Đề tài Thực trạng sử dụng vốn tại công ty xà phòng Hà Nội

Đối với TSCĐ dùng trong SXKD tại công ty, tuy công ty đầu tư xây dựng mới nhà cửa vật kiến trúc nhưng một số nhà kho cũ đã xuống cấp vẫn chưa được công ty nâng cấp. Máy móc thiết bị của công ty chỉ là những dây chuyền lắp ráp trong nước chưa được đầu tư đồng bộ có chiều sâu. Bên cạnh đó đối với các thiết bị dụng cụ công ty mới chú trọng đầu tư các thiết bị phục vụ cho công tác quản lý trong khi đó các thiết bị kiểm tra chất lượng đã lạc hậu nhưng chưa được đầu tư mua mới. Đây cũng là một trong những nguyên nhân khiến mức tiêu thụ sản phẩm truyền thống của công ty bị giảm đi, chất lượng không đồng đều, chủ yếu chỉ tiêu thụ ở vùng sâu vùng xa. Cho nên trong những năm tới công ty cần chú trọng đầu tư máy móc thiết bị để nâng cao năng suất lao động vực lại hoạt động SXKD của công ty nhằm đem lại hiệu quả cao hơn.

 

doc50 trang | Chia sẻ: maiphuongdc | Ngày: 30/08/2013 | Lượt xem: 929 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đề tài Thực trạng sử dụng vốn tại công ty xà phòng Hà Nội, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
n có những biện pháp cụ thể đầu tư vào TSCĐ đảm bảo yêu cầu sản xuất và cạnh tranh ngày càng gay gắt trên thị trường. 2.2.2.Thực trạng sử dụng vốn lưu động. Chịu ảnh hưởng của đặc điểm ngành nghề kinh doanh nên trong cơ cấu VKD của công ty, tỷ trọng VLĐ gần tương đương tỷ trọng VCĐ. Tính đến cuối năm 2002, tổng VLĐ của công ty là 66.041.477.313đ chiếm 49,37% trong tổng VKD, tăng 13.739.525.119đ tương ứng với tỷ lệ tăng là 20,8% so với đầu năm. Để thấy rõ tình hình sử dụng VLĐ của công ty, trước hết ta xem xét cơ cấu VLĐ của công ty theo số liệu của bảng 04: Bảng 04: Cơ cấu vốn lưu động ở công ty Xà phòng Hà Nội Đơn vị tính: Đồng Tên chỉ tiêu 31/12/2001 31/12/2002 Chênh lệch Số tiền TT(%) Số tiền TT(%) STĐ % 1. Vốn bằng tiền 24,155,556,678 46.18 37,198,848,848 56.33 13,043,292,170 54.00 3. Các khoản phải thu 16,905,157,131 32.32 18,421,984,310 27.89 1,516,827,179 8.97 4. Hàng tồn kho 7,719,404,628 14.76 10,277,646,731 15.56 2,558,242,103 33.14 5. TSLĐ khác 3,521,833,759 6.73 142,997,426 0.22 (3,378,836,333) (95.94) Tổng cộng 52,301,952,196 100.00 66,041,477,315 100.00 13,739,525,119 26.27 Qua số liệu ở bảng ta thấy: -Vốn bằng tiền của công ty tính đến thời điểm 31/12/2002 là 37.198.848.848đ, chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng VLĐ 56,33%, tăng 13.043.292.170đ tương ứng với tỷ lệ tăng 54%. Hơn nữa, tỷ trọng vốn bằng tiền đã tăng lên so với đầu năm. - Các khoản phải thu cũng chiếm tỷ trọng khá lớn trong tổng VLĐ. Đầu năm là 16.905.157.131đ, cuối năm là 18.421.984.320đ. Như vậy các khoản phải thu đã tăng lên 1.516.827.179 đ tương ứng với tỷ lệ tăng là 8,97%. - Ngoài ra, TSLĐ khác của công ty tính đến thời điểm 31/12/2002 là 142.977.426đ tương ứng với tỉ lệ giảm là 95,94% do các khoản thế chấp kí quĩ, kí cược ngắn hạn năm 2002 đã giảm 3.374.380.400đ tương ứng với tỷ lệ giảm là 100%. Nguyên nhân là trong năm 2002, do tạo được độ tin cậy với bạn hàng trong các hoạt động nhập khẩu vật tư, nguyên liệu nên công ty không bắt buộc phải thanh toán bằng hình thức L/C mà có thể sử dụng các hình thức khác như D/P, TTR. Do đó không cần phải ký quĩ, ký cược. Nhìn chung kết cấu vốn lưu động của công ty là chưa hợp lí, hàng tồn kho và các khoản phải thu chiếm tỷ trọng khá lớn, nhất là lượng vốn bằng tiền của công ty để ứ đọng quá lớn vì thế trong thời gian tới công ty cần có những giải pháp để sử dụng hiệu quả hơn VLĐ. 2.2.3. Thực trạng sử dụng vốn kinh doanh. Trên đây là thực trạng của VCĐ và VLĐ hay chính là thực trạng về VKD của công ty. Nhưng để có cái nhìn tổng thể về thực trạng vốn kinh doanh của Công ty xà phòng Hà Nội chúng ta cần xem xét cơ cấu vốn kinh doanh và nguồn vốn qua bảng sau: Bảng 05: Vốn và nguồn vốn kinh doanh ở công ty Xà phòng Hà Nội Đơn vị tính: Đồng Chỉ tiêu 31/12/2001 31/12/2002 Chênh lệch Số tiền TT(%) Số tiền TT(%) STĐ % 1. Vốn kinh doanh 118,502,645,378 100.00 133,757,724,066 100.00 15,255,078,688 12.87 - Vốn cố định 66,200,693,182 55.86 67,716,246,751 50.63 1,515,553,569 2.29 - Vốn lưu động 52,301,952,196 44.14 66,041,477,315 49.37 13,739,525,119 26.27 2. Nguồn vốn 118,502,645,378 100.00 133,757,724,066 100.00 15,255,078,688 12.87 - Nguồn vốn CSH 86,627,104,206 73.10 116,678,959,707 87.23 30,051,855,501 34.69 - Nợ phải trả 31,875,541,172 26.90 17,078,764,359 12.77 (14,796,776,813) (46.42) Tính đến ngày 31/12/2002, tổng vốn kinh doanh của công ty có 133.757.724.066đ, so với 31/12/2001 tăng 15.255.078.688đ tương ứng với tỉ lệ tăng 12,87%. Qui mô vốn kinh doanh của công ty đã tăng hơn so với năm 2001 chủ yếu là do sự tăng lên của vốn lưu động. Cụ thể: - Vốn lưu động của công ty tính đến thời điểm 31/12/2002 là 66.041.477.315đ chiếm tỷ trọng 49,37% trong tổng số vốn kinh doanh, so với thời điểm 31/12/2001 đã tăng lên 13.739.525.119đ tương ứng với tỉ lệ tăng là 26,27%. - Vốn cố định của công ty tính đến ngày 31/12/2002 là 67.716.246.751đ , chiếm 50,63% so với thời điểm 31/12/2001 tăng 1.515.553.569đ tương ứng với tỉ lệ tăng 2,29%. Nguyên nhân làm tăng vốn cố định là trong năm 2002, công ty đã xây dựng và mua sắm mới một số thiết bị như: nhà cửa vật kiến trúc, máy móc thiết bị, phương tiện vận tải, thiết bị dụng cụ quản lí phục vụ cho hoạt động của công ty. Cùng với sự biến động về cơ cấu vốn, nguồn hình thành vốn của công ty cũng có sự biến động. - Đối với nợ phải trả: nợ phải trả của công ty chủ yếu là nợ ngắn hạn và có một phần nhỏ là nợ dài hạn, hoàn toàn không có nợ khác. Tổng nợ phải trả của công ty tính đến 31/12/2002 là 17.078.764.359đ chiếm tỷ trọng là 12,8% trong tổng nguồn vốn. So với thời điểm 31/12/2001, nợ phải trả đã giảm 14.796.776.815đ với tỷ lệ giảm là 46,42%. Nợ phải trả của công ty giảm chủ yếu là do giảm các khoản nợ ngắn hạn, trong đó phải trả cho người bán giảm 13.198.727.394đ. - Nguồn vốn chủ sở hữu (CSH): tính đến thời điểm 31/12/2002, nguồn vốn CSH của công ty là 116.678.959.707đ chiếm tỷ trọng 87,2%, trong đó vốn do ngân sách nhà nước cấp là 53.459.842.768đ, còn lại 63.219.116.939đ là vốn do công ty tự bổ xung. So với thời điểm 31/12/2001, nguồn vốn CSH của công ty đã tăng 30.051.855.501đ, với tỷ lệ tăng là 34,69%. Kết cấu của nguồn vốn thay đổi đã có tác động tích cực đến khả năng tự chủ tài chính của công ty như sau : Bảng 06: Phân tích khả năng tự chủ tài chính của công ty Xà phòng Hà Nội Chỉ tiêu ĐVT 31/12/2001 31/12/2002 Chênh lệch 1. Hệ số vốn CSH % 73.10 87.20 14.10 2. Hệ số nợ % 26.90 12.80 -14.10 Qua bảng 06 ta thấy hệ số vốn CSH của công ty đã tăng là 14,1% và hệ số nợ giảm 14,1%. Điều này chứng tỏ khả năng tự chủ tài chính của công ty ngày càng tăng cao. Xét trên lý thuyết thì việc hệ số nợ càng thấp bao nhiêu thì khả năng rủi ro tài chính sẽ giảm bấy nhiêu . Tuy nhiên khi hệ số nợ cao thì chủ sở hữu càng có lợi vì khi đó chủ sở hữu chỉ phải đóng góp 1 lượng vốn ít nhưng được sử dụng 1 lượng tài sản lớn hơn. Do đó công ty có thể tận dụng nó như 1 chính sách tài chính để gia tăng lợi nhuận. Để tìm hiểu sâu hơn, chúng ta đi vào xem xét khoản phải thu và phải trả nợ của công ty qua bảng 07 (trang bên). Thông qua số liệu ở bảng 07 ta thấy tại thời điểm 31/12/2001, số vốn công ty chiếm dụng được lớn hơn số vốn công ty bị chiếm dụng là 11.424.026.563đ. Nhưng đến 31/12/2002, số vốn công ty chiếm dụng được lại nhỏ hơn số vốn công ty bị chiếm dụng là 3.801.647.675đ. Nguyên nhân là: - Lượng vốn của công ty bị chiếm dụng tính đến 31/12/2002 là 18.421.984.310đ tăng lên 1.516.827.179đ với tỷ lệ tăng là 8,97%. Việc tăng lên là do trong năm 2002 để mở rộng thị trường tiêu thụ về khu vực phía Nam đồng thời để thu hút khách hàng công ty đã sử dụng chính sách kéo dài thời gian bán chịu. - Lượng vốn công ty chiếm dụng được tính đến ngày 31/11/2002 là 14.620.336.635đ giảm so với 31/12/2001 là 13.708.847.059đ với tỷ lệ giảm xuống là 48,39%. Tuy nhiên lượng vốn chiếm dụng được này không thuộc sở hữu của công ty nên khi sử dụng loại vốn này công ty phải cẩn trọng. Mặt khác nó lại là 1 nguồn vốn có lợi vì khi sử dụng nó công ty không phải trả chi phí sử dụng. Vì vậy công ty nên tận dụng tối đa những cơ hội sử dụng nguồn vốn này nhưng chỉ được sử dụng vào mục đích tạm thời và phải bảo đảm nguyên tắc hoàn trả theo đúng quy định. Qua những phân tích ở trên ta có thể đánh giá khái quát về tình hình tổ chức VKD của công ty như sau : - Về cơ cấu VKD: Trong tổng VKD của công ty thì VCĐ chiếm 50,63%, VLĐ chiếm 49,37%. Mặc dù công ty đã có sự cố gắng điều chỉnh cơ cấu vốn sao cho phù hợp với tình hình thực tế nhưng cơ cấu vốn này chưa hợp lý, chưa đem lại hiệu quả sử dụng cao. Trong cơ cấu TSCĐ, công ty chưa chú trọng đầu tư đồng bộ máy móc thiết bị cho hoạt động SXKD. Bên cạnh đó công ty còn để ứ đọng một lượng khá lớn vốn bằng tiền do lập kế hoạch chưa sát với thực tế. Do đó trong thời gian tới công ty cần xem xét lại cơ cấu vốn để đem lại hiệu quả sử dụng vốn cao nhất. - Về nguồn hình thành VKD: năm 2002 vốn CSH chiếm 87,2%, nợ phải trả chiếm 12,8%. Với cơ cấu nguồn như vậy công ty đã tài trợ cho nhu cầu dài hạn của mình hoàn toàn bằng nguồn vốn dài hạn (vay dài hạn và vốn CSH ), tài trợ cho nhu cầu vốn lưu động bằng nguồn ngắn hạn (vay ngắn hạn và chiếm dụng ) và 1 phần bằng nguồn vốn dài hạn. Như vậy xét trên góc độ tài chính, với mô hình tài trợ này công ty đạt được sự an toàn cao trong kinh doanh. Trên đây là cơ cấu VKD và nguồn hình thành VKD của công ty. Trước khi đi vào phân tích hiệu quả sử dụng VKD của công ty, chúng ta cần xem xét đánh giá diễn biến nguồn vốn và sử dụng vốn của công ty năm 2002 qua bảng 08 (trang bên). Từ bảng ta thấy : - Về diễn biến nguồn vốn: trong năm 2002 công ty huy động được 30.702.547.650đ chiếm 72,72% từ nguồn vốn bên trong. Trong đó 23.920.422.621đ chiếm 56,66% là do công ty tăng quỹ đầu tư phát triển và 4.316.492.238đ là do công ty tăng quỹ dự phòng tài chính. Công ty còn huy động được 11.516.179.740đ chiếm 27,28% là do cải tiến và nâng cao công tác tổ chức, quản lý vốn lưu động. Như vậy trong năm 2002 công ty không huy động vốn qua hình thức đi vay. - Về sử dụng vốn: Tổng số vốn 42.218.727.390đ huy động được, công ty đã dùng 13.198.727.394đ tương ứng 31,26% để trả nợ cho người bán, 1.087.929.754đ tương ứng 2,58% để trả nợ vay dài hạn, trả nợ CBCNV nhằm giảm rủi do trong kinh doanh. Bên cạnh đó công ty dùng 2.345.896.847đ chiếm 5,56% để đầu tư mua sắm TSCĐ. Công ty còn dành 30,09% tương ứng số tiền là 12.703.301.315đ để tăng lượng tiền gửi ngân hàng đảm bảo khả năng thanh toán nhanh của công ty... Những phân tích ở trên đã cho ta cái nhìn tổng quát về diễn biến nguồn vốn và sử dụng vốn của công ty năm 2002. Vậy việc sử dụng VKD của công ty đã đem lại hiệu quả cao nhất hay chưa, chúng ta phải đi sâu vào phân tích hiệu quả sử dụng vốn của công ty. Đánh giá hiệu quả sử dụng vốn tại công ty Xà Phòng Hà Nội. Trước khi đi vào phân tích hiệu quả sử dụng VKD trong SXKD tại Công ty Xà phòng Hà Nội chúng ta cùng xem xét hiệu quả sử dụng tổng VKD của công ty qua bảng sau: Bảng 09: Hiệu quả sử dụng tổng vốn kinh doanh ở công ty Xà phòng Hà Nội Chỉ tiêu ĐVT Năm 2001 Năm 2002 Chênh lệch STĐ % 1.Tổng doanh thu thuần đ 193,142,771,341 167,795,456,649 (25,347,314,692) (13.12) 2. Tổng lợi nhuận sau thuế đ 24,663,652,508 35,044,253,889 10,380,601,381 42.09 3. Tổng VKD bình quân đ 99,883,690,250 126,130,184,722 26,246,494,472 26.28 5. Doanh lợi tổng vốn ( 2 : 3 ) 0.25 0.28 0.03 12.52 6. Vòng quay tổng vốn ( 1 : 3 ) vòng 1.93 1.33 (0.60) (31.20) Qua bảng ta thấy: - Vòng quay tổng vốn của công ty năm 2002 đã giảm đi 0,59 vòng tương ứng với tỷ lệ giảm là 35,99%. Nguyên nhân là do tổng doanh thu thuần đã giảm đi 25.347.314.692đ tương ứng với tỷ lệ giảm là 13,12%. Trong khi VKD bình quân lại tăng lên 26.246.494.472đ tương ứng với tỷ lệ tăng là 26,28%. - Doanh lợi tổng vốn năm 2002 lại tăng lên 0,03 tương ứng với tỷ lệ tăng là 12,52%. Lý do là tốc độ tăng lợi nhuận sau thuế lớn hơn tốc độ tăng VKD bình quân. Như vậy ta thấy vòng quay tổng VKD giảm chủ yếu là do ảnh hưởng của tổng doanh thu thuần còn doanh lợi tổng VKD tăng chủ yếu là do ảnh hưởng của tổng lợi nhuận sau thuế. Tuy nhiên khi đi sâu vào phân tích kết cấu tổng VKD, tổng doanh thu thuần, tổng lợi nhuận sau thuế qua bảng 15 (trang bên), ta sẽ thấy do ảnh hưởng của kết quả hoạt động tài chính quá lớn đã làm cho các chỉ tiêu trên phản ánh chưa chính xác hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của công ty. Qua bảng ta thấy: - Tại 31/12/2002, trong tổng VKD là 133.757.724.066đ thì số vốn đầu tư tài chính dài hạn hay chính là số vốn góp liên doanh với tập đoàn Unilever của Hà lan là 55.335.280.000đ chiếm 41,370% tổng VKD. - Tại 31/12/2002, số lợi nhuận được chia từ góp vốn liên doanh là 35.007.633.644đ chiếm 99,869% trong tổng lợi nhuận sau thuế của công ty. Như vậy số vốn mà công ty góp vốn liên doanh chiếm gần một nửa tổng VKD, và khoản lợi nhuận thu về từ hoạt động này chiếm đến 99,896% tổng lợi nhuận sau thuế của công ty. Tuy số lợi nhuận này là kết quả của việc công ty đã dùng vốn của mình góp vốn liên doanh nhưng khi để cả số vốn, doanh thu, lợi nhuận từ hoạt động liên doanh này vào trong tổng VKD, tổng doanh thu, tổng lợi nhuận để tính các chỉ tiêu tính hiệu quả sử dụng VKD của công ty thì các khuyết tật trong hoạt động SXKD của công ty sẽ bị che dấu đi. Do đó để phản ánh một cách tương đối chính xác hiệu quả sử dụng vốn của công ty, từ đây trở đi sẽ tập trung nghiên cứu hiệu quả sử dụng phần vốn phục vụ cho hoạt động SXKD tại chính Công ty Xà phòng Hà Nội . Trước khi đánh giá hiệu quả sử dụng VCĐ trong SXKD tại công ty, chúng ta cần xem xét hiệu quả sử dụng TSCĐ trong SXKD tại công ty qua bảng sau: Bảng 11: Hiệu quả sử dụng TSCĐ trong SXKD tại Công ty xà phòng Hà Nội Chỉ tiêu ĐVT Năm 2001 Năm 2002 Chênh lệch STĐ % 1. Doanh thu thuần đ 163,574,295,484 132,215,128,318 (31,359,167,166) (19.17) 2. Lợi nhuận sau thuế đ (1,075,166,637) 22,157,893 1,097,324,530 102.06 3. NGTSCĐ bình quân đ 10,637,072,035 15,636,441,344 4,999,369,309 47.00 4. Hiệu suất sử dụng TSCĐ ( 1 : 3 ) 15.378 8.456 (6.922) (45.01) 5. Mức sinh lời của TSCĐ ( 2 : 3 ) (0.101) 0.001 0.102 101.40 Từ bảng trên ta thấy: Hiệu suất sử dụng TSCĐ trong SXKD tại công ty năm 2002 đã giảm so với năm 2001 là 6,922 tương ứng với tỉ lệ giảm là 45,014%. Đây cũng là điều dễ hiểu và là tất yếu đối với công ty vì trong năm 2002, do công ty chấm dứt hoạt động uỷ thác cho công ty Lever - Việt Nam làm doanh thu thương mại giảm 29.501.928.427đ. Đây chính là nguyên nhân làm doanh thu thuần từ SXKD giảm đi và đồng thời làm hiệu suất sử dụng TSCĐ giảm đi. Bên cạnh đó mức sinh lời của TSCĐ năm 2002 đã tăng lên 0,102 tương ứng với tỉ lệ tăng là 101,402%. Lí do là lợi nhuận sau thuế năm 2002 đã tăng lên 1.097.324.530đ tương ứng với tỉ lệ tăng là 102,061%. Lợi nhuận sau thuế tăng lên chủ yếu là do trong năm công ty đã giảm được lượng hàng bị trả lại, giảm chi phí quản lí doanh nghiệp ... Từ việc xem xét hiệu quả sử dụng TSCĐ trong SXKD tại công ty, ta đi đánh giá hiệu quả sử dụng VCĐ trong SXKD tại công ty thông qua một số chỉ tiêu ở bảng sau: Bảng 12: Hiệu quả sử dụng VCĐ trong SXKD tại Công ty xà phòng Hà Nội Chỉ tiêu ĐVT Năm 2001 Năm 2002 Chênh lệch STĐ % 1. Doanh thu thuần đ 163,574,295,484 132,215,128,318 (31,359,167,166) (19.171) 2. Lợi nhuận sau thuế đ (1,075,166,637) 22,157,893 1,097,324,530 102.061 3. VCĐ bình quân đ 8,739,075,738 11,623,189,967 2,884,114,229 33.003 4. Hiệu suất sử dụng VCĐ ( 1 : 3 ) 18.718 11.375 (7.342) (39.228) 5. Hàm lượng VCĐ ( 3 : 1 ) 0.053 0.088 0.034 64.548 6. Doanh lợi VCĐ ( 2 : 3 ) (0.123) 0.002 0.125 101.550 Qua bảng số liệu trên ta thấy: - Hiệu suất sử dụng VCĐ trong SXKD tại công ty năm 2002 đã giảm đi nhiều so với năm 2001. Năm 2002, công ty sử dụng bình quân 1 đồng VCĐ tham gia vào SXKD tạo ra 11,375 đồng doanh thu, còn năm 2001 tạo ra 18,718 đồng doanh thu. Như vậy, hiệu suất sử dụng VCĐ giảm 7,342 tương ứng với tỉ lệ giảm là 39,228%. Lí do là doanh thu năm 2002 đã giảm 19,171%, trong khi VCĐ bình quân lại tăng lên 33,003%. Trên thực tế năm 2002 để tạo ra 1 đồng doanh thu, công ty phải sử dụng thêm 0,034 đồng VCĐ so với năm 2001. Điều này chứng tỏ hiệu quả sử dụng VCĐ giảm. - Về doanh lợi VCĐ: năm 2002 cứ 1 đồng VCĐ đưa vào SXKD thì tham gia tạo ra được 0,002 đồng lợi nhuận, còn năm 2001 tạo ra (-0,123) đồng lợi nhuận. Như vậy trong năm 2002 cứ một đồng VCĐ đưa vào SXKD đã tạo ra nhiều hơn năm 2001 là 0,125 đồng hay doanh lợi VCĐ đã tăng 0,125 tương ứng với tỉ lệ tăng là 101,55%. Nguyên nhân là tốc độ tăng lợi nhuận sau thuế lớn hơn tốc độ tăng VCĐ bình quân. Để thấy rõ độ ảnh hưởng của từng nhân tố tới các chỉ tiêu chúng ta đi sâu nghiên cứu từng chỉ tiêu một: * Hiệu suất sử dụng VCĐ: tác động đến chỉ tiêu này gồm có 2 nhân tố là doanh thu thuần và VCĐ bình quân. Ta có: Hiệu suất VCĐ (HSVCĐ) = Doanh thu thuần(DTT) VCĐ bình quân(VCĐBQ) Tác động của nhân tố doanh thu: HSVCĐ(DTT) = DTT2002 - DTT2001 VCĐ BQ2001 VCĐ BQ2001 = 132215128318 - 163574295484 8739075738 8739075738 = - 3,588 Tác động của nhân tố VCĐ bình quân: HSVCĐ(VCĐBQ) = DTT2002 - DTT2002 VCĐBQ2002 VCĐBQ2001 = 132215128318 - 132215128318 11623189966,5 8739075738 = - 3,754 Tác động tổng hợp của hai nhân tố HSVCĐ = HSVCĐ(DTT) + HSVCĐ(VCĐBQ) = - 3,588 + (- 3,754) = - 7,342 Do doanh thu thuần năm 2002 giảm so với năm 2001 làm cho hiệu suất sử dụng VCĐ giảm 3,588, đồng thời VCĐ bình quân tăng 2.884.114.229đ với tốc độ tăng là 33,003% làm cho hiệu suất sử dụng VCĐ giảm 3,754. Tổng hợp tác động của hai nhân tố đã làm hiệu suất sử dụng VCĐ giảm 7,342 với tỷ lệ giảm 39,228%. * Chi tiêu doanh lợi VCĐ: Ta có: Doanh lợi VCĐ(DLVCĐ) = Lợi nhuận sau thuế(PST) VCĐ bình quân(VCĐBQ) - ảnh hưởng của nhân tố lợi nhuận sau thuế: DLVCĐ(PST) = PST 2002 - PST 2001 VCĐBQ 2001 VCĐBQ 2001 = 22157893 - - 1075166637 8739075738 8739075738 = 0,126 - ảnh hưởng của nhân tố VCĐ bình quân: DLVCĐ(VCĐBQ) = PST 2002 - PST 2002 VCĐBQ 2002 VCĐBQ 2001 = 22157893 - 22157893 11623189966,5 8739075738 = - 0,001 Tổng hợp ảnh hưởng của 2 nhân tố: DLVCĐ = DLVCĐ(PST) + DLVCĐ(VCĐBQ) = 0,126 + (- 0,001) = 0,125 Như vậy tuy VCĐ bình quân tăng làm cho doanh lợi VCĐ giảm 0,001 nhưng lợi nhuận sau thuế năm 2002 tăng làm doanh lợi VCĐ tăng lên 0,126. Tổng hợp ảnh hưởng của 2 nhân tố làm doanh lợi VCĐ tăng 0,125 với tỷ lệ tăng là 101,55%. Tóm lại, từ sự phân tích ở trên ta có thể rút ra nhận xét: Hiệu suất sử dụng VCĐ trong SXKD tại công ty năm 2002 đã giảm đi. Sự giảm sút này là không tốt vì nó sẽ ảnh hưởng tới hiệu quả sử dụng VKD trong SXKD tại công ty. Lí do là doanh thu thuần năm 2002 đã giảm. Nguyên nhân làm doanh thu thuần giảm như đã nêu ở trên là việc công ty đã chấm dứt nhập uỷ thác vật tư nguyên liệu cho công ty Lever Việt Nam, đồng thời do trong năm công ty đã tiến hành xây dựng mới và mua sắm mới một số TSCĐ. Tuy nhiên, doanh lợi VCĐ lại tăng lên đáng kể chứng tỏ hiệu quả sử dụng VCĐ đã tăng lên. Lý do là lợi nhuận sau thuế năm 2002 đã tăng lên 102,061%. Đó là kết quả cố gắng phấn đấu của toàn thể cán bộ công nhân viên công ty trong hoạt động SXKD. Ví dụ như: công ty đã quản lí chặt hơn các hợp đồng bán hàng làm giảm đáng kể lượng hàng bị trả lại, công ty đã cố gắng giảm chi phí quản lí doanh nghiệp bằng việc giảm các khoản chi phí dịch vụ mua ngoài và các khoản chi phí nhân viên quản lí... Tuy nhiên trong thời gian tới công ty cần chú trọng đầu tư máy móc thiết bị đồng bộ để tăng năng suất lao động đem lại hiệu suất sử dụng VCĐ trong SXKD tại công ty cao hơn. Đến cuối năm 2002, VLĐ trong SXKD tại công ty là 66.041.477.315đ chiếm 84,2% trong tổng VKD dùng trong SXKD tại công ty. Vì vậy nâng cao hiệu quả sử dụng VLĐ trong SXKD tại công ty có ý nghĩa quan trọng đối với việc nâng cao hiệu quả sử dụng VKD trong SXKD tại công ty. Chúng ta cùng xem xét một số chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng VLĐ trong SXKD tại công ty qua bảng sau: Bảng 13: Hiệu quả sử dụng VLĐ trong SXKD tại Công ty xà phòng Hà Nội Chỉ tiêu ĐVT Năm 2001 Năm 2002 Chênh lệch STĐ % 1. Doanh thu thuần đ 163,574,295,484 132,215,128,318 (31,359,167,166) (19.17) 2. Lợi nhuận sau thuế đ (1,075,166,637) 22,157,893 1,097,324,530 102.06 3. vật liệuĐ bình quân đ 35,809,334,512 59,171,714,756 23,362,380,244 65.24 4. Vòng quay VLĐ ( 1 : 3 ) vòng 4.568 2.234 (2.333) (51.084) 5. Kỳ luân chuyển BQ ( 360 : 4 ) ngày 79 161 82 104.433 6. Hàm lượng VLĐ ( 3 : 1 ) 0.219 0.448 0.229 104.433 7. Doanh lợi VLĐ ( 2 : 3 ) (0.030) 0.0004 0.030 101.247 Từ bảng 13 ta thấy, vòng quay VLĐ năm 2002 bị giảm đi nhưng doanh lợi VLĐ năm 2002 lại tăng lên. Cụ thể: - Vòng quay VLĐ giảm 2,333 tương ứng với tỉ lệ giảm là 51,084%. Lý do là doanh thu thuần năm 2002 đã giảm 19,17%, mà VLĐ bình quân lại tăng lên 65,241%. - Doanh lợi VLĐ tăng 0,03 tương ứng với tỉ lệ tăng là 101,247% có nghĩa là trong năm 2002 cứ một đồng VLĐ tham gia vào SXKD tạo ra nhiều hơn năm 2001 là 0,03 đồng lợi nhuận sau thuế. Lý do là tốc độ tăng lợi nhuận lớn hơn tốc độ tăng VLĐ bình quân. Sự tăng giảm của các chỉ tiêu là do ảnh hưởng của nhiều nhân tố khác nhau. Vì vậy, chúng ta cần phân tích từng chỉ tiêu để thấy được mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố. * Chỉ tiêu vòng quay VLĐ Vòng quay VLĐ (VVLĐ) = DTT VLĐBQ ảnh hưởng của nhân tố doanh thu thuần VVLĐ(DTT) = DTT2002 - DTT2001 VLĐBQ 2001 VLĐBQ 2001 = 132215128318 - 163574295484 35809334512 35809334512 = - 0,875 ảnh hưởng của nhân tố VLĐ bình quân VVLĐ( VLĐBQ) = DTT2002 - DTT2002 VLĐBQ 2002 VLĐBQ 2001 = 132215128318 - 132215128318 59171714755,5 35809334512 = - 1,458 Tổng hợp ảnh hưởng của hai nhân tố: VVLĐ = VVLĐ(DTT) + VVLĐ( VLĐBQ) = - 0,875 + (- 1,458) = -2,333 Như vậy do doanh thu thuần năm 2002 so với 2001 giảm 31.391.414.648đ tương ứng với tỉ lệ giảm là 19,171%, làm cho vòng quay VLĐ giảm 0,875 vòng đồng thời VLĐ bình quân tăng lên 65,241% làm cho vòng quay VLĐ giảm 1,458 vòng. Tác động của hai nhân tố này làm cho vòng quay VLĐ giảm 2,333 vòng tương ứng với tỉ lệ giảm là 51,084%. Do vòng quay VLĐ giảm làm cho kì luân chuyển bình quân tăng 82 ngày, nghĩa là 1 vòng quay VLĐ chậm hơn 82 ngày. * Chỉ tiêu doanh lợi VLĐ: Doanh lợi VLĐ (DLVLĐ) = PST VLĐBQ ảnh hưởng của nhân tố lợi nhuận sau thuế: DLVLĐ(PST) = PST 2002 - PST 2001 VLĐBQ 2001 VLĐBQ 2001 = 22157893 - -1075166637 35809334512 35809334512 = 0,0306 ảnh hưởng của nhân tố VLĐ bình quân: DLVLĐ(VLĐBQ) = PST 2002 - PST 2002 VLĐBQ 2002 VLĐBQ 2001 = 22157893 - 22157893 59171714755,5 35809334512 = - 0,0002 Tổng hợp ảnh hưởng của 2 nhân tố: DLVLĐ = DLVLĐ(PST) + DLVLĐ(VLĐBQ) = 0,0306 + (- 0,0002) = 0,0304 Do lợi nhuận sau thuế năm 2002 tăng so với năm 2001 là 1.097.324.530đ tương ứng với tỉ lệ tăng là 102,061% làm cho doanh lợi VLĐ tăng 0,0306. Tuy nhiên do VLĐ bình quân tăng lên 23.362.380.244đ tương ứng với tỉ lệ tăng là 65,241% đã làm cho doanh lợi VLĐ giảm 0,0002. Tổng hợp ảnh hưởng của 2 nhân tố này làm cho doanh lợi VLĐ năm 2002 tăng lên 0,0304 tương ứng với tỉ lệ giảm là 101,247%. Qua sự phân tích trên ta thấy năm 2002 hiệu quả sử dụng VLĐ trong SXKD tại công ty đã tăng lên. Lí do là doanh lợi VLĐ đã tăng lên 0,03. Nguyên nhân doanh lợi VLĐ tăng lên chủ yếu là do lợi nhuận sau thuế đã tăng lên1.097.324.530đ. Tuy nhiên vòng quay VLĐ lại giảm đi 2,333 vòng đã làm giảm hiệu quả sử dụng VLĐ trong SXKD tại công ty. Nguyên nhân là trong năm 2002 công ty đã huy động quá nhiều VLĐ. Cụ thể là số vốn bằng tiền đã được huy động quá nhiều so với nhu cầu thực tế của công ty. Vì vậy đã làm giảm hiệu quả sử dụng VLĐ trong SXKD tại công ty. Bên cạnh đó các khoản phải thu và hàng tồn kho cũng ảnh hưởng không ít đến hiệu quả sử dụng VLĐ trong SXKD tại công ty do đó chúng ta cần xem xét một số chỉ tiêu về các khoản phải thu và hàng tồn kho qua bảng sau: Chỉ tiêu ĐVT Năm 2001 Năm 2002 Chênh lệch STĐ % 1. Doanh thu bán SP và cung cấp DV đ 163,625,912,164 132,234,497,516 (31,391,414,648) (19.18) 2.Giá vốn hàng bán đ 160,568,099,779 127,807,658,060 (32,760,441,719) (20.40) 3. Thuế VAT đầu ra phải nộp đ 14,825,986,759 10,808,673,211 (4,017,313,548) (27.1) 4. Hàng tồn kho bình quân đ 7,320,593,066 8,998,525,680 1,677,932,614 22.92 5. Các khoản phải thu bình quân đ 12,112,575,171.5 17,663,570,720.5 5,550,995,549 45.83 6. Vòng quay hàng tồn kho ( HTK) ( 2 : 4 ) vòng 21.93 14.20 (7.73) (35.25) 7. Số ngày một vòng quay HTK ( 360 : 6 ) ngày 16 25 9 54.43 8. Vòng quay các khoản phải thu ( ( 1 +3 ) : 5 ) vòng 14.73 8.1 ( 6.63) (45.01) 9. Kỳ thu tiền bình quân ( 360 : 8 ) ngày 24 44 20 81,83 Bảng 14: Các chỉ tiêu về các khoản phải thu và hàng tồn kho của công ty Từ số liệu ở bảng trên ta thấy: vòng quay hàng tồn kho đã giảm đi 7,73 vòng tương ứng với tỉ lệ giảm là 35,25%. Số vòng quay hàng tồn kho giảm làm cho số ngày một vòng quay hàng tồn kho tăng lên 9 ngày tương ứng với tỉ lệ tăng là 54,43%. Điều này chứng tỏ vốn của công ty đã bị ứ đọng vốn dưới hình thức hàng tồn kho mà chủ yếu là nguyên vật liệu tồn kho. Điều này là do việc lập kế hoạch về nhu cầu vốn vật tư hàng hoá dự trữ chưa chính xác làm cho lượng vốn bị ứ đọng nhiều. Nếu công ty tiến hành công tác lập kế hoạch nhu cầu vốn vật tư hàng hoá tốt hơn thì không những vẫn đảm bảo cho hoạt động XSKD diễn ra liên tục mà còn giảm được lượng vốn bị ứ đọng, đẩy nhanh vòng quay hàng tồn kho, nâng cao hiệu quả sử dụng VLĐ. Cũng như vòng quay hàng tồn kho, vòng quay các khoản phải thu năm 2002 giảm đi 6,63 vòng tương ứng với tỉ lệ giảm là 45,01%. Do vòng quay các khoản phải thu giảm làm cho kì thu tiền bình quân tăng lên 20 n

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docSử dụng vốn của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trư­ờng.DOC
Tài liệu liên quan