Đề tài Tiền lương - Sự ảnh hưởng đến Báo cáo tài chính, từ đó hướng tới việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống Báo cáo tài chính

 

LỜI MỞ ĐẦU 1

NỘI DUNG 2

I. BÁO CÁO TÀI CHÍNH 2

1. Khái quát chung 2

2. Nội dung báo cáo tài chính 3

II. TIỀN LƯƠNG - SỰ ẢNH HƯỞNG ĐẾN BÁO CÁO TÀI CHÍNH 6

1. Tiền lương 6

2. Vị trí, vai trò và sự ảnh hưởng của tiền lương đối với báo cáo tài chính 9

3. Kết luận 15

KẾT LUẬN 17

 

 

doc18 trang | Chia sẻ: huong.duong | Ngày: 07/08/2015 | Lượt xem: 822 | Lượt tải: 4download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đề tài Tiền lương - Sự ảnh hưởng đến Báo cáo tài chính, từ đó hướng tới việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống Báo cáo tài chính, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
nhằm cung cấp cái nhìn tổng quát cho các nhà quản trị và các nhà đầu tư ra quyết định. Báo cáo tài chính là một trong những tài liệu quan trong bậc nhất đối với hoạt động sản xuất kinh doanh tài chính. Thông qua các báo cáo tài chính mà các nàh quản trị đưa ra được quyết định, đánh giá và dự đoán cho các kỳ kế tiếp. Chất lượng của báo cáo tài chính ảnh hưởng lớn đến sự phát triển và duy trì của doanh nghiệp. Trước vai trò và vị trí quan trọng của báo cáo tài chính, việc phân tích và hoàn thiện hệ thống báo cáo tài chính là công việc cần được quan tâm và coi trọng. Trên thực tế trong suốt những năm qua, đặc biệt khi nước ta bước vào giai đoạn đổi mới (cơ chế thị trường), Việt Nam đã không ngừng hoàn thiện hệ thống báo cáo tài chính và chuẩn mực kế toán. Đứng trước tình hình chung, chúng em tham gia đề tài nghiên cứu khoa học với nội dung: "Tiền lương - Sự ảnh hưởng đến báo cáo tài chính, từ đó hướng tới việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống báo cáo tài chính". Mục tiêu đề tài: nhằm hiểu rõ hơn quá trình lập báo cáo tài chính trong các doanh nghiệp tại Việt Nam. Trên cơ sở đó hoàn thiện hệ thống báo cáo tài chính. Nội dung I. Báo cáo tài chính 1. Khái quát chung a. Khái niệm và ý nghĩa của báo cáo tài chính * Khái niệm: Báo cáo tài chính là những báo cáo tổng hợp nhất về tình hình tài sản, vốn chủ sở hữu và công nợ cũng như tình hình tài chính, kết quả kinh doanh trong kỳ của doanh nghiệp. Nói cách khác, báo cáo tài chính là phương tiện trình bày khả năng sinh lời và thực trạng tài chính của doanh nghiệp cho những người quan tâm (chủ doanh nghiệp, nhà đầu tư, nhà cho vay, cơ quan thuế và các cơ quan chức năng…) * ý nghĩa: Báo cáo tài chính có ý nghĩa quan trọng đối với công tác quản lý doanh nghiệp cũng như đối với các cơ quan trọng đối với công tác quản lý doanh nghiệp cũng như đối với các cơ quan chủ quản và các đối tượng quan tâm. Điều đó được thể hiện ở những vấn đề sau đây: - Báo cáo tài chính là những báo cáo được trình bày hết sức tổng quát, phản ánh một cách tổng hợp nhất về tình hình tài sản, các khoản nợ, nguồn hình thành tài sản, tình hình tài chính cũng như kết quả kinh doanh trong kỳ của doanh nghiệp. - Báo cáo tài chính cung cấp những thông tin kinh tế, tài chính chủ yếu để đánh giá tình hình và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, thực trạng tài chính của doanh nghiệp trong kỳ hoạt động đã qua, giúp cho việc kiểm tra, giám sát tình hình sử dụng vốn và khả năng huy động nguồn vốn vào sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. - Báo cáo tài chính cung cấp các chỉ tiêu, các số liệu đáng tin cậy để tính ra các chỉ tiêu kinh tế khác nhằm đánh giá hiệu quả sử dụng vốn, hiệu quả của các quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. - Báo cáo tài chính là căn cứ quan trọng trong việc phân tích, nghiên cứu, phát hiện những khả năng tiềm tàng và là căn cứ quan trọng đề ra các quyết định về quản lý, điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc đầu tư vào doanh nghiệp cảu chủ sở hữu, các nhà đầu tư, các chủ nợ hiện tại và tương lai của doanh nghiệp. - Báo cáo tài chính còn là căn cứ quan trọng để xây dựng các kế hoạch kinh tế kỹ thuật, tài chính của doanh nghiệp, là những căn cứ khoa học để đề ra hệ thống các biện pháp xác thực nhằm tăng cường quản trị doanh nghiệp, không ngừng nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp. b. Nội dung của hệ thống báo cáo tài chính Báo cáo tài chính quy định cho các doanh nghiệp bao gồm 4 biểu mẫu báo cáo: - Bảng cân đối kế toán - Kết quả hoạt động kinh doanh - Lưu chuyển tiền tệ - Thuyết minh báo cáo tài chính Ngoài ra, tuỳ theo yêu cầu quản lý kinh tế, tài chính; yêu cầu chỉ đạo của ngành, tổng công ty, các tập đoàn sản xuất, các doanh nghiệp liên doanh… có thể quy định thêm các báo cáo tài chính chi tiết khác. 2. Nội dung báo cáo tài chính a. Bảng cân đối kế toán - Bản chất và mục đích: Bảng cân đối kế toán là báo cáo tài chính tổng hợp phản ánh toàn bộ giá trị tài sản hiện có và các nguồn hình thành tài sản đó của doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định. Căn cứ vào bảng cân đối kế toán có thể nhận xét, đánh giá khái quát tình hình tài chính của doanh nghiệp. - Kết cấu của bảng cân đối kế toán: Bảng cân đối kế toán bao gồm hai phần: phần tài sản và phần nguồn vốn + Phần tài sản: * Tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn * Tài sản cố định và đầu tư dài hạn + Phần nguồn vốn: * Nợ phải trả * Nguồn vốn chủ sở hữu - Căn cứ lập: + Căn cứ vào sổ kế toán tổng hợp và chi tiết: số dư của các tài khoản loại 1, loại 2, loại 3, loại 4. + Căn cứ vào bảng cân đối kế toán kỳ trước + Số dư của các tài khoản ngoài bảng cân đối kế toán (loại 0) b. Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh - Bản chất ý nghĩa: Báo cáo "Kết quả hoạt động kinh doanh" là một váo cáo kế toán tài chính phản ánh tổng hợp doanh thu, chi phí và kết quả của các hoạt động kinh doanh trong doanh nghiệp. Ngoài ra, báo cáo này còn phản ánh tình hình thực hiện nghĩa vụ của doanh nghiệp đối với Nhà nước cũng như tình hình thuế GTGT được khấu trừ, được hoàn lại, được giảm và thuế GTGT hàng bán nội địa trong một kỳ kế toán. - Kết cấu: gồm 3 phần + Phần I "lãi, lỗ": phản ánh kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp sau mỗi kỳ hoạt động. Các chỉ tiêu thuộc phần này đều được theo dõi chi tiết theo số quý trước, quý này và luỹ kế từ đầu năm. + Phần II "Tình hình thực hiện nghĩa vụ với Nhà nước": phản ánh trách nhiệm, nghĩa vụ của doanh nghiệp đối với Nhà nước gồm các chỉ tiêu liên quan đến các loại thuế, các khoản phí và các khoản phải nộp khác. + Phần III "Thuế GTGT được khấu trừ, thuế GTGT được hoàn lại, thuế GTGT được giảm, thuế GTGT hàng bán nội địa". - Căn cứ lập: + Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh kỳ trước + Sổ kế toán kỳ này các tài khoản từ loại 5 đến loại 9 + Sổ kế toán các tài khoản 133 "Thuế GTGT được khấu trừ" và tài khoản 333 "Thuế và các khoản phải nộp Nhà nước" + Sổ kế toán chi tiết thuế GTGT được hoàn lại, thuế GTGT được giảm c. Báo cáo lưu chuyển tiền tệ: - Bản chất và ý nghĩa Báo cáo lưu chuyển tiền tệ là báo cáo tài chính tổng hợp phản ánh việc hình thành và sử dụng lượng tiền phát sinh trong kỳ báo cao của doanh nghiệp; đồng thời là căn cứ để đánh giá khả năng tạo ra tiền, sự biến động tài sản thuần của doanh nghiệp, khả năng thanh toán của doanh nghiệp và dự đoán được luồng tiền trong kỳ tới. - Kết cấu: gồm 3 phần + Lưu chuyển từ hoạt động kinh doanh + Lưu chuyển từ hoạt động đầu tư + Lưu chuyển từ hoạt động tài chính - Căn cứ để lập + Căn cứ vào báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh + Căn cứ vào bảng cân đối kế toán + Căn cứ vào các tài liệu khác có liên quan d. Thuyết minh báo cáo tài chính - Bản chất và ý nghĩa: Thuyết minh báo cáo tài chính là một bộ phận hợp thành hệ thống báo cáo tài chính của doanh nghiệp; được lập để giải thích và bổ sung thông tin về tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh, tình hình tài chính của doanh nghiệp trong kỳ báo cáo mà các báo cáo tài chính khác không thể trình bày rõ ràng, chi tiết. - Nội dung: + Khái quát đặc điểm hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, chế độ kế toán áp dụng tại doanh nghiệp. + Tình hình và lý do biến động của một số đối tượng tài sản và nguồn vốn quan trọng. + Phân tích một số chỉ tiêu tài chính chủ yếu và kiến nghị của doanh nghiệp - Căn cứ lập: + Các sổ kế toán kỳ báo cáo + Bảng cân đối kế toán kỳ báo cáo + Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh kỳ báo cáo + Thuyết minh báo cáo kỳ trước Như vậy, qua nội dung khái quát về báo cáo tài chính nêu trên, ta có thể thấy việc xây dựng hệ thống báo cáo tài chính rất phực tạp đòi hỏi người thực hiện phải có trình độ nghiệp vụ nhất định để có thể thu thập và xử lý thông tin một cách hợp lý nhất. Việc phân tích báo cáo tài chính đóng vai trò quan trọng để từ đó cung cấp thông tin cần thiết cho các nhà quản lý, các nhà điều hành và những người quan tâm. Với nội dung vô cùng phong phú, bao trùm nhiều khía cạnh, yếu tố, trong bài viết này chỉ đề cập đến chi phí tiền lương - một trong những yếu tố cấu thành chi phí trong các doanh nghiệp, tạo ra những ảnh hưởng nhất định đến hệ thống báo cáo tài chính. II. Tiền lương - sự ảnh hưởng đến báo cáo tài chính Để có thể phân tích sự ảnh hưởng và vai trò của tiền lương trong các báo cáo tài chính như thế nào trước hết ta đi tìm hiểu tiền lương là gì và nó bao gồm những bộ phận nào. 1. Tiền lương - Khái niệm: tiền lương là biểu hiện bằng tiền của hao phí lao động sống cần thiết mà doanh nghiệp trả cho người lao động theo thời gian, khối lượng công việc và chất lượng lao động mà người lao động đã cống hiến cho doanh nghiệp. - Tính chất của tiền lương: Tiền lương là nguồn thu nhập chủ yếu của người lao động. ở đây, khi nhắc đến tiền lương không đơn thuần chỉ là khoản thù lao cho công sức mà người lao động bỏ ra để hoàn thành công việc, trách nhiệm của mình mà nó còn bao gồm những khoản tiền lương, tiền phép, phụ cấp và các khoản trích theo lương. Các doanh nghiệp có thể sử dụng tiền lương làm đònbẩy kinh tế để khuyến khích tinh thần tích cực lao động, là nhân tố thúc đẩy tăng năng suất lao động. Đối với các doanh nghiệp, tiền lương phải trả cho người lao động là một yếu tố cấu thành nên giá trị sản phẩm, dịch vụ do doanh nghiệp sáng tạo ra. Do vậy các doanh nghiệp phải sử dụng sức lao động có hiệu quả để tiết kiệm chi phí tiền lương, đồng thời phải quản lý lao động - tiền lương trong doanh nghiệp, bởi lẽ đều này sẽ giúp cho doanh nghiệp hoàn thành và hoàn thành vượt mức kế hoạch sản xuất kinh doanh của mình. Xét về mặt xã hội, tiền lương còn thể hiện sự công bằng xã hội trong phân phối thu nhập, thể hiện chất lượng cuộc sống của người lao động đồng thời trở thành một trong những tiêu chí để đánh giá sự phát triển của một nền kinh tế, sự văn minh của một nền văn hoá. Đối với các doanh nghiệp cần phải thực hiện trả lương cho công nhân viên phù hợp với tình hình tài chính của doanh nghiệp đồng thời phải đảm bảo không vi phạm quy định của pháp luật. Như vậy, các nhà hoạch định chính sách xây dựng hệ thống pháp luật hỗ trợ các doanh nghiệp thực hiện công việc kinh doanh đạt hiệu quả tốt nhất. Trước vai trò đó việc đặt ra cho các doanh nghiệp và các nhà quản lý vĩ mô là làm thế nào để cân bằng giữa hiệu quả kinh tế và lợi ích xã hội. Đây là vấn đề khá phức tạp và bức xúc trong xã hội hiện nay. Bộ lao động thương binh và xã hội đã đưa ra hệ thống những văn bản chỉ đạo, hướng dẫn thực hiện chế độ tiền lương đối với các đối tượng trong xã hội và đang cố gắng hoàn thiện, cải cách cho phù hợp với nhu cầu của người lao động, các doanh nghiệp và nhu cầu của xã hội. Một ví dụ cho sự nỗ lực cố gắng của các nhà quản lý vĩ mô trong vấn đề cải cách tiền lương đó là tăng mức lương tối thiểu, trợ cấp xã hội và đổi mới một bước cơ chế quản lý tiền lương. Vấn đề này được nêu rõ trong nghiệ định số 03/2003/NĐ-CP ngày 15 - 1 - 2003 của chính phủ; Thông tư số 07/2003/ TT-BLĐTBXH ngày 12/3/2003 của Bộ lao động thương binh xã hội hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 01/2003/NĐ-CP ngày 09/1/2003 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của điều lệ bảo hiểm xã hội ban hành kèm theo Nghị định số 12/CP ngày 26/1/1995 của Chính phủ (hệ thống các văn bản về chế độ tiền lương-NXB Thống kê 2003). Tuy nhiên, mặc dù đã có nhiều điều chỉnh sửa đổi nhưng dường như kết quả vẫn chưa thực sự đáp ứng yêu cầu của xã hội và các doanh nghiệp. Nên chăng cần có những hướng dẫn cụ thể hơn trong việc thực hiện những quy chế mớ và cần thiết lập một hệ thống quy chế thống nhất, khoa học hơn cho các doanh nghiệp có thể thực hiện và điều chỉnh tiền lương sao cho phù hợp với tình hình thực tế. Do điều kiện không cho phép, bài viết sẽ không đi sâu vào vấn đề mang tính xã hội này mà chỉ đề cập đến vai trò của tiền lương đối với kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Hạch toán tổng hợp về tiền lương và tình hình thanh toán với người lao động Tài khoản sử dụng: TK 334 - Phải trả công nhân viên 1. Các khoản tiền lương, tiền thưởng, BHXH và các khoản khác đã trả, đã ứng trước cho người lao động. 2. Các khoản khấu trừ vào thu nhập của người lao động. Các khoản tiền lương, tiền thưởng, các khoản thực tế phải trả cho người lao động SD: Các khoản tiền lương, tiền thưởng còn phải trả người lao động Sơ đồ hạch toán tổng hợp thanh toán với người lao động. Với cách ghi chép vào tài khoản như trên thì tiền lương và các khoản phải trả cho CNV trong kỳ nào được tính vào chi phí của kỳ đó. Theo nguyên tắc phù hợp giữa chi phí sản xuất và kết quả sản xuất thì cách làm này chỉ thích ứng với những doanh nghiệp có thể bố trí cho người lao động trực tiếp nghỉ phép tương đối đều đặn giữa các kỳ hạch toán hoặc không có tính thời vụ. Trường hợp những doanh nghiệp sản xuất không có điều kiện để bố trí cho lao động trực tiếp nghỉ phép đều đặn giữa các kỳ hạch toán hoặc có tính chất thời vụ thì kế toán phải dự toán tiền lương nghỉ phép hoặc ngừng sản xuất theo kế hoạch của họ để tiến hành trích trước tính vào chi phí của các kỳ hạch toán theo số dự toán. Mục đích của việc làm này là không giá thành sản phẩm thay đổi đột ngột khi số lượng lao động trực tiếp nghỉ phép nhiều ở một kỳ hạch toán nào đó hoặc bù đắp tiền lương cho họ trong thời gian ngừng sản xuất có kế hoạch. Cách tính khoản tiền lương nghỉ phép năm của người lao động trực tiếp để trích trước vào chi phí sản xuất như sau: =x Tỷ lệ trích trước = Mức lương trả cho người lao động phụ thuộc vào khả năng tài chính của doanh nghiệp. Tuy nhiên, bao giờ cũng không được dưới mức lương tối thiểu do Nhà nước quy định. Hiện nay, mức lương tối thiểu là 290.000đ/ tháng. Trên đây là một số nét cơ bản trong hạch toán tiền lương, với cách hạch toán như vậy tiền lương có những ảnh hưởng như thế nào đối với doanh nghiệp, mà cụ thể vị trí và vai trò của nó như thế nào trong báo cáo tài chính? 2. Vị trí, vai trò và sự ảnh hưởng của tiền lương đối với báo cáo tài chính Tiền lương là một khoản chi phí khả biến được thực hiện và kết thúc ngay trong kỳ kế toán. Nó bao gồm: - Chi phí nhân công trực tiếp - Chi phí sản xuất chung (tiền lương NVPX và các khoản trích theo lương) - Chi phí BH và QLDN (tiền lương NVBH - NVQLDN và các khoản trích theo lương) Chi phí tiền lương được tập hợp và đưa vào thành những khoản mục trong báo cáo tài chính. a. Đối với báo cáo kế toán Qua mẫu biểu dưới đây ta có thể thấy CF tiền lương nằm ở bên nguồn vốn (Nợ ngắn hạn-phải trả công nhân viên) Như vậy khi khoản phải trả công nhân viên thay đổi sẽ dẫn đến nguồn vốn thay đổi và làm cho phương trình cân bảng chuyển sang một trạng thái khác. Điều đó có nghĩa là CF tiền lương ảnh hưởng đến cơ cấu tài sản - nguồn vốn của doanh nghiệp. b. Đối với báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh Dựa vào mẫu kết quả hoạt động kinh doanh ta phân tích vị trí, vai trò của chi phí tiền lương - Về vị trí: chi phí tiền lương nằm trong các bộ phận sau + Giá vốn hàng bán (chi phí nhân công trực tiếp) + Chi phí bán hàng + Chi phí QLDN - Vai trò: + Trong giá vốn hàng bán: chi phí nhân công trực tiếp (622) cấu thành chi phí sản xuất, kết chuyển vào TK 154-CF sản xuất dở dang, tính vào giá thành sản phẩm Như vậy, khi CF NCTT tăng sẽ dẫn đến giá thành tăng (với điều kiện các khoản mục khác không đổi) từ đó làm giảm lãi gộp, góp phần làm giảm lợi nhuận thuần của doanh nghiệp. Khi CFNCTT giảm thì ngược lại, làm lợi nhuận thuần giảm. + Trong chi phí bán hàng và quản lý doanh nghiệp chính là tiền lương, thưởng và các khoản trích theo lương của NVBH-QLDN. Nó cũng có tác dụng làm thay đổi cơ cầu chi phí, dẫn đến làm giảm lợi nhuận trước thuế. Doanh nghiệp có thể dùng chi phí tiền lương để thực hiện chiến lược tiêu thụ cho doanh nghiệp mình. Cụ thể: Khi tăng tiền lương cho NVBH nhìn theo góc độ chi phí thì làm tăng chi phí của doanh nghiệp và tác động đến lợi nhuận trước thuế của doanh nghiệp (làm giảm) Tuy nhiên có chư hoàn toàn là kết quả của việc tăng CF tiền lương. Việc tăng tiền lương có tác dụng khuyến khích nhân viên làm việc tích cực làm tăng năng suất lao động mang lại kết quả là tăng doanh thu tiêu thụ, với tốc độ tăng doanh thu cao hơn tăng chi phí doanh nghiệp thu được lợi nhuận trước thuế cao hơn, quá trình tiêu thụ đạt hiệu quả cao hơn. Khi tăng tiền lương cho NVQLDN theo góc độ chi phí cũng làm tăng chi phí QLDN. Tuy nhiên, việc tăng lương làm cho NVQL có trách nhiệm với công việc mình làm hơn, có tinh thần sáng tạo trong công tác quản lý đem lại hiệu quả cao trong công việc có thể tiết kiệm những nguồn lực khác, gián tiếp làm giảm những khoản chi phí khác (ví dụ như tiết kiệm văn phòng phẩm, quản lý giờ làm việc tốt dẫn đến giảm hao phí thời gian dư thừa làm tăng hiệu quả công việc…) Nếu tăng một cách hợp lý sẽ khiến cho tổng hợp các khoản chi phí khác giảm nhiều hơn so với việc tăng chi phí QLDN. Như vậy tổng chi phí sẽ giảm, lợi nhuận trước thuế sẽ tăng. Để thực hiện được những mục tiêu trên việc đáng quan tâm ở đây là các nhà quản lý phải tăng mức lương như thế nào cho phù hợp và cần phải đánh giá tình hình thực tế cũng như dự đoán tương lai một cách cụ thể. Để có thể hiểu rõ hơn về tác động của chi phí - tiền lương đối với báo cáo kết quả kinh doanh của doanh nghiệp, ta sẽ xem xét ví dụ cụ thể. Tuy nhiên để thấy rõ hơn tác động của chi phí - tiền lương, ta sẽ sử dụng mẫu báo cáo kết quả kinh doanh sử dụng nội bộ: 1. Doanh thu tiêu thụ sản phẩm Trừ chi phí khả biến - Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp - Chi phí nhân công trực tiếp - Biến phí sản xuất chung - Biến phí bán hàng - Biến phí quản lý doanh nghiệp 2. Số dư đảm phí Trừ tổng chi phí cố định - Định phí sản xuất - Định phí bán hàng - Định phí quản lý doanh nghiệp 3. Thu nhập thuần Xét ví dụ: VD1: Doanh nghiệp K có tình hình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm như sau: - Chi phí khả biến 1 đơn vị sản phẩm là: 150.000đ - Giá bán đơn vị sản phẩm là: 250.000đ - Tổng chi phí bất biến: 35.000.000đ/tháng Giả sử doanh nghiệp K tiêu thụ được 400 sản phẩm/tháng. a) Tính mức thu nhập thuần của doanh nghiệp b) Giả sử doanh nghiệp quyết định cắt giảm tiền lương của công nhân trực tiếp sản xuất, khi đó chi phí khả biến giảm 25.000đ/sản phẩm. Tuy nhiên, do công nhân bị giảm lương nên họ mất động lực làm việc, do vậy sản phẩm làm ra có sự giảm đi về chất lượng. Vì thế, doanh số tiêu thụ của công ty chỉ còn là 350 sản phẩm/tháng. Qua phân tích chi phí cho biết công ty có nên thực hiện quyết định cắt giảm lương công nhân trực tiếp hay không? Bài làm Câu 1: Đơn vị: 1000đ Chỉ tiêu 1 sản phẩm 400 sản phẩm 1. Doanh thu tiêu thụ Trừ chi phí khả biến 250 150 100.000 60.000 2. Số dư đảm phí Trừ chi phí cố định 100 40.000 35.000 3. Thu nhập thuần 5.000 Vậy thu nhập thuần của công ty là 5.000.000đ. Câu 2: Đơn vị: 1000đ Chỉ tiêu Hiện tại 400sp Dự kiến 350sp Chênh lệch 1sp 400sp 1sp 400sp 1. Doanh thu tiêu thụ Trừ chi phí khả biến 250 150 100.000 60.000 250 125 87.500 43.750 -12.500 -16.250 2. Số dư đảm phí Trừ chi phí cố định 100 40.000 35.000 125 43.750 35.000 +3.750 0 3. Thu nhập thuần 5.000 8.700 +3.750 Nhận xét: Việc cắt giảm chi phí nhân công trực tiếp đã làm cho chi phí khả biến một đơn vị sản phẩm của doanh nghiệp giảm theo. Tuy việc này làm cho tổng lượng sản phẩm tiêu thụ của doanh nghiệp trên thị trường giảm từ 400 sản phẩm xuống chỉ còn 350 sản phẩm nhưng kết quả cuối cùng thu nhập thuận của doanh nghiệp vẫn tăng lên 3.750.000đ. Điều này ch thấy chính sách giảm chi phí - tiền lương của doanh nghiệp trong một chừng mực nào đó (khi khối lượng sản phẩm tiêu thụ giảm với tốc độ thấp hơn so với tốc độ giảm của tiền lương) là đem lại hiệu quả cho doanh nghiệp, làm tăng mức lãi của doanh nghiệp. Vì vậy, trong trường hợp này doanh nghiệp K nên lựa chọn phương pháp cắt giảm chi phí tiền lương. VD2: Vẫn sử dụng ví dụ minh hoạ trên nhưng ta sẽ đưa thêm tình huống sau: Giả sử công ty K bán 400 sản phẩm/tháng. Công ty dự định thay thế việc trả lương cho bộ phận bán hàng hiện nay là 6.000.000đ/tháng bằng hoa hồng bán hàng 15.000đ/sản phẩm. Dự tính việc thay đổi này làm tăng doanh số 15% hàng tháng. Qua phân tích chi phí cho biết công ty có nên thay đổi hình thức trả lương cho bộ phận bán hàng không? Bài làm Ta lập bảng sau: Chỉ tiêu Hiện tại 400 sản phẩm Dự kiến 460 sản phẩm Chênh lệch 1sp 400sp 1sp 460sp 1. Doanh thu tiêu thụ Trừ chi phí khả biến 250 150 100.000 60.000 250 165 115.000 75.900 +15.000 15.900 2. Số dư đảm phí Trừ chi phí cố định 100 40.000 35.000 85 39.100 29.000 -900 -6.000 3. Thu nhập thuần 5.000 10.100 +5.100 Nhận xét: Nhìn vào số liệu ở bảng phân tích trên ta có thể nhận thấy rằng: Việc thay đổi hình thức trả lương cho bộ phận bán hàng (từ chỗ hạch toán vào chi phí cố định sang việc đưa vào bộ phận chi phí khả biến) của công ty K đã đem lại kết quả mong muốn: lợi nhuận từ 5.000.000 lên đến 10.100.000 (tăng 5.100.000). Như vậy ngay cả cách sử dụng hình thức trả lương như thế nào cũng có ảnh hưởng không nhỏ tới kết quả thu nhập của doanh nghiệp: Việc thay đổi của công ty K không những làm thay đổi kết cấu của bộ phận khả biến và cố định trong tổng chi phí mà còn làm thay đổi cả lợi nhuận của công ty (làm tăng lợi nhuận) và tất nhiên là sẽ dẫn đến những thay đổi trên số liệu của bản báo cáo kết quả kinh doanh của doanh nghiệp. Qua phân tích hai ví dụ trên, chúng ta có thể thấy rằng: Chi phí - tiền lương có ảnh hưởng rất lớn đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp, điều này thể hiện rất rõ trên bảng Báo cáo kết quả kinh doanh. Chỉ một thay đổi nhỏ trong tổng số tiền lương phải trả công nhân viên hay trong cơ cấu tổng chi phí (bất biến và khả biến) của doanh nghiệp đều sẽ kéo theo những thay đổi (nhiều khi là rất lớn) của bản báo cáo kết quả kinh doanh, từng khoản mục và kết quả cuối cùng của báo cáo kết quả kinh doanh của doanh nghiệp sẽ thay đổi với những biến động của chi phí - tiền lương như chúng ta đã biết. Qua sự tác động đến hai báo cáo trên ta có thể thấy: Tiền lương là công cụ điều chỉnh chi phí ở một mức độ nhất định, giúp doanh nghiệp có thể đạt được mục tiêu, chiến lược đề ra; đồng thời tiền lương chính là động lực của hoạt động sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên nó không thể là một công cụ chi phí linh hoạt vì các doanh nghiệp muốn tăng giảm lương phải tăng theo những quy định pháp luật và khối lượng luôn nằm trong một giới hạn nhất định. c) Đối với báo cáo lưu chuyển tiền tệ - Vị trí: nằm trong phần luồng tiền ra (xuất quỹ) trả cho công nhân viên: Như vậy làm giảm lượng tiền mặt tại quỹ và thể hiện một phần việc sử dụng lượng tiền phát sinh. - Vai trò: Tiền lương - phải trả công nhân viên có thể coi như một khoản chi ít biến đổi, sự thay đổi có thể dễ dàng dự đoán và ít ảnh hưởng đến dòng lưu chuyển tiền tệ. Từ đó các nhà quản trị có thể loại bỏ được những tác động của tiền lương dễ dàng trong việc phân tích, nhận định đánh giá khả năng tạo tiền cho kì kế tiếp. 3. Kết luận Qua việc phân tích ảnh hưởng của tiền lương đến các báo cáo tài chính ta thấy rằng tiền lương là một bộ phận của chi phí do đó tất yếu sẽ làm ảnh hưởng đến kết quả hoạt động, kinh doanh, làm thay đổi kết quả trong các báo cáo tài chính. Tuy nhiên, do bị giới hạn trong khuôn khổ pháp lý chặt chẽ để bảo vệ quyền lợi cho người lao động mà các nhà quản trị khó có thể sử dụng công cụ tiền lương nhằm thay đổi cơ cấu chi phí - lợi nhuận. Do đó các nhà quản trị quan tâm đến lĩnh vực tiền lương nhằm mục đích thu hút lao động, nhân tài, nguồn nhân lực cho doanh nghiệp mình. Trong điều kiện hiện nay con người là nhân tố quan trọng nhất trong nguồn lực đầu vào. Các nhà quản trị quan tâm nhiều đến công tác nhân sự nhằm cải thiện tình hình hoạt động của doanh nghiệp mình và tiền lương là một trong những biện pháp thực tế và hiệu quả trong giai đoạn hiện nay ở Việt Nam. Kết luận Trong mọi giai đoạn, thời kỳ, trong mọi phương thức sản xuất thì lao động của con người luôn đóng vai trò vị trí then chốt. Dù nền sản xuất có lạc hậu hay tiên tiến, hiện đại thì vai trò của lao động con người không thể bị phủ nhận. Máy móc dù có ngày càng được hoàn thiện thì cũng không bao giờ có thể thay thế hoàn toàn được lao động của con người. Chính vì vậy, chi phí tiền lương sẽ luôn là một khoản mục chi phí trong tổng chi phí trong tổng chi phí của tất cả các doanh nghiệp, nếu có chỉ là sự thay đổi cơ cấu các khoản phải trả công nhân viên mà thôi. Chính vì vậy, ảnh hưởng của bộ phận chi phí tiền lương tới hệ thống các báo cáo tài chính là không thể tránh khỏi, tuy nhiên mức độ và chiều hướng của sự ảnh hưởng này còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác như: quy mô doanh nghiệp, cách thức và phương pháp doanh nghiệp sử dụng khoản chi phí này (như đã phân tích trong bài viết trên). Do vậy để có thể phân tích tốt các báo cáo tài chính của các doanh nghiệp, từ đó có các thông tin, nhận xét chính xác về tình hình tài chính và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp thì cần phải hiểu rõ sự tác động, ảnh hưởng của bộ phận chi phí - tiền lương tới hệ thống báo cáo tài chính này. Từ đó có sự định hướng cho việc hoàn thiện hệ thống báo cáo tài chính ngày một tốt hơn, phù hợp với yêu cầu mới của quản lý nói riêng và nền kinh tế nói chung. Bài viết trên chỉ là

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docBC421.doc
Tài liệu liên quan