Tiểu luận Mặt chất và lượng của giá trị thặng dư và ý nghĩa thực tiễn đối với nước ta

 

Trang

Phần mở đầu 2

Phần nội dung 3

Chương I: Mặt chất và mặt lượng của giá trị thặng dư . ý nghĩa thực tiễn rút ra 4

A. Mặt chất của giá trị thặng dư 4

I.Sự chuyển hoá tiền thành tư bản 4

II. Sản xuất giá trị thặng dư 7

B. Mặt lượng của giá trị thặng dư 11

I. Tỷ suất giá trị thặng dư 11

II. Khối lượng giá trị thặng dư 12

III. Sự thay đổi trong đại lượng giá trị thặng dư 13

IV. Các hình thức biểu hiện của giá trị thặng dư 15

C. ý nghĩa thực tiễn rút ra của vấn đề nghiên cứu 18

Chương II. Thực trạng của việc nghiên cứu và vận dụng lý luận giá trị thặng dư 21

A. Quan điểm của Đảng về việc nghiên cứu và vận dụng lý luận giá trị thặng dư 21

B. Thực trạng nghiên cứu và vận dụng lý luận giá trị thặng dư 21

I. Tình hình nghiên cứu lý luận giá trị thặng dư 21

II. Thực trạng sản xuất giá trị thặng dư 22

Chương III. Một số giải pháp để vận dụng lý luận giá trị thặng dư nhằm phát triển nền kinh tế thì trường định hướng XHCN 25

Phần kết luận

 

 

doc29 trang | Chia sẻ: maiphuongdc | Ngày: 29/08/2013 | Lượt xem: 4828 | Lượt tải: 48download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Tiểu luận Mặt chất và lượng của giá trị thặng dư và ý nghĩa thực tiễn đối với nước ta, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ất biến) ký hiệu là C. Hai là bộ phận tư bản được chi ra để mua sức lao động (tư bản khả biến) ký hiệu là V, bộ phận tư bản này cũng chỉ là một số tiền như tư bản chi ra để mua tư liệu sản xuất nhưng nhờ mua được sức lao động là loại hàng hoá đặc biệt mà khi tiêu dùng nó tạo ra giá trị thặng dư nên trở thành lượng khả biến. Việc phân chia này càng chỉ rõ nguồn gốc của giá trị thặng dư là sức lao động chứ không phải là máy móc hay tư liệu sản xuất khác. Có hai phương thức sản xuất ra giá trị thặng dư: Phương thức sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối: Đây là phương thức sản xuất giá trị thặng dư bằng cách kéo dài tuyệt đối ngày lao động trong khi phần thời gian lao động cần thiết của công nhân không đổi. Phần thời gian giá trị thặng dư kéo dài bao nhiêu là được hưởng bấy nhiêu. Ví dụ: Ngày lao động là 8 giờ trong đó gồm thời gian lao động cần thiết là 4 giờ và 4 giờ là thời gian lao động thặng dư. Nay ngày lao động kéo dài tuyệt đối thành 10 giờ mà thời gian lao động cần thiết không đổi thì thời gian lao động thặng dư tăng từ 4 giờ đến 6 giờ. Điều này dẫn đến việc đấu tranh của công nhân và sự đấu tranh đó buộc nhà tư bản phải rút ngắn thời gian lao động. Khi đó độ dài ngày lao động được xác định và nhà tư bản phải tìm phương thức khác để sản xuất ra giá trị thặng dư đó là phương thức sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối. Phương thức sản xuất giá trị thặng dư tương đối: Là giá trị thặng dư thu được bằng cách rút ngắn thời gian lao động cần thiết của công nhân trong khi thời gian lao động của người công nhân không đổi dựa trên cơ sở tăng năng suất lao động xã hội. Ví dụ: Người lao động làm việc 8 giờ trong đó 4 giờ là thời gian lao động cần thiết và 4 giờ là thời gian lao động thặng dư. Nay ngày lao động vẫn giữ nguyên là 8 giờ nhưng thời gian lao động cần thiết của công nhân rút ngắn xuỗng còn 2 giờ nên thời gian lao động thặng dư tăng lên từ 4 giờ đến 6 giờ. Như vậy muốn rút ngắn thời gian lao động của công nhân phải tăng năng suất lao động xã hội và năng suất lao động xã hội tăng ên làm cho giá trị hàng hoá tiêu dùng giảm xuống kéo theo sức lao động giảm. Vì vậy 2 giờ lao động cần thiết cũng đảm bảo khối lượng tư liệu sinh hoạt để công nhân tái sản xuất sức lao động, đồng thời để tăng năng suất lao động phải cải tiến sản xuất, đổi mới công nghệ. Những doanh nghiệp nào đi đầu trong đổi mới công nghệ sẽ thu được giá trị thặng dư siêu ngạch. Giá trị thặng dư siêu ngạch chính là giá trị thặng dư tương đối vì nó đều do tăng năng suất lao động mà có. Nhưng khác ở chỗ giá trị thặng dư tương đối do tăng năng suất lao động xã hội do đó tất cả các nhà tư bản đều được hưởng. Còn giá trị thặng dư siêu ngạch là do tăng năng suất lao động cá biệt nên chỉ có những nhà tư bản nào có năng suất lao động cá biệt hơn năng suất lao động xã hội thì mới được hưởng giá trị thặng dư siêu ngạch. ở đây máy móc công nghệ tiên tiến không tạo ra giá trị thặng dư mà nó tạo điều kiện để tăng sức lao động của người lao động, hạ giá trị cá biệt của hàng hoá thấp hơn giá trị của thị trường. Nhờ đó mà giá trị thặng dư tăng lên. B. Mặt lượng của giá trị thặng dư: Mặt lượng của giá trị thặng dư biểu hiện ở tỷ suất giá trị thặng dư, ở khối lượng giá trị thặng dư, và ở trong các hình thức của giá trị thặng dư. I. Tỷ suất giá trị thặng dư: Tỷ suất giá trị thặng dư là tỷ lệ so sánh giữa giá trị thặng dư và tư bản khả biến (ký hiệu là m’). Tỷ suất giá trị thặng dư chỉ rõ trong tổng giá trị mới so sức lao động tạo ra thì công nhân được hưởng bao nhiêu, nhà tư bản chiếm được bao nhiêu đồng thời nó còn chỉ rõ trong một ngày lao động, phần thời gian lao động thặng dư mà người công nhân làm cho nhà tư bản chiếm bao nhiêu phần trăm so với thời gian lao động tất yếu làm cho mình. Nói lên sự bóc lột của nhà tư bản với công nhân làm thuê, nó chưa nói rõ quy mô bóc lột. Để phản ánh quy mô bóc lột CácMác sử dụng phạm trù khối lượng giá trị thặng dư. II. Khối lượng giá trị thặng dư: Khối lượng giá trị thặng dư là tích số giữa tỷ suất giá trị thặng dư và tổng số tư bản khả biến được sử dụng. Ký hiệu là M. Như vậy, khối lượng giá trị thặng dư có thể được biểu hiện bằng công thức: M = m’.V (Trong đó, V là tổng số tư bản khả biến được sử dụng.) Nhìn vào công thức trên ta thấy,ở cùng một trình độ bóc lột (m’) nhất định, nếu nhà tư bản sử dụng càng nhiều tư bản khả biến thì khối lượng giá trị thặng dư thu được sẽ càng lớn. Như vậycó thể thấy giá trị thặng dư phản ánh quy mô của sự bóc lột, hay đó là sự bóc lột theo chiều rộng. III. Sự thay đổi trong đại lượng của giá trị thặng dư: Khi ta bán hàng hoá thì giá cả phải luôn luôn cao hơn giá trị của nó. Trong giá cả của hàng hoá gồm giá trị của nó và phần giá trị thặng dư, mà phần giá trị thặng dư được quyết định bởi ba nhân tố là độ dài ngày lao động, cường độ bình thường của lao động và sức sản xuất của lao động. 1. Đại lượng của ngày lao động và cường độ lao động không đổi (cho sẵn), sức sản xuất của lao động thay đổi: Đại lượng của ngày lao động không đổi, có nghĩa là giá trị của ngày lao động đó không đổi, hay giá trị mới được tạo ra trong ngày lao động là không đổi. Giá trị mới tạo ra này bao gồm giá trị sức lao động và giá trị thặng dư. Mà giá trị của sức lao động không giảm xuống, thì giá trị thặng dư không tăng lên, nên để có sự thay đổi đó cần phải thay đổi sức sản xuất. Giả định: thời gian lao động cần thiết là 4 giờ, nếu sức sản xuất của lao động tăng lên, thì chỉ cần một thời gian ít hơn 4 giờ để sản xuất ra khối lượng tư liệu sinh hoạt hàng ngày cần thiết mà trước đây phải cần 4 giờ để sản xuất. Do đó, giá trị của sức lao động sẽ giảm xuống. Ngược lại, nếu sức sản xuất của lao động giảm xuống, thì giá trị của sức lao động tăng lên. Như vậy, việc tăng năng suất lao động sẽ làm giảm giá trị của sức lao động, và đồng thời làm tăng giá trị thặng dư mà việc tăng hay giảm của giá trị thặng dư luôn là mối quan tâm hàng đầu của các nhà sản xuất nó là kết quả chứ không phải là nguyên nhân của việc tăng hay giảm tương ứng của giá trị sức lao động. 2. Ngày lao động không đổi, sức sản xuất của lao động không đổi, cường độ lao động thay đổi: Khi cường độ lao động cao thì sản phẩm làm ra trong ngày sẽ nhiều hơn so với số lượng sản phẩm làm ra trong một ngày có cường độ lao động thấp hơn mà số giờ lao động thì như nhau. Trong trường hợp này cũng gần giống như trên là đều đem lại số lượng sản phẩm lớn hơn trong cùng một thời gian lao động. Song cũng có điểm khác là giá trị của mỗi đơn vị sản phẩm trong trường hợp này không đổi vì trước cũng như sau để làm ra một sản phẩm đều hao phí một lượng lao động như nhau còn trong trường hợp tăng sức sản xuất của lao động giá trị của mỗi đơn vị sản phẩm giảm đi vì nó tốn ít lao động hơn trước. Việc tăng cường độ lao động, làm khối lượng sản phẩm sản xuất ra khi đó tăng lên, giá trị lại không giảm, làm tổng giá trị tăng, trong khi đó giá trị của sức lao động không đổi, do đó, làm giá trị thặng dư tăng lên. Việc đó khác với việc tăng sức sản xuất của lao động, làm cho giá trị của sức lao động giảm đi, mà tổng số giá trị không tăng lên (vì tuy khối lượng sản phẩm tăng, nhưng giá trị của mỗi sản phẩm lại giảm đi tương ứng), do đó giá trị thặng dư tăng lên. 3. Sức sản xuất của lao động và cường độ lao động không thay đổi, ngày lao động thay đổi: Ngày lao động có thể thay đổi theo hai chiều, nó có thể được rút ngắn lại hay kéo dài ra. Việc rút ngắn ngày lao động, trong điều kiện năng suất lao động và cường độ lao động không thay đổi, không làm thay đổi giá trị của sức lao động, hay không làm thay đổi số thời gian lao động cần thiết, vì thế nó làm thời gian lao động thặng dư bị rút ngắn, hay làm giá trị thặng dư giảm. Đại lượng tuyệt đối của giá trị thặng dư giảm làm đại lượng tương đối của nó so với đại lượng không đổi của giá trị sức lao động cũng giảm xuống. Nên chỉ có bằng cách giảm giá cả của sức lao động xuống thì nhà tư bản mới không bị tổn thất. Nếu không thì việc rút ngắn thời gian lao động bao giờ cũng gắn liền với sự thay đổi của năng suất lao động và cường độ lao động. Kéo dài thời gian lao động: Giả sử thời gian lao động cần thiết là 4 giờ, hay giá trị của sức lao động là 4 đồng, thời gian lao động thặng dư là 4 giờ và giá trị thặng dư là 4 đồng. Toàn bộ ngày lao động là 8 giờ, và biểu hiện trong sản phẩm là 8 đồng. Nếu ngày lao động được kéo dài thêm 2 giờ, và giá cả sức lao động không thay đổi, thì đại lượng tương đối của giá trị thặng dư tăng lên cùng với đại lượng tuyệt đối của nó. Mà vì giá trị của sức lao động không đổi, giá trị thặng dư lại tăng lên, do đó, đại lượng tương đối của giá trị sức lao động so với giá trị thặng dư sẽ giảm xuống. Như vậy, giá trị thặng dư tăng lên là nguyên nhân làm đại lượng tương đối của giá trị sức lao động giảm. Khi kéo dài ngày lao động cho đến một điểm nhất định, thì sự hao mòn sức lao động tăng lên, người lao động cần nhiều tư liệu sinh hoạt hơn để bù đắp hao mòn đó, do đó, giá cả của sức lao động phải tăng lên, nhưng ngay cả khi giá cả của sức lao động có tăng lên thì giá trị của sức lao động cũng giảm đi tương đối so với giá trị thặng dư. 4. Sự thay đổi cùng lúc của ngày lao động, sức sản xuất và cường độ của lao động: Có hai trường hợp quan trọng sau cần phải nghiên cứu: Sức sản xuất của lao động giảm xuống, đồng thời ngày lao động bị kéo dài. Chúng ta nói đến sức sản xuất của lao động giảm xuống là nói đến những ngành lao động mà sản phẩm quyết định giá trị của sức lao động, như ngành nông nghiệp, sức sản xuất của lao động đã giảm xuống do độ màu mỡ của đất kém đi, và giá cả sản phẩm đó đắt lên một cách tương ứng. Khi sức sản xuất của lao động giảm đi, thì như phân tích ở trên, giá trị của sức lao động sẽ tăng lên, thời gian lao động cần thiết tăng lên, làm thời gian lao động thặng dư giảm đi, giá trị thặng dư cũng vì thế mà giảm xuống. Nếu như ngày lao động được kéo dài để giá trị thặng dư được sinh ra khi đó đúng bằng lượng giá trị thặng dư trước đó, thì đại lượng của nó vẫn giảm xuống tương đối so với giá trị sức lao động. Và nếu tiếp tục kéo dài thời gian lao động thì có thể cả hai đại lượng tuyệt đối và tương đối của giá trị thặng dư có thể tăng lên. Cường độ và năng suất lao động tăng lên cùng với việc rút ngắn ngày lao động Khi cường độ và sức sản xuất của lao động tăng lên có nghĩa là thời gian lao động cần thiết được rút ngắn lại, đồng thời, thời gian lao động thặng dư được kéo dài ra, giá trị thặng dư được sinh ra tăng lên. Và do đó, có thể rút ngắn ngày lao động đến khi thời gian lao động thặng dư không còn nữa, nhưng cả khi sức sản xuất và cường độ của lao động có tăng đi nữa, giới hạn thời gian lao động cần thiết vẫn sẽ được nới rộng, bởi vì, càng ngày con người càng có nhu cầu sinh sống, hoạt động phong phú hơn, đồng thời một phần lao động thặng dư ngày nay sẽ được tính vào lao động cần thiết, cụ thể là phần lao động cần thiết cho việc thành lập quỹ dự trữ và quỹ tích luỹ xã hội. Năng suất lao động càng phát triển, thì lại càng có thể rút ngắn ngày lao động, và ngày lao động càng rút ngắn lại thì cường độ lao động càng có thể tăng lên. IV. Các hình thức biểu hiện của giá trị thặng dư Giá trị thặng dư là một phạm trù nói lên bản chất của nền sản xuất TBCN. Trong đời sống thực tế của xã hội tư bản, giá trị thặng dư chuyển hoá và biểu hiện thành lợi nhuận công nghiệp, lợi nhuận thương nghiệp, lợi nhuận ngân hàng, lợi tức cho vay, địa tô TBCN. 1. Lợi nhuận: Muốn tạo ra giá trị hàng hoá tất yếu phải chi ra một số lao động nhất định gọi là chi phí lao động, bao gồm lao động quá khứ và lao động hiện tại. Lao động quá khứ (lao động vật hoá) tức là giá trị của tư liệu sản xuất (C), lao động hiện tại (lao động sống) tức là lao động tạo ra giá trị mới (V+m). Chi phí lao động đó là chi phí thực tế của xã hội, chi phí tạo ra giá trị hàng hóa (W). W=C+V+m Song đối với nhà tư bản họ không phải chi phí lao động để sản xuất hàng hóa cho nên họ không quan tâm đến còn trên thực tế họ chỉ quan tâm đến việc ứng tư bản để mua tư liệu sản xuất (C) và mua sức lao động (V). Do đó nhà tư bản chỉ xem hao phí hết bao nhiêu tư bản chứ không tính đến hao phí hết bao nhiêu lao động xã hội. CácMác gọi chi phí đó là chi phí sản xuất tư bản chủ nghĩa (k) (k=C+V). Như vậy chi phí sản xuất tư bản chủ nghĩa là chi phí về tư bản mà nhà tư bản bỏ ra để sản xuất hàng hoá. Như vậy giá trị hàng hóa là W= C+V+m sẽ chuyển thành W= k+m. Nhìn vào công thức trên thì ta thấy sự phân biệt giữa C và V đã biến mất, người ta thấy dường như k sinh ra m. Chính ở đây chi phí lao động bị che lấp bởi chi phí tư bản (k) lao động là thực thể, là nguồn gốc của giá trị thì bị biến mất và giờ đây hình như toàn bộ chi phí sản xuất tư bản chủ nghĩa sinh ra giá trị thặng dư. Giữa giá trị hàng hoá và chi phí sản xuất tư bản chủ nghĩa luôn luôn có một khoảng chênh lệch cho nên sau khi bán hàng (giá cả bằng giá trị) nhà tư bản không những bù đắp đủ số tư bản đã ứng ra mà còn thu được một số tiền lời ngang bằng với m, số tiền này được gọi là lợi nhuận (p) do đó cơ cấu sản phẩm là W=k+p. Giữa giá trị thặng dư và lợi nhuận có sự khác nhau cơ bản về chất và lượng. Giá trị thặng dư thì sinh ra từ V (tức là lao động của công nhân) còn lợi nhuận thì được coi là đã được sinh rat từ C+V (tư bản ứng trước). Nhưng chúng cũng có sự giống nhau ở chỗ đều có chung một nguồn gốc là kết quả lao động không công của công nhân làm thuê. Thực chất lợi nhuận và giá trị thặng dư đều là một, lợi nhuận chẳng qua chỉ là một hình thái thần bí hoá của giá trị thặng dư. Như CácMác viết: “Giá trị thặng dư hay là lợi nhuận chính là phần giá trị dôi ra ấy của giá trị hàng hóa so với chi phí sản xuất của nó nghĩa là phần dôi ra của tổng số lượng lao động chứa đựng trong hàng hoá so với số lượng lao động được trả công chứa đựng trong hàng hoá. Nếu như nhà tư bản bán hàng hoá với giá cả bằng giá trị thì khi đó m =p, nếu bán với giá cả cao hơn giá trị thì khi đó m p. Nhưng trong toàn xã hội thì tổng giá cả luôn bằng tổng lợi nhuận bằng tổng giá trị thặng dư. Chính sự không nhất trí giữa m và p nên càng che dấu thực chất bóc lột của chủ nghĩa tư bản. Trong nền kinh tế tư bản mặc dù lợi nhuận là mục đích trực tiếp và tối cao của các nhà tư bản nhưng khi bắt đầu đầu tư vào một ngành sản xuất kinh doanh nào đó thì cái mà nhà tư bản quan tâm đến trước hết là tỷ suất lợi nhuận. Tỷ suất lợi nhuận là tỷ số tính theo phần trăm giữa giá trị thặng dư mà nhà tư bản đã bóc lột được của công nhân làm thuê so với tổng tư bản ứng trước ký hiệu là p’ vì thế có công thức p’(C+V) = m x 100%. P’ không phản ánh trình độ bóc lột mà nó chỉ phản ánh nơi đầu tư vốn có lợi nhất cho nhà tư bản về lượng. Do đó việc thu lợi nhuận và theo đuổi tỷ suất lợi nhuận là động lực thúc đẩy, là mục tiêu cạnh tranh của các nhà tư bản. Sự thèm khát lợi nhuận của các nhà tư bản là không có giới hạn. Mức tỷ suất lợi nhuận cao bao nhiêu cũng không thoả mãn được lòng tham vô đáy của chúng. Nhưng tỷ suất lợi nhuận lại phụ thuộc vào những yếu tố khách quan: Tỷ suất giá trị thặng dư càng cao thì tỷ suất lợi nhuận cáng lớn và ngược lại, tỷ suất giá trị thặng dư không đổi, cấu tạo hữu cơ tư bản càng cao thì tỷ suất lợi nhuận càng giảm và ngược lại. Nếu tốc độ chu chuyển của tư bản càng lờn thì tỷ suất giá trị thặng dư hàng năm càng tăng lên do đó tỷ suất lợi nhuận cũng càng tăng. Trong điều kiện tỷ suất giá trị thặng dư và tư bản khả biến không đổi nếu tư bản khả biến càng nhỏ thì tỷ suất lợi nhuận càng lớn. 2.Lợi nhuận thương nghiệp: Đối với tư bản thương nghiệp trước chủ nghĩa tư bản thì lợi nhuận thương nghiệp được coi là do mua rẻ bán đắt mà có. CácMác nói: lợi nhuận thương nghiệp không những là kết quả việc ăn cắp và lừa đảo mà đại bộ phận lợi nhuận thương nghiệp chính là do những việc ăn cắp lừa đảo mà ra cả. Đối với tư bản thương nghiệp,tư bản chủ nghĩa thì nhìn bề ngoài hình như là lợi nhuận thương nghiệp là do mua rẻ bán đắt mà có do lưu thông tạo ra. Nhưng về bản chất thì lợi nhuận thương nghiệp một phần giá trị thặng dư sáng tạo ra trong lĩnh vực sản xuất mà nhà tư bản công nghiệp nhường cho nhà tư bản thương nghiệp. Vậy tại sao nhà tư bản công nghiệp lại nhường một phần giá trị thặng dư của mình cho nhà tư bản thương nghiệp.Sở dĩ như vậy là do nhà tư bản thương nghiệp đã đứng ra đảm nhiệm khâu bán hàng để nhà tư bản công nghiệp rảnh tay tập trung vào sản xuất. Nhờ đó mà nhà tư bản công nghiệp rút ngắn được vòng tuần hoàn vốn (tư bản), nhờ đó thu được nhiều lợi nhuận hơn. Hơn nữa khi tham gia vào quá trình đó nhà tư bản thương nghiệp cũng phải ứng vốn ra để kinh doanh do họ cũng muốn có lợi nhuận. Nhường bằng cách nào? Nhà tư bản công nghiệp nhường bằng cách bán hàng hoá cho nhà tư bản thương nghiệp với giá bán buôn hay giá trị công nghiệp, giá bán này nhỏ hơn giá trị hàng hoá, bằng chi phí sản xuất cộng lợi nhuận công nghiệp rồi nhà tư bản thương nghiệp đem hàng hoá bán cho người tiêu dùng theo giá bán lẻ bằng giá trị hàng hoá hay chi phí sản xuất cộng lợi nhuận công nghiệp và tư bản thương nghiệp. 3.Lợi tức: Tư bản cho vay là tư bản sinh lợi tức. Đứng về phìa nhà tư bản cho vay thì do họ nhường quyền sử dụng tư bản của mình cho người khác trong một thời gian nhất định nên thu được lợi tức.Về bản chất của lợi tức là một phần giá trị thặng dư được tạo ra trong lĩnh vực sản xuất mà các nhà tư bản hoạt động trả cho nhà tư bản cho vay về món tiền mà nhà tư bản cho vay đã bỏ ra cho nhà tư bản hoạt động sử dụng. Như vậy thức chất lợi tức chỉ là một phần lợi nhuận mà nhà tư bản hoạt động thu được nhờ sử dụng tư bản đi vay, phải trả cho nhà tư bản cho vay. Trên thực tế lợi tức là một phần lợi nhuận bình quân mà nhà tư bản đi vay phải trả cho nhà tư bản cho vay, căn cứ vào số tư bản mà nhà tư bản cho vay đã đưa cho nhà tư bản đi vay sử dụng. 4. Địa tô tư bản chủ nghĩa: Dưới chủ nghĩa tư bản có hình thức sở hữu độc quyền về đất đai, nó cho phép địa chủ có quyền chiếm hữu một phần giá trị thặng dư do những hoạt động diễn ra trên mảnh đất ấy sinh ra, không kể đất đai đó được dùng trong nông nghiệp, cho xây dựng, cho đường sắt hay cho bất kỳ một mục đích sản xuất nào khác. Địa tô chỉ là một phần của giá trị thặng dư sau khi đã trừ đi phần lợi nhuận của tư bản kinh doanh nông nghiệp. Như thế, có thể nói lợi nhận công nghiệp, lợi nhuận thương nghiệp, lợi tức, địa tô chỉ là các phần khác nhau của giá trị thặng dư - được sinh ra từ lao động của người công nhân làm thuê - phân giải thành. C. ý nghĩa thực tiễn rút ra được khi nghiên cứu về giá trị thặng dư đối với nước ta khi chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN: 1. Nghiên cứu để có nhận thức đúng về giá trị thặng dư là nhằm tránh những nghi ngờ về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội mà nước ta đang thực hiện: Sau khi mô hình CNXH ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, các học giả tư sản đã thừa cơ đẩy mạnh công kích, phủ nhận chủ nghĩa Mác- Lênin; nhiều nhà khoa học ở các nước XHCN cũng hoài nghi, thậm chí phê phán, đòi xét lại các nguyên lý của chủ nghĩa Mác-Lênin, trong đó có học thuyết giá trị thặng dư. Họ làm như vậy là bởi vì họ không hiểu được cốt lõi lý luận của Mác, nhất là không nắm được phương pháp duy vật biện chứng của Mác trong nghiên cứu và trình bày học thuyết giá trị thặng dư. Do đó, việc nghiên cứu về giá trị thặng dư sẽ giúp tránh được những sai lầm như thế. Hơn nữa, như Ph. Ăng-ghen đã nói: “Nhờ hai phát hiện ấy (chủ nghĩa duy vật lịch sử và lý luận giá trị thặng dư), chủ nghĩa xã hội đã trở thành một khoa học, và giờ đây vấn đề trước hết là phải tiếp tục nghiên cứu nó trong mọi chi tiết và mọi mối quan hệ tương hỗ của nó”, điều đó có nghĩa là việc nghiên cứu về giá trị thặng dư không bao giờ là thừa. Đặc biệt, hiện nay, chủ nghĩa tư bản đã và đang có sự thay đổi, có sự điều chỉnh để bảo vệ cho chính mình, mà những chính sách điểu chỉnhh ấy đã làm cho sự bóc lột trở nên ngày càng tinh vi hơn, bản chất bóc lột được che giấu. Nếu như không nghiên cứu về lý luận giá trị thặng dư này và đặt nó trong tình hình mới, nhằm bổ sung, hoàn chỉnh lý luận giá trị thặng dư, cho phù hợp với tình hình mới, thì chúng ta rất dễ có những nghi ngờ. 2.Việc nghiên cứu về mặt chất và mặt lượng của giá trị thặng dư giúp chúng ta thấy được thực chất của giá trị thặng dư, từ đó không đồng nhất giá trị thặng dư với sự bóc lột, tránh có những nhận thức sai lầm về nền kinh tế thị trường định hướng XHCN đang được áp dụng ở nước ta hiện nay: Quá trình đi lên xã hội chủ nghĩa ở nước ta là một quá trình phấn đấu lâu dài và gian khổ. Từ khi chuyển từ kinh tế tập trung bao cấp chuyển sang kinh tế thị trừơng định hướng xã hội chủ nghĩa chúng ta đã đạt được rất nhiều thành tựu về mọi mặt kinh tế, chính trị, văn hoá... Nâng cao và cải thiện đời sống của nhân dân. Do Đảng và nhà nước ta đã áp dụng nhưng cuộc sống để kích thích sản xuất, khuyến khích tinh thần năng động sáng tạo của người lao động, giải phóng sức sản xuất thúc đẩy công nghiệp hoá - hiện đại hoá. Với những biện pháp như trên đã làm hoạt động kinh tế nước ta ngày càng tăng trưởng thu được nhiều lợi nhuận, đang từng bước tham gia và hội nhập, đuổi kịp các nước trong khu vực và trên thế giới. Việc nghiên cứu lý luận giá trị thặng dư sẽ cho ta những giải pháp để tăng khối lượng giá trị thặng dư của nền kinh tế. Nó góp phần thay đổi nhận thức sai lầm trước đây về giá trị thặng dư, coi nó là phạm trù riêng của chủ nghĩa tư bản, đồng thời nó với sự bóc lột cần phải xoá bỏ. Việc nghiên cứu sẽ nhận thức đúng rằng: giá trị thặng dư là phạm trù chung của bất kì chế độ xã hội nào có thời gian lao động xã hội lớn hơn thời gian lao động cần thiết. Và các quyết định sự bóc lột không phải là lượng giá trị thặng dư được sinh ra nhiều hay ít mà là việc phân phối giá trị thặng dư đã được tạo ra như thế nào. Từ đó chúng ta có được những quan niệm tốt phá bỏ được nhiều định kiến không hay, để có thể mở rộng khả năng kinh doanh và phát triển nền kinh tế, phát huy hết tiềm năng của mình. 3. Nghiên cứu giá trị thặng dư có ý nghĩa trong việc đề ra các chính sách kinh tế phù hợp Với lý luận giá trị thặng dư và thực tiễn của nó, không những giúp chúng ta phá vỡ những định kiến về kinh tế tư nhân mà còn giúp đưa ra các chính sách kinh tế phù hợp như áp dụng kỹ thuật và sản xuất sẽ giúp xây dựng hoàn thiện các chính sách chiến lược phát triển khoa học công nghệ thực hiện công nghiệp hoá- hiện đại hoá đất nước. Giúp chúng ta thấy được sự tác động của quy luật giá trị thặng dư sẽ dẫn tới cạnh tranh gay gắt, hình thành độc quyền, do đó làm cho sự phân hoá giàu nghèo càng trở nên rõ rệt. Song song với việc phát triển kinh tế, có nhiều mặt tích cực vẫn còn tồn tại rất nhiều những tiêu cực theo sự phát triển kinh tế. Vì vậy cần phải có những chính sách để khắc phục những hạn chế (xoá đói giảm nghèo, điều tiết thu nhập dân cư...) Chương 2 : Thực trạng việc nghiên cứu và vận dụng phạm trù giá trị thặng dư ở nước ta hiện nay A. Quan điểm của Đảng về việc nghiên cứu và vận dụng học thuyết giá trị thặng dư trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN hiện nay Nền kinh tế nước ta khi bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội còn mang nặng tính tự túc, tự cấp. Vì vậy sản xuất hàng hoá phát triển sẽ phá vỡ dần kinh tế tự nhiên và chuyển dần thành nền kinh tế hàng hoá, thúc đẩy sự xã hội hóa sản xuất. Chính trên cơ sở này Đảng và Nhà nước ta đã xác định: “Mô hình kinh tể ở Việt Nam được xác định là nền kinh tế nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước, định hướng xã hội chủ nghĩa đồng thời sản xuất hàng hoá không đối lập với chủ nghĩa xã hội mà là những thành tựu phát triển của nền văn minh nhân loại, tồn tại khách quan cần thiết cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và cả khi chủ nghĩa xã hội được xác định”. Điều này cho thấy Đảng ta thừa nhận sự tồn tại của các phạm trù kinh tế trong đó có phạm trù giá trị thặng dư. Mà trong cương lĩnh thông qua tại đại hội VII Đảng ta đã khẳng định: “Chủ nghĩa Mác-LêNin và tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng và kim chỉ nam cho mọi hoạt động của Đảng”. Thế có nghĩa là việc vận dụng giá trị lý luận về giá trị thặng dư của Mác vào sự hoạt động của nền kinh tế nước ta đã được khẳng định. Ta vận dụng một quan điểm nào đó của Mác-LêNin, tư tưởng Hồ Chí Minh phải nắm chắc bối cảnh ra đời, phạm vi nhiệm vụ không nên bê nguyên si vận dụng cứng nhắc vào tình hình thực tiễn. Từ đó khi vận dụng lý luận giá trị thặng dư của Mác vào hoạt động của nền kinh tế nước ta phải nghiên cứu để nắm vững lý luận này. Để hạn chế bớt mặt tiêu cực của sự hoạt động quy luật giá trị thặng dư đó là sự phân hoá giàu nghèo tình trạng cạnh tranh gay gắt thì theo đại hội IX nhấn mạnh: “Thực hiện các chính sách xã hội hướng vào phát triển và lành mạnh hoá xã hội, thực hiện công bằng trong phân phối, tạo động lực mạnh mẽ phát triển sản xuất khuyến khích nhân dân làm giàu hợp pháp”. B. Thực trạng nghiên cứu và vận dụng lý luận giá trị thặng dư ở nước ta hiện nay I.Tình hình nghiên cứu lý luận giá trị thặng dư hiện nay ở nước ta Trong những năm qua Đảng và Nhà nước ta đã xây dựng, nghiên cứu vận dụng học thuyết kinh tế của Mác và cụ thể là học thuyết giá trị thặng dư. Trong điều kiện hoàn cảnh mới hiện nay các nghiên cứu đã chứng minh những luận điểm đúng đắn của Mác: “ Chỉ có lao động mới tạo ra giá trị và giá trị

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docTiểu luận kinh tế chính trị - giá trị thặng dư.doc
Tài liệu liên quan