,4 256835,4 286961,6 364790.0 Lào 1722,1 1761,7 1829,8 2138,1 2508,0 2886,9 3437,1 Việt Nam 31172,5 32487,0 35081,3 39797,8 45358,7 53114,6 60827,0 Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước của một số nước và vùng lãnh thổ (%) Bảng 9 Quốc gia 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 Nam Phi 4,15 2,74 3,67 3,12 4,84 5,10 4,99 Ni-giê-ri-a 4,20 3,10 1,55 10,69 6,00 7,20 5,20 Ca-na-đa 5,29 1,78 2,94 1,82 3,30 2,94 2,80 Mỹ 3.69 0.76 1.61 2.52 3.92 3.23 2.90 Trung Hoa 8.00 8.30 9.10 10.00 10.10 10.40 10.70 Nhật Bản 2.84 0.20 0.26 1.41 2.74 1.91 2.2 Cam-pu-chia 6.99 5.49 6.54 8.51 10.02 13.46 10.83 In-đô-nê-xi-a 4.92 3.83 4.50 4.78 5.03 5.68 5.48 Lào 5.78 5.79 5.91 6.11 6.37 7.13 7.51 Việt Nam 6.79 6.89 7.08 7.34 7.79 8.44 8.23 Tổng sản phẩm trong nước bình quân đầu người theo giá thực tế của một số nước và vùng lãnh thổ Bảng 10 USD Quốc gia 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 Nam Phi 3019.9 2643.9 2450.5 3628.6 4670.0 5162.0 5384.0 Ni-giê-ri-a 331.6 398.8 355.7 432.9 522.1 697.3 797.0 Ca-na-đa 23198.0 22686.8 23425.2 27380.3 31015.4 35024.9 38947.4 Mỹ 34599.5 35314.6 36156.4 37510.8 39699.6 41813.2 43968.8 Trung Hoa 855.9 1041.6 1135.5 1273.6 1490.3 1720.1 2016.1 Nhật Bản 37408.9 32738,4 30745,3 33112,8 36051,2 35603.0 34193.6 Cam-pu-chia 283,1 291,1 322,6 344,8 387,1 449,4 511,3 In-đô-nê-xi-a 800.0 785.3 923.7 1093.6 1180.4 1301.1 1635.5 Lào 326.2 326.0 338.7 389.7 450.0 509.7 569.8 Việt Nam 402.0 412.9 439.9 491.9 552.9 639.1 723.0 Tổng sản phẩm trong nước bình quân đầu người tính theo sức mua tương đương của một số nước và vùng lãnh thổ Bảng 11 USD Quốc gia 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 Nam Phi 8908 9401 11290 10070 10346 11192 11110 Ni-giê-ri-a 853 896 850 860 1050 1154 1128 Ca-na-đa 26251 27840 27130 29480 30677 31263 33375 Mỹ 31872 34142 34320 35750 37562 39676 41890 Trung Hoa 3617 3976 4020 4580 5003 5896 6757 Nhật Bản 24898 26755 25130 26940 27967 29251 31267 Cam-pu-chia 1361 1446 1860 2060 2078 2423 2727 In-đô-nê-xi-a 2857 3043 2940 3230 3361 3609 3843 Lào 1471 1575 1620 1720 1759 1954 2039 Việt Nam 1860 1996 2070 2300 2490 3745 3071 Qua các bảng số liệu và biểu đồ trên ( từ bảng 2 – bảng 5)cho thấy sự tăng trưởng kinh tế của các nước có sự phân biệt giàu nghèo rất rõ ràng. Các nước phát triển có thu nhập GDP cao, GDP bình quân đầu người cao, nhưng sự tăng trưởng hàng năm thấp. Còn các nước đang phát triển có thể do mục tiêu tăng trưởng kinh tế hàng năm là vô cùng quan trọng, nó được đặt lên hàng đầu trong sách lược kinh tế. Nhung GDP và Thu nhập bình quân lại quá thấp so với các nước phát triển. Chính vì thế nó có ảnh hưởng rất sấu đến tiêu chí cho phát triển bền vững. Đặc biệt là Trung Quốc. CHƯƠNG IV PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG VÀ MÔI TRƯỜNG Nhịch lý của sự phát triển 1. Bầu không khí ô nhiễm Tăng trưởng nhanh cũng kèm theo chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng các khu vực công nghiệp và dịch vụ, giảm tỷ trọng khu vực nông nghiệp trong GDP, nảy sinh nạn thất nghiệp, ô nhiễm môi trường…. Như phần mở đầu đã nói, sự ô nhiễm môi trường loại bỏ rất nhiều loài ra khỏi quần xã sinh học của chúng kể cả ở những nơi mà cấu trúc quần xã không bị ảnh hưởng lớn. Sự ô nhiễm môi trường bao gồm: sử dụng quá mức thuốc trừ sâu, các chất thải công nghiệp, phân bón hóa học và ô nhiễm không khí gây ra mưa axit, nitơ bị lắng đọng quá mức, các khí quang hóa và khí ôzôn. Như chúng ta đã biết khí hậu địa cầu có thể bị thay đổi trong thế kỷ XXI bởi vì lượng khí cacbonnic thải vào khí quyên quá lớn do quá trình đốt cháy các nhiên liệu hóa thạch. Mức độ tăng nhiệt độ dự kiến sẽ nhanh đến mức nhiều loài không thê nào điều chỉnh được biên độ sống của chúng và sẽ bị tuyệt chủng. Một thí dụ về việc ứng dụng các quy trình sản xuất sạch để bảo vệ môi trường. Việc này đã được các quốc gia hậu kỹ nghệ nghiên cứu kỹ lưỡng, tuy nhiên hầu như họ chỉ nhắm vào mục đích là làm tăng lợi nhuận trong sản xuất qua sự giảm thiểu nguyên liệu, hóa chất và chất phế thải. Qua chương trình Hóa học Xanh cho Dược phẩm (Green Chemistry for Pharma) với mục đích khuyến khích nghiên cứu các quy trình sạch trên, công ty dược phẩm Pfizer đã thành công trong việc cải thiện quy trình sản xuất của một loại thuốc an thần nổi tiếng Sertraline, có tên thương mãi là Zoloft. Quy trình mới là giảm thiểu các công đoạn hòa tan và kết tinh, cộng thêm sự oxit hóa... do đó làm giảm lượng dung môi xử dụng cho một tấn thuốc sản xuất là 55.000 gallons. Mức sản xuất hàng năm ngoài dung môi ra ước tính giảm thiểu được 440 tấn titanium dioxide, 150 tấn acid clorhydric 35%, và 100 tấn sút 50%, và quan trọng nhất là hạn chế một số lượng phế thải lớn trong sản xuất. Tuy việc làm trên đã tiết giảm một chi phí lớn lao nhưng giá bán ra thị trường của Zeloft càng tăng thêm: US$ 65.00 trong năm 2002 cho một hộp 30 viên 50mg so với $50.00 cách đó hai năm khi chưa áp dụng quy trình sạch! Vô hình chung những việc tương tự chỉ làm tăng khoảng cách giàu nghèo ngay cả chính trong các nước phát triển và hoàn toàn đi ngược lại với nguyên tắc của “phát triển bền vững” Từ những nhận định trên, dù có suy nghĩ tích cực đến đâu đi nữa, chúng ta khó nhìn thấy được những đóng góp hữu hiệu cho việc phát triển bền vững để bảo vệ môi trường toàn cầu trong tương lai, vì: Các nhà sản xuất ở từng quốc gia sẽ cũng chỉ chạy theo lợi nhuận và giảm thiểu mức chi thấp nhất trong phát triển; Tinh thần quốc gia cực đoan, và sự e dè trong việc can thiệp vào nội bộ các quốc gia khác Hệ thống tham nhũng từ cao xuống thấp ở những quốc gia đang phát triển hầu như vô phương cứu chữa. Dù luật lệ môi trường có khắc khe đến đâu, thì việc xử lý phế thải độc hại trong đất, không khí và nguồn nước do sản xuất và phát triển cũng sẽ bị ém nhẹm hay lãng quên Các chính phủ của những quốc gia đang phát triển vì nhu cầu cấp bách của cán cân mậu dịch mà phải tăng gia phát triển kinh tế và lãng quên yếu tố bảo vệ môi trường, dù họ biết rất rõ hệ luỵ nầy sẽ đưa đến những xáo trộn trong việc phát triển xã hội sau đó Tệ hại hơn cả là các cường quốc và nhiều quốc gia vẫn còn giữ quan niệm về chủ nghĩa “nước lớn”, không cần tuân thủ các luật lệ quốc tế về toàn cầu hóa mà Trung quốc là ví dụ điển hình nhất trong việc quản lý sông Mekong qua việc xây dựng các đập ở thượng nguồn. (1) Trích dẫn bản tin 2008/số 23/ công nghệ môi trường 1)So với các dự báo trước đây, chỉ một số nước đang phát triển mới có được các công nghệ giảm phát thải khí nhà kính hiệu quả hơn trong một vài thập kỷ tới. Đây là kết luận nghiên cứu của các nhà khoa học thuộc Trung tâm Nghiên cứu khí quyển quốc gia (NCAR) và Đại học Colorado, Hoa Kỳ. Nghiên cứu cảnh báo những chênh lệch về kinh tế và công nghệ đang tiếp diễn làm cho khó dự báo về khả năng giảm các phát thải khí nhà kính và nhấn mạnh những thách thức các nước nghèo phải đối phó để thích ứng với nóng lên toàn cầu. Patricia Romero Lankao, nhà xã hội học thuộc NCAR, tác giả chính của nghiên cứu cho biết: Không có bằng chứng cho thấy các nước đang phát triển sẽ giàu hơn và sẵn sàng áp dụng các công nghệ thân thiện hơn với môi trường. Chúng ta luôn nhận thức được rằng giảm phát thải khí nhà kính là một thách thức nhưng hiện nay đang bị xem nhẹ. Do vậy, hầu hết các nước công nghiệp hoá và nước đang phát triển đang làm tăng lượng phát thải CO2. Tốc độ tăng trưởng kinh tế của các nước này đang vượt quá khả năng và nhu cầu có nhiều ô tô, nhà to và các hàng hoá, dịch vụ khác làm tăng phát thải CO2 chưa từng có. Nhiều sản phẩm mà các nước tiêu thụ bắt nguồn từ các nước đang phát triển, những nước chú ý tới sản xuất nhiều hàng hoá hơn nhưng không thu được lợi ích cần thiết do nâng cao hiệu quả. Nhìn chung, tốc độ phát thải CO2 trên toàn cầu trung bình mỗi năm là 1,3%/năm trong những năm 1990 và 4,5% từ năm 2000-2007. Nghiên cứu cũng đề cập đến các thảo luận quốc tế về biến đổi khí hậu như Hội nghị về Biến đổi khí hậu của Liên Hợp Quốc ở Poznan, Ba Lan. Hoa Kỳ và các nước có nền công nghệ tiên tiến đang bị sức ép giảm phát thải CO2 bình quân, trong khi các nước đang phát triển đang bị thúc ép thông qua công nghệ sạch hơn. Cả 2 mục tiêu này đều sẽ khó đạt được. Hơn nữa, nếu các nước đang phát triển không thể trở nên thịnh vượng hơn, sẽ không có khả năng bảo vệ người dân khỏi một số tác động nguy hiểm của biến đổi khí hậu như mực nước biển dâng cao và hạn hán tần suất lớn hơn. Dân cư và các hoạt động kinh tế sẽ không có quyền, tài nguyên, các hệ thống xã hội và cơ cấu quản lý đặc biệt quan trọng để thích ứng với các tác động của biến đổi khí hậu. Cái giá của sự thiếu hiệu quả. Nhóm nghiên cứu phân tích cho thấy: các nước đang phát triển thường có nền kinh tế kém phát triển nhưng lại gây ra khoảng 47% phát thải CO2. Một mặt là do các hệ thống năng lượng và vận tải ở các nước nghèo hoạt động không hiệu quả. Các cơ sở công nghiệp nhỏ và cũ sử dụng các nhiên liệu hoá thạch gây ô nhiễm có xu hướng thải ra nhiều CO2 trên một đơn vị sản xuất nhiều hơn các cơ

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docSự phát triển bền vững và môi trường.doc