Đề tài Thực trạng kiểm toán chu trình huy động và hoàn trả vốn do Công ty dịch vụ tư vấn tài chính kế toán và kiểm toán thực hiện

PHẦN ICƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ KIỂM TOÁN CHU TRÌNH HUY ĐỘNG VÀ HOÀN TRẢ 1

1.1) Khái quát về kiểm toán báo cáo tài chính: 1

1.2) Chu trình huy động và hoàn trả -những đặc điểm quan trọng ảnh hưởng công tác kiểm toán. 2

1.2.1) Khái niệm chu trình huy động và hoàn trả, khái niệm vốn: 2

1.2.2) Các tài khoản, nghiệp vụ trong chu trình huy động và hoàn trả: 3

1.2.3) Những đặc điểm ảnh hưởng công tác kiểm toán: 4

1.3. Kiểm toán chu trình huy động và hoàn trả. 5

1.3.1. Lập kế hoạch kiểm toán. 5

1.3.2) Thực hiện kiểm toán: 20

1.3.3) Kết thúc kiểm toán: 31

PHẦN IITHỰC TRẠNG KIỂM TOÁN CHU TRÌNH HUY ĐỘNG VÀ HOÀN TRẢ VỐN DO CÔNG TY DỊCH VỤ TƯ VẤN TÀI CHÍNH KẾ TOÁN VÀ KIỂM TOÁN THỰC HIỆN 32

2.1, Giới thiệu chung về quá trình hình thành và phát triển của Công ty Tư vấn Tài chính Kế toán và Kiểm toán AASC. 32

2.1.1 Chức năng hoạt động của AASC 33

2.1.2 Cơ cấu tổ chức bộ máy 36

2.2) Công tác kiểm toán chu trình huy động và hoàn trả vốn do AASC thực hiện 37

2.2.1) Lập kế hoạch kiểm toán 37

2.2.2 Kế hoạch chi tiết cho các khoản mục thuộc chu trình huy động và hoàn trả. 41

2.3 Thực hiện kiểm toán chu trình huy động và hoàn trả 42

2.3.1 Kiểm toán vốn vay 42

2.3.2 Kiểm toán vốn chủ sở hữu 46

2.4) Kết thúc kiểm toán: 65

PHẦN IIINHỮNG BÀI HỌC KINH NGHIỆM VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG VIỆC KIỂM TOÁN CHU TRÌNH HUY ĐỘNG VÀ HOÀN TRẢ TRONG KTBCTC Ở CÔNG TY DỊCH VỤ TVTC KT VÀ KT (AASC) 67

3,1 Mục tiêu kiểm toán: 67

3,2) Phương pháp kiểm toán: 70

3,3) Phương pháp chọn mẫu: 72

3,4) Quy trình kiểm toán: 73

3.4.1 Lập kế hoạch kiểm toán 73

3.4.2 Thực hiện kiểm toán : 76

 

doc78 trang | Chia sẻ: huong.duong | Ngày: 24/08/2015 | Lượt xem: 894 | Lượt tải: 6download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đề tài Thực trạng kiểm toán chu trình huy động và hoàn trả vốn do Công ty dịch vụ tư vấn tài chính kế toán và kiểm toán thực hiện, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ững sai số tiềm ẩn thì mới cần thiết tiến hành các khảo sát bổ sung về phí tổn và lãi vay tính dồn. Các mục tiêu đặc thù - Các khoản tiền vay phải trả hiện có đều được phản ánh đầy đủ trên bảng liệt kê tiền vay - Kiểm tra các khoản tiền vay đã thanh toán và chưa thanh toán tính đến thời điểm ngày lập báo cáo tài chính, để xác định có chứng từ nào chưa được ghi sổ kế toán hoặc ghi không đúng, nhằm phát hiện những trường hợp bỏ sót hoặc ghi trùng - Thu thập các bảng xác nhận chuẩn của các ngân hàng hoặc các chủ vốn vay, đối chiếu cụ thể từng khoản vay với bảng xác nhận đó để xác định sự tồn tại thực tế của các khoản vay. -Thu thập các bảng xác nhận của ngân hàngvà các chủ vốn vay đối với các khoản vay trước đây và hiện nay đã thanh toán hoặc không được liệt kê vào bảng liệt kê tiền vay nữa, Đây cũng là việc xác nhận số dư bằng 0 trong tài khoản tiền vay. -Phân tích phí tổn lãi tiền vay để phát hiện những khoản thanh toán các khoản tiền vay hoặc lãi vay cho các chủ vốn vay không có thực. -Kiểm tra việc huỷ bỏ các chứng từ nợ đã thanh toán để đảm bảo là chúng không còn lưu hành, Chúng phải được lưu giữ trong hồ sơ của doanh nghiệp. -Xem xét lại các biên bản họp của Giám đốc, Hội đồng quản trị về các khoản vay đã được phê duyệt nhưng chưa được vào sổ. Mục tiêu này rất quan trọng vì nó phát hiện cả sai số và sai qui tắc hạch toán tiền vay một cách trọng yếu. Tính chính xác của số liệu hạch toán trên khoản mục tiền vay -Tổng cộng các khoản tiền vay lãi tính dồn phải trả trên sổ kế toán tiền vay, đối chiếu với số liệu tương ứng trên bảng liệt kê tiền vay và lãi tính dồn phải trả. -Đối chiếu các số tổng cộng trên các sổ chi tiết tiền vay với sổ cái tổng hợp tài khoản tiền vay, đối chiếu số liệu số liệu trên sổ cái tiền vay với khoản mục tiền vay trên báo cáo tài chính (bảng cân đối kế toán). -Đối chiếu chứng từ các khoản vay phải trả cá thể với các số chi tiết tiền vay của từng đối tượng cho vay. Thường được khảo sát chi tiết 100% các khoản vay vì qui mô sổ các nghiệp vụ vay phát sinh không nhiều. Sự đánh giá, tính toán đúng đắn các khoản vay, lãi tiền vay phải trả tính dồn, phí tổn lãi vay. Kiểm tra vốn vay gốc và tỷ lệ lãi vay trên các khế ước vay và bảng liệt kê tiền vay. Xác nhận các khoản vay và thời hạn vay và các khoản tiền lãi đã thanh toán. Kiểm tra việc qui đổi các khoản vay bằng ngoại tệ và lãi phải trả bằng ngoại tệ có đúng đắn và phù hợp với tỷ giá ngoại tệ được ngân hàng Nhà nước công bố tại từng thời điểm không. Tính lại tiền lãi tính dồn và so sánh với tiền lãi tính dồn đã hạch toán và ghi trên bảng liệt kê tiền vay. Trong một số trường hợp có thể phải tính theo phương ppháp giá trị hiện tại tiền vay, Đây cũng là một trong các mục tiêu quan trọng vì sự tính toán đánh giá sai dẫn đến sai sót trọng yếu. Các khoản tiền vay trên bảng liệt kê tiền vay đều có căn cứ hợp lý. Xác nhận các khoản vay phải trả. Kiểm tra sự phê duyệt các thủ tục xin vay và các khế ước vay. Mục tiêu này không quan trọng bằng các mục tiêu trên. Các khoản tiền vay trên các bảng liệt kê tiền vay đều được phân loại đúng đắn. Kiểm tra thời hạn vay, ngày đến hạn phải trả vay của từng khoản để xác định liệu việc hạch toán các khoản vay đó vào tài khoản "vay ngắn hạn", hoặc tài khoản "nợ dài hạn đến hạn trả", tài khoản "vay dài hạn" có đúng không. Kiểm tra việc sử dụng tiền vay có dúng mục đích không, bằng cách xem xét việc sử dụng tiền vay đối chiếu với cam kết trên hợp đồng hoặc khế ước vay. Các khoản tiền vay dược hạch toán đúng kỳvà kịp thời. Kiểm tra đối chiếu ngày phát sinh nghiệp vụ vay và thanh toán trên chứng từ với ngày ghi sổ có phù hợp không. Các khoản tiền vay, lãi tiền vay tính dồn phải trả, phí tổn lãi tiền vay được công khai đúng đắn,. Kiểm tra các bảng xác nhận về tiền vay của các chủ vốn vay về các thông tin chi tiết liên quan. Kiểm tra các hợp đồng, khế ước vay và các thủ tục vay cá được tiến hành đúng theo các trình tự và quy định về tín dụng ngân hàng không. Kiểm tra sự công khai đúng đắn của các tài sản ngoài niên hạn, các thành phần liên quan, các tài sản cầm cố như vật thế chấp cho các khoản vay và các khoản hạn chế rút ra từ nợ phải trả của bảng cân đối dài hạn. Sự trình bày đúng đắn công khai ở trên các báo cáo kế toán là mục tiêu quan trọng của kiểm toán tiền vay. 1.3.3) Kết thúc kiểm toán: Kiểm toán viên thực hiện kiểm toán chu trình huy động và hoàn trả đưa ra kết luận về việc có thể hiện vốn chủ sở hữu và vốn vay của doanh nghiệp tại thời điểm ghi trong bảng cân đối kế toán một cách trung thực không. Đồng thời kiểm toán viên phải đảm bảo các giải trình kèm theo cho mỗi sự thay đổi của nghiệp vụ vốn: +Hợp đồng góp thêm vốn. +Biên bản hội nghị có quyết định về phân chia lợi tức. +Các khế ước vay: số tiền vay, thời hạn vay, tỷ lệ vay. +Bản giải trình hoặc thuyết minh báo cáo tài chính vè biến động tăng giảm vốn. Trên cơ sở tổng hợp kết luận về tất cả các phần hành kiểm toán cụ thể, kiểm toán viên trưởng lập báo cáo kiểm toán đưa ra ý kiến độc lập về sự trung thực và hợp lý của báo cáo tài chính đơn vị được kiểm toán theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 700. Phần II Thực trạng kiểm toán chu trình huy động và hoàn trả vốn do Công ty dịch vụ tư vấn tài chính kế toán và kiểm toán thực hiện 2.1. Giới thiệu chung về quá trình hình thành và phát triển của Công ty Tư vấn Tài chính Kế toán và Kiểm toán AASC. Hoạt động kiểm toán độc lập thực sự được hình thành và phát triển ở nước ta khi bản thân những nhân tố nội tại của nền kinh tế đặt ra những đòi hỏi cấp thiết cho việc đa dạng hóa sở hữu, đa dạng hóa đầu tư trong quá trình chuyển đổi cơ chế kinh tế. Trước đòi hỏi đó ngày 13/5/1991, theo giấy phép số 957 PPLT của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Tài chính đã ký hai Quyết định thành lập hai Công ty: Công ty Kiểm toán Việt Nam với tên giao dịch là VACO (Quyết định số 165 TC/QĐ/TCCB ngày 13/5/1991) và Công ty Dịch vụ Kế toán Việt Nam với tên giao dịch là ASC (Quyết định số 164 TC/QĐ/TCCB ngày 13/5/1991) sau này đổi tên là Công ty Dịch vụ Tư vấn Tài chính Kế toán và Kiểm toán AASC (Quyết định số 639 TC/QĐ/TCCB ngày 14/9/1993). Như vậy AASC là một trong những Công ty hợp pháp đầu tiên và lớn nhất Việt Nam hoạt động trên lĩnh vực tư vấn tài chính kế toán và kiểm toán. Với cương vị là Công ty đầu ngành AASC đã đóng góp nhiều công sức không chỉ trong việc phát triển Công ty, mở rộng địa bàn kiểm toán mà cả trong việc cộng tác với các Công ty và tổ chức nước ngoài góp phần phát triển sự nghiệp kiểm toán Việt Nam. Trong quá trình hoạt động AASC đã từng bước khẳng định mình, nâng cao uy tín với khách hàng, mở rộng phạm vi cũng như lĩnh vực hoạt động. Ban đầu theo Quyết định số 164 TC/QĐ/TCCB lĩnh vực hoạt động của Công ty chỉ giới hạn trong việc cung cấp các dịch vụ kế toán nhưng bằng sự nỗ lực cố gắng của các cán bộ, nhân viên Công ty trong việc học hỏi, mở rộng, nâng cao trình độ nghiệp vụ kế toán, kiểm toán nên thực tế Công ty còn có khả năng cung cấp các dịch vụ kiểm toán với chất lượng cao. Do vậy dựa trên khả năng của Công ty và nhu cầu thực tế ngày 14/9/93 Bộ Tài chính đã ký Quyết định 639 TC/TCCB chính thức mở rộng lĩnh vực hoạt động của Công ty (trong đó đặc biệt quan trọng là việc cung cấp các dịch vụ kiểm toán) và đổi tên thành Công ty Tư vấn Tài chính Kế toán và Kiểm toán. Cùng với việc đa dạng hóa lĩnh vực hoạt động thì phạm vi hoạt động của Công ty cũng ngày càng phát triển rộng khắp cả nước với các chi nhánh tại TP, Hồ Chí Minh, Bà Rịa- Vũng Tàu, Hạ Long-Quảng Ninh, Thanh Hóa, văn phòng đại diện tại Hải Phòng. Song song với quá trình trên là sự phát triển cả về số lượng, chất lượng, chất lượng đội ngũ nhân viên, khách hàng, đối tác của Công ty… Đến nay Công ty đã có trên 200 kiểm toán viên, kỹ thuật viên, trợ lý kiểm toán viên trong số đó có 52 kiểm toán viên được cấp CPA; khách hàng của Công ty là các doanh nghiệp Nhà nước, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các tổ chức tài chính tín dụng quốc tế có quan hệ thường xuyên và tin cậy… Ngoài ra Công ty còn nhận được sự giúp đỡ, cộng tác của nhiều viện nghiên cứu, hội nghề nghiệp, trường đại học và đặc biệt là sự giúp đỡ kỹ thuật của liên minh Châu Âu - một trong những trung tâm tài chính, kế toán và kiểm toán lớn trên thế giới. Qua 9 năm hình thành và phát triển Công ty AASC đã chứng tỏ một khả năng phát triển mạnh mẽ đồng thời thể hiện là một Công ty có nhiều tiềm năng trong lĩnh vực tài chính-kế toán-kiểm toán, hứa hẹn những bước tiến mới trong chặng đường tiếp theo. 2.1.1 Chức năng hoạt động của AASC Theo các quyết định 164-TC/QD/TCCB, 639-TC/Qđ/TCCB và bản Điều lệ tổ chức và hoạt động của Công ty ban hành kèm theo Quyết định 556 -TC/QĐ/BTC thì AASC là doanh nghiệp Nhà nước trực thuộc Bộ Tài chính chịu sự quản lý của Bộ Tài chính với tư cách là cơ quan quản lý Nhà nước về hoạt động kiểm toán và tư vấn tài chính kế toán, đồng thời với tư cách là chủ sở hữu theo quy định của luật doanh nghiệp. Công ty có phạm vi hoạt động rộng khắp cả nước với các chi nhánh, văn phòng đặt tại các địa phương, hiện nay các chi nhánh, văn phòng đại diện của AASC được phân bố như sau: Sơ đồ 2-1 Trụ sở chính : Số 1 - Lê Phụng Hiểu - HN Điện thoại : 8268681 - 8262775 Fax : 84 - 8253973 Văn phòng đại diện tại Hải Phòng : 88- Điện Biên Phủ - Hải Phòng Chi nhánh Hạ Long - Cột 8 - Thành phố Hạ long ĐT: 836332 Chi nhánh Thanh Hoá : 88 Triệu quốc Đạt - Thanh Hoá ĐT : 856069 Chi nhánh Thành phố HCM : 27B - 1-Nguyễn Đình Chiểu - Quận 1 ĐT: 8242199 Chi nhánh Vũng Tầu : 42 Đường thống nhất ĐT: 856087 Như vậy mạng lưới chi nhánh Công ty đã bước đầu được thành lập đáp ứng được nhu cầu cung cấp dịch vụ phục vụ khác hàng ở khắp các tỉnh thành trên các vùng địa giới hành chính khác nhau trải dọc từ bắc vào nam. AASC hoạt động theo nguyên tắc “ Tuân thủ pháp luật của Nhà nước VIệt Nam, đảm bảo tính trung thực, khách quan và công bằng ; tuân thủ các chuẩn mực kế toán và kiểm toán hiện hành của Việt Nam, và các chuẩn mực kiểm toán, kế toán quốc tế phổ biếnđược Nhà nước Việt Nam thừa nhận. ” “ Hoạt động của Công ty dựa trên cơ sở các hợp đồng ký kết giữa Công ty với khách hàng bao gồm các hoạt động sau : + Các dịch vụ về kiểm toán độc lập theo quy định của nàh nước và bộ tài chính, + Các dịch vụ tư vấn về quản lý tài chính, kế toán, kiểm toán, thuế, xác định giá trị tài sản, góp vốn liên doanh theo yêu cầu của khách hàng và quy định của pháp luật. + Mở các lớp bồi dưỡng ngiệp tài chính, kế toán, kiểm toán, quản trị kinh doanh theo đúng quy định của Nhà nước và Bộ yài chính . + Giám định tài chính kế toán theo yêu cầu cảu khách hàng. + Các dịch vụ khác được pháp luật cho phép. Có thể chi tiết hoá các dịch vụ mà AASC cung cấp cho khách hàng như sau: a-/ Dịch vụ kiểm toán bao gồm các loại hình sau: - Kiểm toán các báo cáo tài chính. - Kiểm toán các hoạt động dự án. - Kiểm toán báo cáo quyết toán công trình xây dựng cơ bản. - Kiểm toán xác định vốn góp liên doanh. - Giám định tài liệu kế toán, tài chính, b-/ Dịch vụ kế toán bao gồm các loại hình sau: - Hướng dẫn áp dụng chế độ kế toán-tài chính. - Xây dựng các mô hình tổ chức bộ máy tổ chức công tác kế toán. - Mở, ghi sổ kế toán và lập các báo cáo tài chính. - Lập hồ sơ đăng ký chế độ kế toán. c-/ Dịch vụ tư vấn về tài chính và thuế bao gồm các loại hình sau: - Tư vấn về thuế. - Tư vấn tài chính tín dụng. - Tư vấn về giá tài sản cố định. - Soạn thảo và đánh giá các phương án đầu tư. - Tư vấn về cổ phần hoá, sáp nhập và giải thể doanh nghiệp. - Hướng dẫn thủ tục đăng ký kinh doanh. - Lập hồ sơ đăng ký kinh doanh thành lập lại doanh nghiệp. d-/ Dịch vụ đào tạo bao gồm các loại hình sau: - Tổ chức các khoá học bồi dưỡng kế toán trưởng, bồi dưỡng nghiệp vụ kế toán, kiểm toán nội bộ, quản trị doanh nghiệp, ứng dụng tin học trong công tác kế toán. - Đào tạo tin học cơ bản và nâng cao. - Hỗ trợ công tác tuyển dụng cán bộ. - Cung cấp và hướng dẫn việc ghi sổ và thực hiện các báo cáo. - Cung cấp các văn bản pháp qui, các thông tin kinh tế-tài chính, sổ sách biểu mẫu, chứng từ. e-/ Dịch vụ phát triển phần mềm, ứng dụng tin học trong công tác quản lý kế toán. Qua liệt kê ở trên chứng tỏ AASC là Công ty đa dạng hoá trong lĩnh vực hoạt động và tất nhiên cơ cấu dịch vụ mà Công ty cung cấp có sự biến chuyển theo nhu cầu của khách hàng, xét ở tầm nhìn gần và xa hơn là sự biến đổi dẫn đến những nhu cầu mới trong quá trình phát triển nền kinh tế. 2.1.2 Cơ cấu tổ chức bộ máy Phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, phạm vi hoạt động của mình AASC có cơ cấu tổ chức bộ máy theo mô hình quản trị chức năng kết hợp với việc tổ chức theo lãnh thổ địa lý thể hiện rõ theo sơ đồ 2-2: Sơ đồ 2-2: Cơ cấu tổ chức bộ máy của AASC Giám đốc Phòng hành chính tổng hợp Phòng kiểm toán các ngành thương mại dịch vụ Phòng kiểm toán dự án Tổ tài chính kế toán Phòng tư vấn đào tạo Phòng kinh doanh tiếp thị Phòng KTBCQT vốn đầu tư công trình Chi nhánh TP HCM Các chi nhánh khác Phó Giám đốc thường trực PGĐ phụ trách tư vấn - đào tạo PGĐ phụ trách kiểm toán vốn đầu tư công trình PGĐ - Giám đốc chi nhánh TPHCM Việc phân chia các phòng ban của Công ty với mục tiêu phục vụ công tác quản lý ,trên thực tế trong mỗi cuộc kiểm toán,tư vấn tài chính kế toán Công ty có thể huy động nhân viên từ các phòng, ban khác nhau. Và do AASC là doanh ngiệp có quy mô vừa công với đặc điểm kinh doanh của Công ty không đòi hỏi sự phức tạp trong công tác kế toán do vậy Công ty không có phòng tài chính kế toán riêng mà chỉ tổ chức thành tổ tài chính kế toán. 2.2) Công tác kiểm toán chu trình huy động và hoàn trả vốn do AASC thực hiện Do những đặc điểm của công tác kiểm toán chu trình huy động và hoàn trả(1,2,3- Phần I), việc tiếp cận công tác kiểm toán đối với chu trình này cần được xem xét trên các loại hình doanh nghiệp khác nhau, trên các doanh nghiệp có mật độ, tính chất các nghiệp vụ vốn khác nhau để có thể khái quát được những vấn đề cơ bản về kiểm toán chu trình huy động và hoàn trả vốn. Sự diễn giải của toàn bộ các mục còn lại của phần II thể hiện hướng tiếp cận này. Các khách hàng được dẫn làm minh chứng cụ thể bao gồm 3 Công ty: Công ty A, Công ty B, Công ty C , trong đó Công ty A, Công ty B là các doanh nghiệp nhà nước, Công ty C là doanh nghiệp liên doanh. Quá trình kiểm toán ở Công ty A, Công ty B đem lại sự so sánh trong công tác kiểm toán chu trình huy động và hoàn trả vốn đối với cùng loại hình doanh nghiệp nhưng có tính chất, mật độ các nghiệp vụ vốn khác nhau; quá trình kiểm toán Công ty C cho thấy công tác kiểm toán chu trình huy động và hoàn trả ở một doanh nghiệp liên doanh đồng thời đem lại cách nhìn so sánh với công tác kiểm toán ở Công ty A. Công ty B là các doanh nghiệp khác loại hình. 2.2.1) Lập kế hoạch kiểm toán Tìm hiểu các vấn đề chung về khách hàng Trong một cuộc kiểm toánbáo cáo tài chính bao giờ cũng gồm quá trình lập kế hoạch tổng quát cho toàn bộ cuộc kiểm toán. Sau đó kế hoạch sẽ được chi tiết đến từng bộ phận, từng chu trình kiểm toán. Vì vậy trước khi lập được kế hoạch chi tiết cho việc kiểm toán chu trình huy động và hoàn trả, kiểm toán viên thực hiện kiểm toán chu trình này cùng các kiểm toán viên khác phải tìm hiểu những vấn đề chung của khách hàng có liên quan đến toàn bộ việc lập và trình bày báo cáo tài chính. Các vấn đề chung đó bao gồm: Tình hình hoạt động kinh doanh của khách hàng, cấu trúc hệ thống kiểm soát nội bộ của khách hàng. Thu thập thông tin về tình hình hoạt động kinh doanh của khách hàng: Kiểm toán viên thu thập những thông tin về tình hình hoạt động kinh doanh của khách hàng, các nghĩa vụ pháp lý của khách hàng và hệ thống kiểm soát nội bộ của Công ty khách hàng. Công ty A là một DNNN được thành lập theo Quyết định số 352- TTg ngày xx/x/1993 của Thủ tướng Chính phủ và Quyết định số xx/QĐQP ngày xx/x/ 1997 của Bộ trưởng Bộ chủ quản về việc phân định loại hình doanh nghiệp. Công ty A được xếp loại là doanh nghiệp công ích loại1. Hoạt động chính của Công ty là: -Xếp dỡ hàng hoá -Dịch vụ cảng biển, kho bãi -Một số dịch vụ khác phục vụ cho dịch vụ chính Công ty hoạt động trên khu vực cảng biển T với cơ cấu khách hàng hết sức đa dạng. Tổng số vốn của Công ty khi thành lập là 300 tỷ đồng Việt Nam, trong đó: Vốn cố định: 200 tỷ đồng Vốn lưu động: 100 tỷ đồng Từ năm 1998, Công ty A đã là khách hàng của Công ty AASC, đồng thời việc kiểm toán được thực hiện từ trước ngày kết thúc niên độ kế toán. Do vậy nhứng thông tin trên được cập nhật từ hồ sơ kiểm toánnăm 1998 đồng thời được bổ sung thêm từ các báo cáo tài chính của Công ty và giải trình của ban Giám đốc, từ đó kiểm toán viên phân tích các nghĩa vụ pháp lý của Công ty A. Công ty A là DNNN do vậy sẽ phải tuân theo những quy định của luật DNNN, đồng thời Công ty A chịu sự chỉ đạo trực tiếp của Bộ Quốc Phòng nên những quy định chi tiết của Bộ Quốc Phòng liên quan đến hoạt động của Công ty cũng được kiểm toán viên xem xét trong quá trình kiểm toán báo cáo tài chính. Cũng tương tự như Công ty A, Công ty B là một DNNN và cũng là một khách hàng thường xuyên của Công ty AASC nên việc cập nhật thông tin cũng được tiến hành đơn giản như đối với Công ty A. Tuy nhiên Công ty B là đơn vị trực thuộc Tổng Công ty G, hoạt động trong lĩnh vực bưu chính viễn thông nên các quan hệ nội bộ cũng được xem xét tới trong quá trình tìm hiểu. Thêm vào đó, Công ty B mời kiểm toán sau kỳ kế toán. Khác với hai Công ty A và B, Công ty C là một Công ty liên doanh và là khách hàng lần đầu của Công ty AASC, do vậy quá trình thu thập thông tin được tiến hành kỹ lưỡng hơn qua việc xem xét các quyết định thành lập, hợp đồng liên doanh, báo cáo tài chính và giải trình của ban Giám đốc, tham quan nhà xưởng và phỏng vấn nhân viên của Công ty. Theo giấy phép thành lập thì Công ty C là Công ty liên doanh giữa Tổng Công ty AC của Việt Nam và Công ty BC của Hàn Quốc, được thành lập theo giấy phép số xx/GP của Chủ nhiệm Uỷ ban Nhà nước về hợp tác và đầu tư. Công ty C xây dựng một toà nhà văn phòng để cho thuê và kinh doanh các dịch vụ văn phòng. Công ty có tư cách pháp nhân, có con dấu riêng và mở tài khoản tại ngân hàng theo quy định của pháp luật Việt Nam. Vốn pháp định của Công ty là 23,500 ,000 USD Vốn đầu tư của Công ty là 80,846,000 USD Trong đó phía Việt Nam góp USD, chiếm 40% vốn pháp định bằng quyền sử dụng 6,146 m2 đất tại Thành phố Hồ Chí Minh trong 40 năm, trị giá 9,500,000 USD, giá trị toà nhà hiện có trên khu đất và bằng tiền Việt Nam. Bên nước ngoài góp 14,000,000 USD, chiếm 60% vốn pháp định bằng tiền nước ngoài. Đến năm thứ 10 và 20 kể từ khi được cấp giấy phép đầu tư, bên nước ngoài chuyển nhượng theo giá gốc quy định tại Điều 5 của Hợp đồng liên doanh, từng phần vốn pháp định của mình cho bên Việt Nam để tỷ lệ góp vốn của hai bên như sau: Bên Việt Nam Bên nước ngoài Năm thứ 10 45% 55% Năm thứ 20 50% 50% Thời hạn của hợp đồng là 40 năm kể từ ngày được cấp giấy phép đầu tư. Khi hết hạn hợp đồng toàn bộ TSCĐ của Công ty được chuyển giao không bồi hoàn cho phía Việt Nam. Ngoài ra các quy định chi tiết về việc thực hiện cac nghĩa vụ với Nhà nước Việt Nam cũng được quy định chi tiết trong giấy phép thành lập. Đến ngày 13/9/1999, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã có Giấy phép đăng ký số xx/GPĐC chuẩn y việc tăng vốn đầu tư của Công ty liên doanh C lên 100.000.000 USD. Sau khi thu thập được các thông tin cơ sở nêu trên về 3 Công ty khách hàng, kiểm toán viên tiến hành bước công việc tiếp theo là đánh giá sơ bộ về hệ thống kiểm soát nội bộ của khách hàng. b, Tìm hiểu sơ bộ hệ thống kiểm soát nội bộ * Môi trường kiểm soát: kiểm toán viên tìm hiểu môi trường kiểm soát nội bộ thông qua các bước: -Kiểm toán viên phỏng vấn ban Giám đốc về các phương pháp kiểm soát của ban Giám đốc, về chức năng của kiểm toánnội bộ: Trong ba Công ty nêu trên, chỉ có Công ty A và B là có ban kiểm toán nội bộ. -Kiểm toán viên phỏng vấn ban Giám đốc về chính sách nhân viên, phỏng vấn và quan sát thái độ của nhân viên đối với công việc. -Kiểm toán viên xem xét cơ cấu tổ chức của các Công ty đã nêu trên. Nhìn chung, ở cả 3 Công ty kiểm toán viên đều cho rằng môi trường kiểm soát nội bộ có khả năng ngăn chặn được các sai sót, gian lận xảy ra. * Tìm hiều hệ thống kế toán Các chính sách kế toán chủ yếu của Công ty A, B: Các công ty áp dụng chế độ kế toán Việt Nam ban hành theo quyết định 1141/TC-CĐKT ngày 01/11/1995 của Bộ Tài Chính. Niên độ kế toán bắt đầu từ ngày 1/1 và kết thúc vào ngày 31/12 hàng năm. Đơn vị tiền tệ áp dụng trong kế toán: Đồng Việt Nam. Các nghiệp vụ kinh tế phát sinh bằng ngoại tệ được quy đổi ra đồng Việt Nam để hạch toán theo nguyên tắc: Doanh thu, chi phí phát sinh bằng ngoại tệ được quy đổi theo tỷ giá hạch toán. Cuối tháng điều chỉnh theo tổng số chênh lệch giữa tỷ giá thực tế tại thời điểm phát sinh nghiệp vụ với tỷ giá hạch toán. Các khoản tiền và công nợ phát sinh bằng ngoại tệ được quy đổi theo tỷ giá hạch toán. Các khoản chênh lệch tỷ giá giữa tỷ giá hạch toán với tỷ giá thực tế tại thời điểm phát sinh nghiệp vụ được phản ánh trên Tài khoản 413- Chênh lệch tỷ giá. Số dư tại thời điểm 31/12/1999 của các tài khoản tiền và công nợ có gốc bằng ngoại tệ đang được phản ánh theo tỷ giá hạch toán. Tỷ giá hạch toán áp dụng trong năm 1999 đối với đô la mỹ (USD) là 13000 đồng/USD. Hình thức sổ kế toán áp dụng: Chứng từ ghi sổ trên máy vi tính. Đối với Công ty C, chính sách kế toán cơ bản giống Công ty A và B (Theo công văn chấp thuận chế độ kế toán số 484/TC/CDKT ngày 8/9/1995) chỉ có một điểm khác biệt là Công ty C thực hiện hình thức Nhật ký chung trên máy tính. Qua tìm hiểu sơ bộ, nhóm kiểm toán viên thấy cả ba Công ty này có hệ thống sổ sách, chứng từ rõ ràng, đầy đủ, bộ máy kế toán có trình độ chuyên môn nghệp vụ cao, do đó kiểm toán viên nhận định khả năng sai sót về kỹ thuật trong quá trình hạch toán kế toán có thể sẽ ít xảy ra. Kết thúc quá trình tìm hiểu sơ bộ về khách hàng, nhóm kiểm toán viên cùng tham gia bàn bạc đưa ra các ý kiến nhận xét, trong đó thống nhất cho rằng cả ở 3 Công ty này, hệ thống kiểm soát nội bộ là có thể tin cậy được. Từ đó kiểm toán viên trưởng quyết định lập kế hoạch sơ bộ cho cuộc kiểm toán. Kế hoạch sơ bộ bao gồm: phương pháp tiếp cận kiểm toán, phân công nhiệm vụ kiểm toán cho từng phần hành, thời gian kiểm toán đối với từng phần hành. Sau khi kế hoạch sơ bộ được lập, kiểm toán viên thực hiện kiểm toán chu trình huy động và hoàn trả, tiến hành thu thập thêm các thông tin chi tiết về khách hàng, đặc biệt là hệ thống kiểm soát nội bộ có liên quan đến các nghiệp vụ, các tài khoản thuộc chu trình huy động và hoàn trả để đánh giá rủi ro cố hữu và rủi ro kiểm soát cho từng bộ phận của chu trình. Sau đó kiểm toán viên tiến hành lập kế hoạch kiểm toán chi tiết cho từng khoản mục, từng bộ phận. Kế hoạch chi tiết cho các khoản mục thuộc chu trình huy động và hoàn trả Kế hoạch chi tiết cho khoản mục vốn vay Để lập kế hoạch chi tiết cho việc kiểm toán khoản mục vốn vay, kiểm toán viên phải tìm hiểu các chính sách, thủ tục kiểm soát áp dụng cho khoản mục này. - ở cả ba Công ty, kiểm toán viên thấy chính sách đề ra về sự phê chuẩn và kiểm tra, đối chiếu định kỳ các khoản vốn vay là hợp lý. Qua phỏng vấn ban Giám đốc, kiểm toán viên nhận thấy rằng ban Giám đốc của các Công ty này đều rất chú trọng đến việc kiểm soát các khoản vay nợ. Sau quá trình trên, kiểm toán viên đánh giá các chính sách, thủ tục kiểm soát đối với các khoản vay có được thiết kế đầy đủ không. Tuy nhiên do các nghiệp vụvay phát sinh không nhiều, do vậy kiểm toán viên vẫn quyết định kiểm toán toàn diện các nghiệp vụ và số dư tài khoản vốn vay, các hiểu biết trên chỉ nhằm giúp kiểm toán viên hiểu rõ hơn về Công ty khách hàng để có thể đưa ra ý kiến trong thư quản lý nếu như các thủ tục kiểm soát đối với khoản mục vốn vay không được thiết kế ở Công ty khách hàng. Kế hoạch kiểm toán chi tiết vốn chủ sở hữu. Qua kiểm tra xem xét, kiểm toán viên nhận thấy các tài khoản vốn chủ sở hữu được chi tiết cụ thể, phù hợp với điều kiện hoạt động của các Công ty, các chính sách tiếp nhận vốn, phân loại nguồn vốn do các Công ty đề ra phù hợp với chế độ kế toán.. Do vậy kiểm toán viên đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ được thiết kế có khả năng ngăn chặn được các sai sót xảy ra. Từ nhận định này kiểm toán viên lập kế hoạch chi tiết chi việc kiểm toán tài khoản vốn chủ sở hữu. Như vậy công việc kiểm toán chu trình huy động và hoàn trả đã được kiểm toán viên lập kế hoạch chi tiết một cách đầy đủ tạo căn cứ cho quá trình thực hiện kiểm toán, đảm bảo hợp lý về hiệu quả, chi phí, thời gian cho cuộc kiểm toán đồng thời tuân theo đúng chuẩn mực kiểm toán Việt Nam và chuẩn mực kiểm toán quốc tế. Thực hiện kiểm toán chu trình huy động và hoàn trả Kế hoạch chi tiết kiểm toán chu trình huy động và hoàn trả đã được kiểm toán viên chi tiết theo hai khoản mục vốn vay và vốn chủ sở hữu, do vậy trong quá trình thực hiện kiểm toán, kiểm toán viên tiến hành kiểm toán theo kế hoạch chi tiết đã lập cho từng khoản mục. 2.3.1 Kiểm toán vốn vay Trong kỳ kế toán, kiểm toán viên thấy rằng chỉ có Công ty C là xảy ra nghiệp vụ vay vốn và đó là các nghiệp vụ vay dài hạn (chỉ có một nghiệp vụ vay ngắn hạn nên kiểm toán viên

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docK0264.doc
Tài liệu liên quan