Đề tài Tiêu thụ sản phẩm ở Tổng công ty Rau quả, nông sản

MỤC LỤC

LỜI NÓI ĐẦU 1

PHẦN I: Thực trạng tiêu thụ sản phẩm ở tổng công ty Rau quả, nông sản .3

I.Tổng quan về tổng công ty Rau quả, nông sản 3

1. Quá trình hình thành và phát triển của tổng công ty Rau quả, nông sản 3

2.Chức năng, nhiệm vụ của tổng công ty. 3

2.1. Chức năng của tổng công ty . .3

2.2. Nhiệm vụ của công ty 3

3. Những đặc điểm kinh tế kỹ thuật có ảnh hưởng đến tiêu thụ sản phẩm ở công ty nhựa Tiền Phong .4

3.1. Đặc điểm sản phẩm .4

3.2. Đặc điểm quy trình công nghệ .4

3.3. Đặc điểm lao động và tiền lương. 4

3.4 Mô hình cơ cấu tổ chức quản lý của tổng công ty .4

II.Thực trạng tiêu thụ sản phẩm ở tổng công ty Rau quả, nông sản 5

1. Kết quả sản xuất kinh doanh ở tổng công ty Rau quả, nông sản. 5

1.1. Sản lượng sản xuất chủ yếu 5

2. Đánh giá tình hình tiêu thụ sản phẩm ở tổng công ty Rau quả, nông sản. .6

2.1. Những thành tích đạt được . .6

2.2. Những tồn tại cần khắc phục .7

3. Phân tích tình hình tiêu thụ sản phẩm ở tổng công ty Rau quả, nông sản. .10

Phần hai: Một số biện pháp nhằm củng cố đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm ở tổng công ty. . .11

1. Những phương hướng phát triển sản xuất kinh doanh của tổng công ty trong thời gian tới. . .11

1.1. Đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm ở tổng công ty Rau quả, nông sản . 11

1.2. Đưa ra thị trường những sản phẩm có chất lượng . 12

1.3. Mở rộng thị trường . .12

1.4. Đa dạng hoá sản phẩm . .12

1.5. Hạ giá thành để chiếm lĩnh thị trường . 13

1.6. Sắp xếp tổ chức sản xuất, bố chí lao động cho hợp lý hiệu quả .13

2. Một số giải pháp .14

2.1. Công tác ngiên cứu thị trường .15

2.2. Giải pháp về thị trường .16

2.2.1 Thị trường truyền thống .17

2.2.2. Thị trường tiềm năng .17

2.3. Khuyến khích bán hàng . .18

2.4. Quảng cáo . .18

2.5. Cải tiến sản phẩm, không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm . .19

2.6. Hạ giá thành sản phẩm để hạ giá bán tăng khả năng tiêu thụ sản phẩm.22

2.7. Tổ chức tiêu thụ- Hoạch định chiến lược tiêu thụ .24

3. Một số kiến nghị đối với Nhà nước .26

Kết luận .28

 

 

 

doc28 trang | Chia sẻ: maiphuongdc | Ngày: 06/09/2013 | Lượt xem: 1038 | Lượt tải: 2download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đề tài Tiêu thụ sản phẩm ở Tổng công ty Rau quả, nông sản, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
nhằm củng cố và đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm ở tổng công ty Rau quả, nông sản. 1. Những phương hướng phát triển sản xuất kinh doanh của tổng công ty trong thời gian tới. Tồn tại và phát triển là mục tiêu phấn đấu không ngừng của tổng công ty đặc biệt trong giai đoạn khó khăn hiện nay. Nếu như luôn bằng lòng với hiện tại mà không chịu phấn đấu thì đến một lúc nào đó sự lớn mạnh của các đối thủ cạnh tranh sẽ lấn chiếm khu vực thị trường mà tổng công ty đang chiếm giữ. Nhiệm vụ đặt ra cho tổng công ty hết sức nặng nề có tính quyết định đến sự tồn tại và phát triển của tổng công ty. Để thực hiện dược điều đó tổng công ty đã vạch ra: 1.1 Đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm ở tổng công ty Rau quả, nông sản. Đối với nông nghiệp và công nghiệp. Đẩy mạnh tốc độ phát triển vùng nguyên liệu, từng bước khắc phục những mất cân đối khác (như vốn, trình độ quản lý...) để nhanh chóng đạt được công suất tối đa của các dây chuyền công nghiệp. Đẩy mạnh đầu tư mới theo nguyên tắc đảm bảo cân đối đồng bộ các điều kiện tối thiểu (về nguyên liệu, vốn, cán bộ...). Trên cơ sở các định hướng lâu dài để tiến hành đầu tư từng bước phù hợp, đảm bảo đầu tư đến đâu phát huy hiệu quả đến đấy, đầu tư bước trước phải làm nền và tạo đà cho đầu tư bước sau thuận lợi, vững chắc và hiệu quả hơn. Đi tắt đón đầu trước hết trong công tác giống và đầu tư công nghiệp. Đầu tư những thiết bị công nghệ hiện đại nhất đối với những khâu có tính chất quyết định đến chất lượng sản phẩm, đảm bảo sản phẩm sản xuất ra cạnh tranh được trên thị trường thế giới và khu vực. Đa dạng hóa sản phẩm và nông hải sản. Đẩy nhanh quá trình cổ phần hóa, phát huy nguồn lực về vốn và cơ chế quản lý để thúc đẩy đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh. Tích cực tìm kiếm đối tác, điều kiện để thu hút đầu tư nước ngoài và đầu tư ra ngoài nước. Đối với kinh doanh thương mại. Tranh thủ nhu cầu đang tăng lên của thị trường đối với một số mặt hàng dứa, dưa chuột, vải... của tổng công ty để đẩy nhanh việc xuất khẩu. Đồng thời nhanh chóng thống nhất thương hiệu những mặt hàng chủ yéu vào một số thi trường lớn. Tìm mọi biện pháp hạ giá thành sản xuất để tăng sức cạnh tranh với hàng hóa cùng loại trong khu vực và thế giới, tạo thế ổn định thị trường và tăng nhanh kim ngạch xuất khẩu rau quả. Xây dựng chiến lược kinh doanh thương mại để hội nhập với khu vợc và quốc tế. Tăng cường đầu tư cho xúc tiến thương mại, kinh doanh trên mạng. Đẩy mạnh kinh doanh trong nước, coi đây là một lợi thế, trên cơ sở mở rộng mạnh amngj lưới bán buôn, bán lẻ, xây dựng chợ đầu mối, trung tâm thương mại. 1.2. Đưa ra thị trường những sản phẩm có chất lượng. Trong nền kinh tế thị trường, yếu tố chất lượng của sản phẩm hàng hoá ngày càng trở nên quan trọng, nhiều trường hợp là yếu tố có tính quyết định cho thắng lợi hay không thắng lợi trong cuộc đấu tranh chiếm lĩnh thị trường, duy trì và tiếp tục phát triển sản xuất với hiệu quả chấp nhận. Trong quan hệ buôn bán với nước ngoài, vấn đề đảm bảo sản phẩm, hàng hoá có mức chất lượng thích hợp (đúng với yêu cầu của khách hàng được ghi trong hợp đồng hay theo tiêu chuẩn hoặc mẫu hàng tương ứng) là đòi hỏi rất nghiêm ngặt. Để đạt được điều này, liên quan đến nguồn vốn của công ty, muốn có sản phẩm có chất lượng thì phải có dây chuyền công nghệ tốt, con người có ý thức...Trong thời gian tới tổng công ty đã và sẽ cố gắng đầu tư sức người sức của để cố gắng đáp ứng như cầu của thị trường. 1.3. Mở rộng thị trường. Hiện nay, mặc dù đã có các chi nhánh tiêu thụ sản phẩm hầu hết khắp cả nước và trên thế giới nhưng tình hình tiêu thụ sản phẩm ở tổng công ty vẫn chưa cao, đặc biệt là thị trường nội địa. Trong thời gian tới, cùng với việc củng cố, duy trì thị trường hiện có tổng công ty đang nghiên cứu, tìm kiếm các thị trường cho sản phẩm của doanh nghiệp mình. 1.4. Đa dạng hoá các loại sản phẩm. Nhu cầu của khách hàng là luôn vận động, thức tế đó khiến tổng công ty luôn phải tìm ra những chủng loại hàng hoá mới để đáp ứng nhu cầu của họ. Để cho người tiêu dùng cảm thấy hài lòng với sản phẩm mà mình cung ứng sẽ là một thành công lớn, một ưu điểm vượt trội của công ty so với đối thủ. Để làm được điều này, tổng công ty phải làm sao để khách hàng cảm thấy một sự tương xứng giữa giá mà tổng công ty đặt với sản phẩm và dịch vụ mà họ sẽ nhận được. Cơ cấu sản phẩm của tổng công ty hiện nay bao gồm: giống các loại nông sản, chế biến các sản phẩm rau quả nông sản có chất lượng cao để xuất khẩu ra nước ngoài. Theo nhiệm vụ sản xuất của tổng công ty cũng như nhu cầu đòi hỏi của thị trường, tổng công ty đã và sẽ xây dựng cho mình một cơ cấu sản phẩm hợp lý theo hướng đa dạng hoá. 1.5. Hạ giá thành để chiếm lĩnh thị trường. Chất lượng sản phẩm là vấn đề rất quan trọng để thu hút khách hàng. Nhưng một sản phẩm có chất lượng tốt mà giá cả quá cao cũng là điều mà khách hàng không mong muốn. Chính vì vậy, để thích ứng với những đòi hỏi khắt khe của thị trường. Bên cạnh việc nâng cao chất lượng, tổng công ty đang cố gắng tiết kiệm chi phí xuống mức thấp nhất từ đầu vào đến đầu ra của sản phẩm ( giảm chi phí lưu kho của vật tư bằng cách tính toán chính xác thời gian sản xuất, giải quyết nhanh gọn hàng hoá tồn kho, chú ý tiết kiệm, chống lãng phí vật tư trong sản xuất...), nhằm hạ giá thành sản phẩm. 1.6. Sắp xếp tổ chức sản xuất, bố trí lao động cho hợp lý và có hiệu quả. Không một hoạt động nào của một tổ chức mang lại hiệu quả nếu không sử dụng tốt nguồn nhân lực, sử dụng nguồn nhân lực thường là nguyên nhân của thành công hay thất bại trong các hoạt động sản xuất kinh doanh. Vì vậy, mục tiêu cơ bản của bất kỳ tổ chức nào cũng là sử dụng một cách có hiệu quả nguồn nhân lực để đạt được mục đích của tổ chức đó. Hầu hết các doanh nghiệp quốc doanh làm ăn thua lỗ và nhân viên làm việc trong các doanh nghiệp đó thường kém năng động, không ý thức được hết trách nhiệm của mình đối với sự sống còn của doanh nghiệp. Tổng công ty Rau quả, nông sản cũng vậy, bố trí lao động là công việc không đơn giản, việc phân công đúng người đúng việc phù hợp với khả năng của mỗi người sẽ làm tăng hiệu quả trong hoạt động của toàn tổng công ty. Những năm gần đây, tổng công ty có sự thay đổi khá lớn về lao động cũng là nhằm sử dụng một cách có hiệu quả nhất nguồn nhân lực phục vụ sản xuất, bên cạnh đó tổng công ty cũng có kế hoạch đào tạo để nâng cao trình độ cho cán bộ công nhân viên của mình để mỗi người đều có thể thích ứng với những thay đổi liên tục của thị trường. 2. Một số giải pháp. Ngày nay nếu không kể đến vận may trong kinh doanh thì các doanh nghiệp không thể nào giành thắng lợi và có sức sống lâu dài trên thương trường nếu không xây dựng được cho mình một chiến lược kinh doanh cụ thể. Mỗi doanh nghiệp phải bảo đảm có được cho mình một chiến lược mà theo đó sức mạnh tiềm năng của doanh nghiệp thích ứng được với nhu cầu đã được xác định rõ ràng. Có thể quan niệm chiến lược là một chương trình hành động tổng quát và sự triển khai các nguồn lực quan trọng để đạt được mục tiêu toàn diện. Một tổ chức hoạt động không có chiến lược cũng như một con tàu không có bánh lái. Hoạt động tiêu thụ sản phẩm cũng vậy, nếu không có chiến lược cụ thể thì không thể biết những việc gì nên làm và không nên làm. Hầu hết những thất bại trong kinh doanh đều có thể là do thiếu việc triển khai một chiến lược đúng đắn. Để công tác tiêu thụ sản phẩm được củng cố và phát triển công ty nên có những biện pháp cụ thể. Một chiến lược tiêu thụ tốt là một chiến lược phải: - Đảm bảo mục tiêu bao trùm của doanh nghiệp. - Phải có tính khả thi, phải phù hợp với nguồn lực của doanh nghiệp. - Phải đảm bảo giải quyết được mối quan hệ về mặt lợi ích giữa doanh nghiệp, thị trường và lợi ích của xã hội. 2.1. Công tác nghiên cứu thị trường. Bất kỳ một doanh nghiệp nào muốn có một quyết định đúng đắn thì phải dựa trên những thông tin thu thập đúng. Trong công tác tiêu thụ muốn có một chiến lược sản phẩm hợp lý, một mạng lưới tiêu thụ sản phẩm có hiệu quả nhất thì phải nghiên cứu thị trường về nhu cầu sản phẩm. Việc điều tra nghiên cứu thị trường với hai hoạt động chính: Nghiên cứu thị trường (nhằm xác định quy mô cơ cấu, sự vận động của thị trường) và điều tra thị trường (xác định quy mô cơ cấu, sự vận động của thị trường) cho phép doanh nghiệp lựa chọn chính sách sản phẩm, chính sách giá, chính sách phân phối và khuếch trương sản phẩm phù hợp với nhu cầu thị trường. Việc nghiên cứu thị trường có tầm quan trọng đặc biệt trong việc xác định phương hướng phát triển sản xuất kinh doanh đồng thời làm cho quá trình sản xuất kinh doanh có thể thực hiện nhanh chóng, nhịp nhàng. Trên cơ sở nghiên cứu thị trường, tổng công ty còn nâng cao được khả năng thích ứng của sản phẩm mình sản xuất ra với yêu cầu, thị hiếu của người tiêu dùng, nắm bắt đón đầu các nhu cầu và cải tiến sản phẩm cho phù hợp. Vì vậy nghiên cứu nhu cầu thị trường không thể thiếu được trong việc nâng cao hiệu quả của công tác tiêu thụ sản phẩm và phát triển thị trường. Nó có nghĩa là đưa mục tiêu phát triển và mở rộng phát triển, đẩy mạnh tiêu thụ của tổng công ty thành hiện thực. Trong thời gian qua, việc tiêu thụ sản phẩm của tổng công ty được tiến hành thuận lợi. Tuy nhiên, một tồn tại lớn nhất hiện nay trong công tác tiêu thụ sản phẩm là phát triển thị trường, khai thác nhu cầu thị trường chưa thật hợp lý, sản phẩm của tổng công ty chưa khai thác nhu cầu một cách đầy đủ. Vì vậy, trong thời gian tới tổng công ty cần tiến hành nghiên cứu thị trường nhằm: Xác định thị trường, những khu vực mà công ty có khả năng vươn tới. Xác định tình hình cạnh tranh trên thị trường, xác định điểm mạnh, điểm yếu của tổng công ty cũng như của đối thủ cạnh tranh. Nghiên cứu tìm hiểu thăm dò khách hàng về chất lượng sản phẩm, giá cả, đặc điểm của sản phẩm ở mỗi vùng thị trường. Đối với những người trung gian: cách thức ký hợp đồng, thanh toán, vận chuyển, các dịch vụ như thế nào để khách hàng thấy thoải mái chủ động trong tiêu thụ sản phẩm. Để việc nghiên cứu thị trường đạt kết quả tốt, bên cạnh những thông tin thu thập chính xác, còn cần phải có một bộ phận nghiên cứu thị trường một cách chuyên tinh theo đúng chức năng của nó. Tổng công ty nên tăng cường cho bộ phận làm về Marketing: Về nhân sự: Tổng công ty nên lựa chọn những người có năng lực chuyên môn làm tiếp thị, nghiên cứu thị trường, bồi dưỡng và đào tạo cho họ những kỹ năng thu thập, xử lý thông tin và kiến thức Marketing. Tổng công ty nên đưa ra một hình thức tiêu chuẩn hoá đối với cán bộ công nhân viên: - Tổng công ty cần chọn những người có hiểu biết rộng về kiến thức. - Có trình độ tay nghề cao. - Có thâm niên công tác lâu năm. Về trang bị: Tổng công ty cần phải tiến hành lưu trữ thông tin bằng hệ thống máy vi tính, như vậy sẽ cắt giảm được nhiều thời gian trong việc tra cứu và xử lý thông tin, kết quả nghiên cứu thị trường sẽ được đưa ra nhanh chóng, kịp thời và chính xác. Trong thời gian tới tổng công ty nên tăng cường nhân viên để nghiên cứu các khách hàng ở thị trường truyền thống và thị trường tiềm năng. Khi tập trung các chính sách tiêu thụ sản phẩm vào các thị trường trong nước và ngoài nước tổng công ty nên chú ý đến chất lượng và mẫu mã sản phẩm cho phù hợp với từng địa phương và từng nước khác nhau. 2.2. Giải pháp về thị trường. Thị trường rất mềm dẻo, linh hoạt, sôi động khẩn trương và cũng rất lạnh lùng, khắc nghiệt. Nó luôn tạo ra cơ hội cho các nhà kinh doanh, nhưng cũng đầy cạm bẫy, đầy khó khăn. Nó đòi hỏi các nhà kinh doanh phải có các quyết định kịp thời, chuẩn xác và đúng thời cơ. Không sản xuất thì không có sản phẩm hàng hoá, nhưng có cần hay không, cần sản phẩm hàng hoá gì, chất lượng như thế nào lại chính do thị trường, do con người tiêu thụ quyết định! Việc phân chia khách hàng, các vùng địa lý, mức thu nhập… Tổng công ty sẽ tìm cho mình được các khúc thị trường cần tập trung, các mảng thị trường, nó sẽ giúp cho quá trình thực thi chiến lược diễn ra suôi sẻ mà chỉ cần một nguồn lực không quá lớn, tổng công ty cũng có thể thành công, bởi lẽ, nó không cần tới một khối lượng hàng hoá khổng lồ, một hệ thống phân phối và các nhà phân phối dày đặc và cũng không đòi hỏi những chiến lược quảng cáo rầm rộ. Khúc thị trường không chỉ giúp cho các doanh nghiệp nhỏ cạnh tranh thành công với các công ty lớn cứng nhắc bằng việc cực đại hoá từng đơn vị lợi nhuận và doanh thu trên một đơn vị thị trường mà nó cũng có thể sử dụng một cách có ích cho các công ty lớn, khiến chúng trở lên mềm dẻo hơn, khả năng tồn tại trong những điều kiện môi trường biến động khắc nghiệt tốt hơn. 2.2.1. Thị trường truyền thống. Thị trường truyền thống của tổng công ty Mỹ, Nhật, ấn Độ và EU. Đây là thị trường lâu năm của tổng công ty, người tiêu dùng đã trở thành bạn hàng và rất tín nhiệm sản phẩm của công ty, trong thời gian tới, để phát triển thị trường này tổng công ty nên: Tăng cường các công tác nghiên cứu thị trường, quảng cáo khuếch trương, áp dụng các hình thức giảm giá, chiết khấu. Đầu tư xây dựng thêm các chi nhánh bán hàng, tăng cường lợi ích cho các đại lý và cho khách hàng bằng cách tăng chất lượng sản phẩm, tăng các dịch vụ sau bán hàng, xây dựng thêm chi nhánh mới đối với thị trường kém phát triển. Tổng công ty nên phân công người có năng lực, nghiệp vụ để theo dõi mọi biến động trên thị trường này để có hướng giải quyết kịp thời nhằm giữ vững và phát triển không ngừng thị trường này. 2.2.2. Thị trường tiềm năng. Thị trường tiềm năng của tổng công ty bao gồm cả thị trường trong và ngoài nước. Thị trường trong nước như các tỉnh miền núi, qua phân tích cho thấy đây là những thị trường có doanh thu còn thấp nhưng tốc độ tăng doanh thu và tỷ suất lợi nhuận tương đối nhanh. Vì vậy, trong thời gian tới tổng công ty nên tiếp tục áp dụng các chính sách hỗ trợ tiêu thụ để thâm nhập sâu hơn vào các thị trường này. Thị trường ngoài nước trước mắt đó là thị trường Mỹ, Nhật, ấn Độ và các nước EU và một số nước khác. Để phát triển thị trường tiềm năng ở nước ngoài to lớn này trong tương lai tổng công ty nên: tạo điều kiện thuận lợi cho việc giao dịch và không ngừng nghiên cứu nâng cao chất lượng sản phẩm cho phù hợp với nhu cầu và thị hiếu ở các nước này. Bằng cách này tổng công ty không những ổn định mà còn phát triển được thị trường xuất khẩu cho sản phẩm của doanh nghiệp mình. Như vậy, trong tương lai dự kiến tiêu thụ sản phẩm sẽ được đẩy mạnh, trong khi tập trung khai thác các thị trường tiềm năng và thị trường truyền thống tổng công ty phải chú ý đến năng lực sản xuất của doanh nghiệp mình để cân đối một cách hợp lý và hiệu quả. Với tốc độ tiêu thụ sản phẩm dự kiến thì với hệ thống máy móc hiện tại là chưa phù hợp, do đó trong thời gian tới tổng công ty phải đổi mới máy móc công nghệ, áp dụng các nền công nghệ sinh học hiện đại cho phù hợp quá trình sản xuất, nâng cao năng suất cũng như hạ giá thành sản phẩm nhằm đáp ứng tốt hơn như cầu thị trường trong và ngoài nước. 2.3. Khuyến khích bán hàng. Trong nền kinh tế thị trường, sản phẩm hàng hoá muốn tiêu thụ được không những phải có chất lượng tốt, giá cả phải chăng, mẫu mã đẹp mà làm sao phải thông báo những thông tin đó đến người tiêu dùng. Tổng công ty phải tiến hành các biện pháp như: quảng cáo, yểm trợ xúc tiến bán hàng để giúp tổng công ty đưa sản phẩm tới tay người tiêu dùng được nhanh chóng. Các hoạt động này tuy không bán được sản phẩm nhưng nhờ vào nó, khách hàng mới biết đến sản phẩm của tổng công ty. Tổng công ty cần tổ chức tốt lực lượng bán hàng trực tiếp có trình độ, có khả năng tiếp thị, giao tiếp tốt để giới thiệu về sản phẩm. Cần có sự khen thưởng kịp thời cho nhân viên thị trường của tổng công ty, nhân viên bán hàng khi có những thành tích để khuyến kích họ hăng hái, năng động tham gia vào công tác phát triển thị trường, đẩy mạnh tiêu thụ. Làm tăng sự thuận tiện cho khách hàng cũng là một biện pháp kích thích tiêu dùng. Điều này phụ thuộc rất lớn vào mỗi nhân viên trong tổng công ty đặc biệt là những nhân viên tiếp xúc trực tiếp với khách hàng, tổng công ty cần trang bị củng cố thêm cho họ những kỹ năng để họ có thể đáp ứng được những yêu cầu sắp tới cũng như trong lâu dài về lĩnh vực mà họ công tác. 2.4. Quảng cáo Quảng cáo nhằm truyền tải những thông tin về sản phẩm của tổng công ty như: hình dáng, mẫu mã, chất lượng, giá cả, các tính năng ưu việt của sản phẩm và những lợi ích mà họ sẽ được hưởng thụ sau khi mua. Thông qua các hoạt động quảng cáo, yểm trợ, tổng công ty kích thích gợi mở nhu cầu về sản phẩm. Có thể người tiêu dùng chưa biết về sản phẩm của công ty, họ đang lưỡng lự so sánh nhưng khi đã nhận được những thông tin kích thích thị hiếu về tiêu dùng sản phẩm, họ sẽ hành động mua hàng. Tổ chức hội nghị khách hàng hàng năm, tổ chức tham gia hội chợ hàng nông nghiệp, hàng Việt Nam chất lượng cao qua đó thu hút được nhiều sự quan tâm của bạn hàng hoặc là công ty có thể học được một số kinh nghiệm nhằm hoàn thiện hơn nữa chất lượng của sản phẩm. Hiện nay, tổng công ty Rau quả, nông sản dành kinh phí cho quảng cáo còn ít, chiếm tỷ lệ nhỏ so với doanh thu cũng như so với các doanh nghiệp khác, các hình thức quảng cáo chưa được phong phú. Để giới thiệu về sản phẩm tạo ra sức hấp dẫn, thu hút người tiêu dùng này càng nhiều hơn, trong thời gian tới, tổng công ty nên chú trọng hơn vào các hoạt động quảng cáo, chào hàng, tổng công ty nên cho đầu tư nghiên cứu để chọn hình thức quảng cáo có hiệu quả nhất, nếu kinh phí đầu tư cho quảng cáo quá cao, thì có thể chọn quảng cáo trên những tờ báo được nhiều người xem nhất, hoặc có thể quảng cáo trên tivi, đây là hình thức quảng cáo tác động lớn nhất đến khách hàng hiện nay. Trong những thông điệp quảng cáo tổng công ty nên cố gắng đưa vào nhưng tác dụng của sản phẩm mà tổng công ty cung cấp cũng như những hiệu quả mà nó mang lại cho người tiêu dùng, cho xã hội, làm sao tạo được dấu ấn về sản phẩm trong tâm trí của khách hàng để khi cần đến sản phẩm rau quả, nông sản là họ nhớ ngay đến sản phẩm của tổng công ty. Trong thời gian tới tổng công ty nên dành nhiều hơn nữa kinh phí dành cho hoạt động quảng cáo, nếu thực hiện tốt tổng công ty sẽ đẩy nhanh được tốc độ tiêu thụ sản phẩm do có nhiều khách hàng biết đến sản phẩm của tổng công ty và phần nào hạn chế được nạn hàng giả trên thị trường. 2.5. Cải tiến sản phẩm, không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm. Tiếp cận thường xuyên với thị trường, với người tiêu thụ; luôn đối chiếu, phân tích, cải tiến, nâng cao chất lượng sản phẩm sao cho thoả mãn ngày càng tốt hơn, nhiều hơn, đa dạng hơn, chặt chẽ hơn mục đích sử dụng đặt ra; đó là con đường sống của hoạt động sản xuất kinh doanh trong cơ chế thị trường. Chất lượng sản phẩm tạo nên khả năng cạnh tranh của sản phẩm, nó ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động tiêu thụ sản phẩm của tổng công ty. Chất lượng sản phẩm tốt đồng nghĩa với khả năng cạnh tranh cao, mức độ tiêu thụ sản phẩm lớn. Để nâng cao chất lượng sản phẩm, ngoài việc đầu tư đổi mới công nghệ còn phải tăng cường công tác quản lý chất lượng. Hiện nay tổng công ty Rau quả, nông sản vẫn đang tiếp tục nâng cao chất lượng sản phẩm. Tuy nhiên, chất lượng sản phẩm của tổng công ty chưa được ổn định, việc quản lý chất lượng còn lỏng lẻo. Bởi vậy, tăng cường quản lý chất lượng sản phẩm là hết sức cần thiết đối với tổng công ty để đảo bảo ổn định và nâng cao chất lượng sản phẩm nhằm tăng khả năng tiêu thụ sản phẩm của tổng công ty. 2.5.1. Thực hiện quản lý chất lượng đồng bộ để nâng cao chất lượng sản phẩm. Nâng cao chất lượng sản phẩm, ngoài biện pháp kỹ thuật, quản lý chất lượng còn có một số biện pháp sau: Đảm bảo đúng chủng loại, chất lượng yêu cầu cho sản xuất để nâng cao chất lượng sản phẩm. Bán hàng là hành vi rất quan trọng, nó quyết định sự sống còn, sự tồn tại và phát triển của một doanh nghiệp. Mua là hành vi đơn giản, nhưng không vì thế mà có thể xem nhẹ hoạt động này. Chất lượng sản phẩm của tổng công ty phụ thuộc rất lớn vào chất lượng nguyên liệu, chỉ cần một sai sót nhỏ cũng dẫn tới những thiệt hại khôn lường. Trong thời gian tới tổng công ty nên cung cấp giống có chất lượng cao, đảm bảo cung cấp nguyên liệu đúng quy cách, chất lượng và thời gian cho các nơi làm việc với giá cả hợp lý. Mục tiêu nâng cao chất lượng ở khâu cung ứng là đáp ứng đúng chủng loại chất lượng, thời gian, địa điểm và đặc điểm kinh tế, kỹ thuật của nguyên liệu đảm bảo cho quá trình sản xuất được diễn ra thường xuyên, liên tục với chi phí tối ưu nhất. Để thực hiện được yêu cầu trong khâu cung ứng, tổng công ty cần chú trọng đến những nội dung chủ yếu sau: Lựa chọn người cung ứng có đủ khả năng đáp ứng những đòi hỏi về chất lượng nguyên liệu . - Thoả thuận về việc đảm bảo chất lượng của nguyên liệu. - Thoả thuận về phương pháp thẩm tra, xác minh. - Xác định các phương pháp giao nhận. - Nâng cao chất lượng trong khâu sản xuất. Trong quá trình sản xuất, cán bộ kỹ thuật phải thường xuyên theo dõi tình hình sản xuất ở các công đoạn, quản lý tốt nguyên vật liệu để tránh lãng phí. Công tác kiểm tra phải được tiến hành thường xuyên trong các công đoạn sản xuất gây ảnh hưởng đến chu trình sản xuất, tránh sự ách tắc trong công đoạn sản xuất gây ảnh hưởng đến chu trình sản xuất, chậm tiến độ sản xuất, không đáp ứng đủ nhu cầu tiêu dùng hàng hoá dẫn đến giảm uy tín của công ty, mất thị trường do bị trống sản phẩm trên thị trường. Trong thời gian tới, tổng công ty cần đánh giá lại dây chuyền công nghệ, từng bước cải tiến và đổi mới công nghệ, áp dụng công nghệ tiên tiến để đảm bảo ổn định các mức chất lượng đã đạt và nâng cao mức chất lượng theo yêu cầu của nền kinh tế thị trường. Chỉ có cải tiến và đổi mới công nghệ thì mới cho phép tạo ra cho sản phẩm những tính năng kỹ thuật hay giá trị sử dụng cao và mới hơn về chất. Để duy trì sản xuất có mức chất lượng sản phẩm chấp nhận không nhất thiết phải có công nghệ hiện đại nhất mà phải tạo lập được công nghệ thích hợp- tức là công nghệ đảm bảo đủ khả năng sản xuất ra sản phẩm được thị trường chấp nhận- công nghệ thích hợp trong điều kiện nền kinh tế thị trường mở cửa, cạnh tranh gay gắt với thế giới bên ngoài- thì quyết không phải là công nghệ lạc hậu. Hiện nay, mẫu mã sản phẩm của tổng công ty còn rất đơn điệu, thiếu hấp dẫn trong con mắt người tiêu dùng. Vẫn biết rằng chất lượng sản phẩm là quan trọng nhất, song chúng ta cần hiểu tâm lý người tiêu dùng là ưa hình thức. Nếu như một sản phẩm có hình thức bề ngoài rất hấp dẫn, thì sẽ kích thích làm tăng tính hiếu kỳ đối với sản phẩm, ta sẽ dùng thử sản phẩm đó ngay mặc dù chưa biết chất lượng sản phẩm đó như thế nào. Khi sử dụng sản phẩm, thấy đảm bảo chất lượng tức là đạt tiêu chuẩn thoả mãn được nhu cầu của khách hàng và đương nhiên những lần kế tiếp sẽ trở thành khách hàng quen thuộc của tổng công ty. Do vậy, tổng công ty cần nghiên cứu đặc tính của khách hàng về vấn đề thẩm mỹ để thiết kế những mẫu mã sản phẩm cho phù hợp với thị hiếu của người tiêu dùng. Tiến hành bảo quản tốt thành phẩm để thành phẩm không bị giảm chất lượng trước và sau khi nhập kho cũng như cho tới tận tay người tiêu dùng. 2.5.2. Quản lý chất lượng. Để quản lý chất lượng có hiệu quả, tổng công ty nên thực hiện các biện pháp sau: Đảm bảo tốt nguyên liệu phục vụ cho sản xuất: để đảm bảo chất lượng sản phẩm thì chất lượng nguyên liệu cũng phải được bảo đảm đồng thời đảm bảo đúng tiến độ và sự đồng bộ. Phải có sự phân cấp quản lý kỹ thuật, chức năng quản lý phải rõ ràng không chồng chéo lên nhau để khắc phục tình trạng việc kiểm tra chưa nghiêm khắc, trách nhiệm không rõ ràng dẫn đến khuyết điểm không phụ thuộc ai, tạo nên sự vô trách nhiệm trong sản xuất, trong quản lý gây ra ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm, giảm mức thị trường và giảm mức cạnh tranh trên thị trường. Vì vậy, tổng công ty phải có phân định rõ ràng: việc quản lý chất lượng trước hết phải giao cho phân xưởng sản xuất, phân xưởng giao nhiệm vụ quyền hạn và trách nhiệm cho từng tổ trưởng, các tổ trưởng lại giao trách nhiệm cho từng tổ viên, từng tổ viên lại chịu trách nhệm về phần việc của mình. 2.6. Hạ giá thành sản phẩm để hạ giá bán, tăng khả năng tiêu thụ sản phẩm. Đối với thị trường Việt Nam, thu nhập của dân cư chưa cao, ngoài yêu cầu về chất lượng và chủng loại thì cạnh tranh bằng giá cả, một biện pháp cạnh tranh lành mạnh vẫn được coi là chiến lược lợi hại và đem lại hiệu quả cao. 2.6.1. Giảm chi phí nguyên liệu. Đối với sản phẩm của tổng công ty thì chi phí nguyên liệu chiếm tỷ trọng lớn trong giá thành sản phẩm. Vì vậy, giảm chi phí về nguyên liệu có ý nghĩa quan trọng nhất đối với các biện pháp hạ giá thành. Để giảm được chi phí về nguyên liệu tổng công ty cần thực hiện tốt các công tác sau: Tổ chức tốt công tác thu mua nguyên liệu: ngoài việc đánh giá chất lượng của công tác thu mua nguyên liệu, tổng công ty còn phải giảm chi phí phát sinh ở từng nguồn cung cấp để rồi đi đến quyết định mua nguyên liệu ở nguồn nào kinh tế nhất. Cán bộ thu mua cần tính toán chi phí vận chuyển hàng về kho, lượng hao hụt....để tổng chi phí thu mua là nhỏ nhất. Công ty có đội xe vận tải hàng hoá thì nên chuyển nguyên liệu, kết hợp hàng hai chiều để giảm chi phí vận chuyển. 2.6.2. Giảm chi phí bảo quản dự trữ nguyên liệu. Công ty cần thực hiện tốt công tác quản trị nguyên liệu trong kho.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docTiêu thụ sản phẩm ở Tổng công ty Rau quả, nông sản.doc
Tài liệu liên quan