Đề tài Tìm hiểu thực trạng bình đẳng giới trong quản lí ở Việt Nam hiện nay

Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân, nguyên Chủ tịch Uỷ ban Quốc gia vì sự tiến bộ phụ nữ Việt Nam khẳng định: “So với các nước trong khu vực Đông Nam Á, vị thế của phụ nữ Việt Nam đứng trong tốp đầu. Có thể ít chỗ này, hạn chế chỗ nọ, nhưng tựu trung lại thì chỉ số phát triển giới và phụ nữ tham gia Quốc hội của chúng ta đứng đầu trong 8 nước có Nghị viện ở Đông Nam Á. Còn ở châu Á- Thái Bình Dương, chúng ta cũng đứng hàng thứ 4. Và trên toàn thế giới, trong tất cả 155 nước được xếp hạng thì chúng ta ở trong nhóm khá”.

doc29 trang | Chia sẻ: maiphuongdc | Ngày: 25/01/2014 | Lượt xem: 5907 | Lượt tải: 107download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đề tài Tìm hiểu thực trạng bình đẳng giới trong quản lí ở Việt Nam hiện nay, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ệp. Phụ nữ chiếm 50,3% số người làm công ăn lương và 32,4% các chủ doanh nghiệp.           Trong số hơn 300 nghìn doanh nghiệp hoạt động theo Luật Doanh nghiệp, có khoảng 15% do phụ nữ đứng đầu hoặc nắm giữ cương vị chủ chốt. Tỷ lệ phụ nữ làm quản lý doanh nghiệp của một số ngành: dệt, may mặc, giày dép, thực phẩm, đồ uống... chiếm hơn 50%, ở các ngành giao thông - vận tải, xây dựng, khai khoáng... có 20% người quản lý doanh nghiệp là nữ. Trong số 900 nghìn hộ kinh doanh gia đình, có 27% do phụ nữ điều hành.           Mặc dù Ðảng, Nhà nước đã có chủ trương cụ thể, chính sách rõ ràng, song tỷ lệ nữ CBCC tham gia quản lý nhà nước còn ít. Tỷ lệ nữ CBCC là lãnh đạo trong các cấp ủy đảng, chính quyền, các ngành và các cơ quan nghiên cứu khoa học lại càng thấp. Hơn nữa, nữ lãnh đạo thường chỉ liên quan các lĩnh vực xã hội. Rất hiếm nữ CBCC làm lãnh đạo trong lĩnh vực quản lý kinh tế, kế hoạch, nghiên cứu khoa học. Tỷ lệ cán bộ nữ trong các cấp ủy đảng từ Trung ương đến cơ sở chỉ chiếm khoảng 10 - 11%. Trong các cấp ủy đảng, số nữ CBCC giữ vị trí trọng trách rất ít. Tỷ lệ trung bình nữ CBCC ở vị trí chủ chốt như bí thư, phó bí thư, ủy viên thường vụ chỉ khoảng 3-8% ở mọi cấp. Phần lớn các ủy viên thường vụ trong các cấp ủy đảng chỉ được phụ trách những công việc hành chính liên quan đến động viên hơn là những nhiệm vụ chiến lược. Sự khác biệt này đã hạn chế ảnh hưởng của phụ nữ trong nhiều lĩnh vực công tác. So với yêu cầu của sự nghiệp đổi mới đất nước, số lượng nữ ở các cương vị quản lý nhà nước chưa tương xứng vai trò, vị trí và những đóng góp của họ trong các hoạt động phát triển. Trước đây, tỷ lệ nữ CBCC tham gia quản lý nhà nước trong ngành công nghiệp chiếm gần 20%, nay giảm xuống còn 10%. Có thể nói, đội ngũ cán bộ nữ giảm sút không chỉ ở các cơ quan dân cử mà còn ở các bộ, ngành và cơ quan chính quyền. Sự thiếu hụt cán bộ nữ trên một số lĩnh vực quan trọng làm cho việc hoạch định kế hoạch, chính sách không có tiếng nói đại diện của phụ nữ, dẫn đến thực hiện bình đẳng giới về mọi mặt chưa đạt kết quả mong muốn.           Cán bộ nữ đã ít, lại bị hạn chế bởi tuổi về hưu và tuổi đề bạt. Hiện nay, cơ cấu tuổi của cán bộ nữ khá cao, hầu hết cán bộ nữ làm quản lý đều ở tuổi trên dưới 50, trong khi nhiều nữ thanh niên hiện nay ngại làm chính trị, chỉ thích làm chuyên môn. Trong khi tỷ lệ cán bộ nữ vốn đã thấp, thì lãnh đạo là nữ chủ yếu đảm nhiệm cấp phó giúp cho trưởng (nam). Ở những vị trí này, phụ nữ không có thực quyền, quan niệm trọng nam, khinh nữ vẫn còn phổ biến và coi phụ nữ chỉ là "giúp việc" cho nam giới. Còn có hiện tượng xem xét, cất nhắc chị em vào các vị trí lãnh đạo diễn ra khó khăn hơn so với nam giới. Trong một cơ quan, phụ nữ thường bị nhìn nhận xét nét hơn, cơ quan chủ quản chưa nhận thấy ở chị em một cách đầy đủ những điểm mạnh nổi bật về chuyên môn, uy tín.           Hiện nay, đội ngũ nữ chỉ chiếm 4% giáo sư, 25% tiến sĩ và 9% số người được trao tặng các giải thưởng về khoa học - công nghệ, chứng tỏ việc đào tạo nhân lực trong giới nữ chưa tương xứng yêu cầu của sự nghiệp giải phóng phụ nữ và nguyện vọng chị em. Những năm qua, tuy số lượng phụ nữ tham gia quản lý nhà nước tăng lên về con số tuyệt đối, song tỷ trọng lại có xu hướng giảm. Chương II. THỰC TRẠNG VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG QUẢN LÍ Ở VIỆT NAM Thực trạng về bình đẳng giới trong quản lí ở Việt Nam. Nhiều năm qua, Đảng, Nhà nước đã ban hành các chủ trương, chính sách về bình đẳng giới để phụ nữ Việt Nam có cơ hội phát huy tài năng của mình và tham gia những vị trí lãnh đạo chủ chốt các cơ quan Đảng, Nhà nước, chính quyền các địa phương, các đơn vị, doanh nghiệp… Hàng loạt văn bản pháp luật được ban hành nhằm nâng cao vị thế của phụ nữ trong xã hội và thực hiện bình đẳng giới như Bộ luật Dân sự, Bộ luật Lao động, Luật Hôn nhân và Gia đình, Luật Phòng chống bạo lực gia đình, Luật Bình đẳng giới. Đặc biệt, Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội, Luật Bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp đã quy định rõ phụ nữ có quyền bầu cử, ứng cử, cũng như các cơ chế để đảm bảo phụ nữ được thực hiện những quyền đó. Gần 2 thập kỷ qua, Việt Nam luôn có một Phó Chủ tịch nước là nữ. Trong Quốc hội, tỷ lệ nữ đại biểu 3 nhiệm kỳ gần đây đều đạt trên 25%. Tỷ lệ đại biểu nữ từ năm 2005 đến 2011 tại các cơ quan dân cử ở địa phương, như Hội đồng nhân dân cấp tỉnh tăng từ 22,3% lên 23,8%, cấp huyện tăng từ 20,1% lên 23,2%; cấp xã tăng từ 16,6% lên 20,1%. Mặc dù tỷ lệ này chưa cao, nhưng đã chứng minh được vai trò quan trọng của phụ nữ trong việc đảm nhận những trọng trách quan trọng trong bộ máy cơ quan Nhà nước từ Trung ương đến địa phương. Bảng 1: Tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội Việt Nam qua các kỳ bầu cử Nhiệm kỳ Nữ Đại biểu Tổng số Đại biểu Tỷ lệ nữ/ Tổng số Khoá XII (2007-2011) 127 493 25,76% Khoá XI (2002-2007) 136 498 27.31% Khoá X (1997-2002) 118 450 26.22% Khoá IX (1992-1997) 73 395 18.48% Khoá VIII (1987-1992) 88 496 17.74% Khoá VII (1981-1987) 108 496 21.77% Khoá VI (1976-1981) 132 492 26.83% Khoá V (1975-1976) 137 424 32.31% Khoá IV (1971-1975) 125 420 29.76% Khoá III (1964-1971) 62 366 16.94% Khoá II (1960-1964) 49 362 13.54% Khoá I (1946-1960) 10 333 3.00% Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân, nguyên Chủ tịch Uỷ ban Quốc gia vì sự tiến bộ phụ nữ Việt Nam khẳng định: “So với các nước trong khu vực Đông Nam Á, vị thế của phụ nữ Việt Nam đứng trong tốp đầu. Có thể ít chỗ này, hạn chế chỗ nọ, nhưng tựu trung lại thì chỉ số phát triển giới và phụ nữ tham gia Quốc hội của chúng ta đứng đầu trong 8 nước có Nghị viện ở Đông Nam Á. Còn ở châu Á- Thái Bình Dương, chúng ta cũng đứng hàng thứ 4. Và trên toàn thế giới, trong tất cả 155 nước được xếp hạng thì chúng ta ở trong nhóm khá”. Ngoài việc tham gia vào bộ máy cơ quan Nhà nước, phụ nữ Việt Nam còn tham gia vào các tổ chức chính trị xã hội, tổ chức nghề nghiệp và đặc biệt tham gia vào hầu hết các ngành nghề, công việc, kể cả những lĩnh vực trước đây chỉ dành cho nam giới. Với hơn 50% tỷ trọng lao động trong sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp, đội ngũ cán bộ nữ khoa học, phụ nữ nông dân đã đóng góp rất lớn vào thành tựu sản xuất, phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Sự đóng góp của đội ngũ lao động nữ trên lĩnh vực công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, kinh doanh dịch vụ cũng là động lực để phát triển kinh tế. Nhiều chị đã phấn đấu vươn lên, giữ những cương vị chủ chốt trong hoạt động quản trị doanh nghiệp. Đội ngũ nữ trí thức Việt Nam đã có bước trưởng thành cả về số lượng và chất lượng, với 36,64% trong khoa học tự nhiên; 43,42% trong lĩnh vực khoa học nông - lâm - thủy sản; 33% trong khoa học công nghệ. Ngày càng có nhiều tập thể và cá nhân khoa học nữ có công trình nghiên cứu được nhận giải thưởng VIFOTEC của Liên hiệp các Hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam, Giải thưởng Phụ nữ Việt Nam, Giải thưởng Kovalevskaia... Nhiều nhà khoa học nữ đã lập ra các hội nghề nghiệp, câu lạc bộ, trung tâm nghiên cứu, tư vấn để tiếp tục phát huy trí tuệ, tài năng của mình đóng góp vào sự nghiệp phát triển chung của đất nước. Tuy nhiên, bất bình đẳng giới ở Việt Nam vẫn tồn tại trong nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội và là rào cản đối với sự phát triển của phụ nữ. Theo đánh giá của Ban tổ chức Trung ương, sau 5 năm tổng kết Chỉ thị 37 và 2 năm thực hiện Nghị quyết số 11 của Bộ chính trị về công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, tỷ lệ nữ tham gia cấp ủy đảng, chính quyền, đại biểu dân cử vẫn còn thấp, chưa ổn định. Để phụ nữ ngày càng khẳng định vị thế của mình trong gia đình và xã hội, nhất là vai trò trong quản lý lãnh đạo, các cấp uỷ Đảng từ Trung ương đến cơ sở, cần nhìn nhận, đánh giá đúng vị trí và tài năng của phụ nữ cũng như sự đóng góp của họ để đưa vị thế xã hội của người phụ nữ Việt Nam lên một tầm cao mới. Theo số liệu của Hội Phụ nữ, tỷ lệ nữ trong các tổ chức Đảng nhiệm kỳ 2010-2015 cấp T.Ư là 8,57%, tỉnh/thành là 11,37%, quận/huyện 15,01%, xã/phường 18,01%, tăng không đáng kể so với nhiệm kỳ trước và không đạt tiêu chuẩn 15% ở cấp T.Ư và tỉnh/thành. Còn trong Quốc hội, nhiệm kỳ 2011-2016 chỉ đạt 24,4%. Đây là nhiệm kỳ thứ 2 tỷ lệ nữ Đại biểu Quốc hội bị tụt giảm. Nhiệm kỳ 2002-2007 là 27,3%, nhiệm kỳ 2007-2011 là 25,76%. Bảng 2: Tỷ lệ phân bố nữ đại biểu trong một số cơ quan của Quốc hội Đơn vị Khoá 2002-2007 Khoá 2007 - 2011 Nữ Nam Nữ Nam Uỷ ban văn hoá, giáo dục, thanh niên, thiếu niên và nhi đồng 43,2 56,8 28,2 71,8 Hội đồng dân tộc 43,6 56,4 56,4 43,6 Uỷ ban về các vấn đề xã hội 40,5 59,5 37,5 62,5 Uỷ ban pháp luật 11,7 88,3 14,3 85,7 Uỷ ban đối ngoại 17,6 82,4 16,7 83,3 Uỷ ban khoa học, công nghệ và môi trường 19,4 80,6 32,4 67.6 Uỷ ban quốc phòng và an ninh 2,6 97,4 0 100 Uỷ ban kinh tế và ngân sách/Uỷ ban kinh tế 12,5 87,5 8,3 91,7 Uỷ ban tư pháp 14,7 85,3 Uỷ ban tài chính-ngân sách 11,4 88,6 Bảng 3: Tỷ lệ phụ nữ tham gia hội đồng nhân dân các cấp Các cấp Khoá 1999-2004 Khoá 2004-2011 Nữ Nam Nữ Nam Tỉnh/thành phố 22,33 76,67 23,8 76,2 Quận/huyện 20,12 79,88 23,2 76,8 Xã/phường 16,56 83,44 20,1 79,9 Nguồn: Ủy ban quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam, 2004. Bảng 4: Tỷ lệ nữ chủ tịch, phó chủ tịch hội đồng nhân dân các cấp (%) Nhiệm kỳ 1999-2004 Nhiệm kỳ 2004-2011 Chức danh Cấp tỉnh Cấp huyện Cấp xã Cấp tỉnh Cấp huyện Cấp xã Chủ tịch 1,64 5,46 3,46 1,56 3,92 4,09 Phó chủ tịch 8,19 11,42 5,57 26,56 19,64 10,61 Như vậy có một nghịch lý, bất chấp sự nỗ lực tuyên truyền của Hội LHPN Việt Nam và Vụ Bình đẳng giới – Bộ LĐTBXH, càng hô hào bầu cử cho đại biểu nữ, tỷ lệ càng tụt giảm. Tỷ lệ phụ nữ tham gia chính trị còn quá nhỏ so với tổng số “một nửa thế giới”. Tuy nhiên, phụ nữ giữ vị trí chủ chốt trong cơ quan Đảng, dân cử và chính quyền còn ít ỏi, hiếm hoi hơn nữa. Ở cấp T.Ư nhiệm kỳ 2011-2016 chỉ có 1 nữ Ủy viên Bộ Chính trị và 2 nữ Bí thư. Cấp địa phương, phụ nữ là Bí thư Tỉnh ủy, Huyện ủy và Đảng ủy xã chỉ đạt 0,25%; 5,5% và 7,25%. Thậm chí, 9/35 tỉnh thành không có nữ lãnh đạo chủ chốt. “Không chỉ là tỷ lệ thấp, chủ yếu giữ chức “phó”, mà phụ nữ còn được giao cho các mảng “chung chung” ở lĩnh vực xã hội nên tiếng nói của phụ nữ trong quá trình lập pháp và quyết định những vấn đề thiết yếu như kinh tế, ngân sách, đối ngoại, an ninh quốc gia càng hạn chế” – bà Ngô Thị Thu Hà - Phó Giám đốc Trung tâm Hỗ trợ giáo dục và nâng cao năng lực cho phụ nữ nói. Bà Hà chỉ ra một trong những nguyên nhân khiến phụ nữ ít được đề bạt lên vị trí cao hơn là vì Luật Lao động quy định tuổi nghỉ hưu của phụ nữ sớm hơn nam giới (55 tuổi với nữ và 60 tuổi với nam). Điều này trái với khoản 4, điều 11, Luật Bình đẳng giới: “Nam nữ bình đẳng về chuyên môn, độ tuổi khi được đề bạt, bổ nhiệm vào cùng vị trí, quản lý, lãnh đạo của cơ quan tổ chức”. Đồng thời cũng mâu thuẫn với Nghị quyết 11-NQ/TƯ của Bộ Chính trị: “Thực hiện nguyên tắc bình đẳng giữa nam và nữ về độ tuổi trong quy hoạch, đào tạo, đề bạt và bổ nhiệm. Trong nhiệm kỳ Công đoàn 2008-2010 (cấp cơ sở), 2008 – 2013 (cấp trên cơ sở), tỷ lệ nữ tham gia Ban Chấp hành Công đoàn cơ sở và cấp trên cơ sở chiếm tỷ lệ 26.6%; Trong đó số nữ là Chủ tịch, Phó Chủ tịch công đoàn cơ sở, trên cơ sở là 14%, số nữ tham gia UBKT công đoàn các cấp là 29%. Tỷ lệ nữ tham gia BCH Công đoàn các cấp hiện nay ở khối viễn thông thấp, chỉ khoảng 25%. Khối bưu chính khoảng 48%. Tuy nhiên tại một số đơn vị viễn thông, công ty cổ phần, liên doanh, TNHH số nữ tham gia BCH Công đoàn rất ít. Đòi hỏi công đoàn các cấp cần quan tâm hơn nữa trong việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ nữ để tăng cường sự tham gia của nữ trong hoạt động công đoàn ở các đơn vị này.Trong nhiệm kỳ Công đoàn 2008-2010 (cấp cơ sở), 2008 – 2013 (cấp trên cơ sở), tỷ lệ nữ tham gia Ban Chấp hành Công đoàn cơ sở và cấp trên cơ sở chiếm tỷ lệ 26.6%; Trong đó số nữ là Chủ tịch, Phó Chủ tịch công đoàn cơ sở, trên cơ sở là 14%, số nữ tham gia UBKT công đoàn các cấp là 29%. Tỷ lệ nữ tham gia BCH Công đoàn các cấp hiện nay ở khối viễn thông thấp, chỉ khoảng 25%. Khối bưu chính khoảng 48%. Tuy nhiên tại một số đơn vị viễn thông, công ty cổ phần, liên doanh, TNHH số nữ tham gia BCH Công đoàn rất ít. Đòi hỏi công đoàn các cấp cần quan tâm hơn nữa trong việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ nữ để tăng cường sự tham gia của nữ trong hoạt động công đoàn ở các đơn vị này. Đến năm 2001 số cán bộ nữ có học hàm học vị là gần 18.000 người song tỷ lệ những người chủ trì các đề tài, dự án khoa học và công nghệ các cấp, nhất là cấp nhà nước là rất thấp. Trong giai đoạn 1991 – 1995 trong tổng số trên 500 đề tài thuộc 31 chương trình KHCN trọng điểm cấp nhà nước chỉ có 21 cán bộ nữ đảm đương cương vị chủ trì đề tài (chiếm dưới 4%). Ơ giai đoạn sau 1996 – 2000, số phụ nữ chủ trì đề tài tuy có tăng lên tới 10% song vẫn còn rất thấp và chưa phản ánh đúng năng lực và khả năng đóng góp của phụ nữ trong những nhiệm vụ khoa học và công nghệ quan trọng tầm quốc gia . (Báo cáo của Bộ Khoa học công nghệ và Môi trường, 2005). Năm 2008 - 2009 trong ngành khoa học xã hội có hai nữ phó giáo sư, tiến sỹ là chủ nhiệm đề tài cấp nhà nước. Tình trạng phổ biến hiện nay là nữ cán bộ khoa học là lực lượng tham gia (đôi khi là lực lượng chính) vào các công trình khoa học công nghệ cấp nhà nước, còn người chủ trì các công trình này chủ yếu lại là cán bộ nam. Điều nghịch lý là trong nhiều trường hợp, trình độ năng lực và kiến thức khoa học công nghệ của phụ nữ đã không thua kém nam giới, thậm chí chính những người đang điều hành các công trình này. Bảng 11: Tỷ lệ nam, nữ giữ các chức danh, học vị khoa học Chức danh 1999 2004 2006 Nữ Nam Nữ Nam Nữ Nam Thạc sĩ 29,11 70,89 39,1 60,9 30,53 69,47 Tiến sĩ khoa học 13,04 86,96 17,50 82,50 9,76 90,2 Tiến sĩ 15,44 84,58 17,02 82,98 Giáo sư 4,3 95,70 3,10 96,90 5,10 94.90 Nguồn: Hội đồng chức danh giáo sư, Bộ Giáo dục-Đào tạo qua các năm Nguyên nhân của thực trạng. Có khá nhiều nguyên nhân dẫn tới tình trạng phụ nữ ít tham gia quản lí, và dưới đây là một số nguyên nhân cơ bản. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng, giữa phụ nữ và nam giới không có sự khác biệt về mặt xã hội, mà chỉ có sự khác biệt về mặt sinh học. Tuy nhiên, trong thực tế, cho đến bây giờ các định kiến giới vẫn còn tồn tại và có thể gặp ở nhiều nhóm xã hội: cả phụ nữ và nam giới, cả trong cán bộ lãnh đạo - những người có vai trò quyết định đối với việc hoạch định và thực hiện chính sách đối với phụ nữ và người dân. Vậy thế nào là định kiến giới? Các định kiến giới là một tập hợp các đặc điểm mà một nhóm người, một cộng đồng cụ thể nào đó gán cho là thuộc tính của nam giới hay phụ nữ. Các quan niệm này thường sai lệch và hạn chế những điều mà một cá nhân có thể làm. Ví dụ: một số định kiến coi phụ nữ là phụ thuộc, yếu đuối, thụ động, dịu dàng và thứ yếu. Một số định kiến coi nam giới là độc lập, mạnh mẽ, có năng lực, quan trọng hơn và là người ra quyết định tốt hơn; hoặc "trai anh hùng, gái thuyền quyên", hay "trai tài, gái sắc". Trong thực tế, những đặc điểm tính cách này không chỉ của riêng nam giới hay phụ nữ, mà cả nam giới và phụ nữ đều có thể mang những đặc điểm này. Tuy nhiên, những đặc tính đó lại thường bị gán cho nam hay nữ dưới góc độ phê phán và làm cho họ bị thiệt thòi xét theo một khía cạnh nào đó. Ví dụ, người ta hay cho rằng: phụ nữ không đủ mạnh để làm lãnh đạo, hay nam giới không có khả năng chăm sóc con cái. Chính định kiến đó đã hạn chế phụ nữ hoặc nam giới tham gia vào những công việc mà họ có khả năng hoàn thành một cách dễ dàng. Các định kiến giới hiện nay không chỉ gây bất lợi cho phụ nữ mà ngay cả nam giới cũng bị bất lợi, như hạn chế cơ hội của nam giới tham gia vào công việc chăm sóc gia đình hay lựa chọn một hành vi lành mạnh là không hút thuốc hay không uống nhiều rượu. Một trong những định kiến giới biểu hiện khá rõ là gắn phụ nữ với vai trò gia đình, coi việc nội trợ, chăm sóc gia đình, nuôi dạy con cái là của phụ nữ. Đáng chú ý là, hiện nay nhiều người đang cổ suý cho tư tưởng đưa phụ nữ quay trở về với gia đình. Từ suy nghĩ đó nhiều phụ nữ đã bị hạn chế trên con đường học tập, lao động, phấn đấu và vươn lên trong sự nghiệp, giảm khả năng đóng góp nhiều hơn về sức lực và trí tuệ cho xã hội. Nhìn bề ngoài của cuộc sống hầu như thấy rằng phụ nữ đã được “lên ngôi”, họ được bình đẳng lắm rồi. Trong tư tưởng của nam giới, với tư cách là người chồng, có lẽ cũng khá nhiều người ủng hộ vợ tham gia hoạt động xã hội. Nhưng không ít nam giới cho phép vợ “thoải mái” tham gia công việc xã hội nhưng vẫn phải làm tốt việc nhà. Đàn ông Việt Nam có định kiến giới gì đâu! Nhưng vấn đề là họ muốn vợ của họ vừa là người xuất sắc ở cơ quan, vừa là người bà, người mẹ chăm chỉ trong gia đình. Trong tình hình hiện nay, do yêu cầu công việc, nhiều phụ nữ phải đầu tư nhiều thời gian mới nâng cao được chuyên môn, nghiệp vụ. Nếu chỉ cần có thêm một ít thời gian trong ngày công việc của họ sẽ tốt hơn, có thể đem lại rất nhiều lợi ích cho nhiều người. Nếu vừa làm tốt bổn phận trong gia đình vừa làm tốt công việc xã hội thì như vậy, nhiều phụ nữ phải gánh vác gấp đôi trách nhiệm, bởi họ không những làm việc để kiếm thu nhập, mà còn là người chủ yếu đảm đương các vai trò làm mẹ, làm vợ trong gia đình. Nếu xét tương quan thời gian lao động trong một ngày giữa phụ nữ và nam giới cho thấy, thời gian lao động của phụ nữ nhiều hơn, bởi họ phải làm các công việc gia đình nhiều hơn (thời gian làm việc trung bình của phụ nữ là 13 giờ/ngày trong khi của nam giới chỉ khoảng 9 giờ). Do vậy, phụ nữ ít có thời gian để học tập, nghỉ ngơi, giải trí và tham gia hoạt động xã hội so với nam giới. Gánh nặng công việc gia đình đã làm cho nhiều phụ nữ không thể vươn xa trong sự nghiệp. Chúng ta đều biết ở thời kỳ CNH – HĐH và hội nhập kinh tế quốc tế, cũng như nam giới, phụ nữ cần phải có kiến thức chiều sâu, trình độ ngoại ngữ, tin học, sự nhạy bén và lăn lộn thực tế cuộc sống... Trong khi đó, công việc gia đình vẫn là trách nhiệm nặng nề của người phụ nữ. Và cũng chính vì vậy mà hậu quả là nhiều người phụ nữ giỏi giang, được học hành tử tế đã phải nhường bước cho chồng và lui về chăm sóc gia đình, để giữ tròn hạnh phúc. Vì những lý do gia đình mà nhiều phụ nữ chấp nhận tụt hậu, hoặc phấn đấu có chừng mực, chỉ ở mức độ hoàn thành công việc. Đó cũng là lý do cùng được đào tạo như nhau mà nam giới phát triển tốt hơn, có vị trí cao hơn, được học hành đào tạo chuyên môn cao hơn. Đó cũng là nguyên nhân tụt hậu của giới nữ trong giáo dục, đào tạo, trong khoa học, công nghệ và cả trong lãnh đạo và quản lý. Tại không ít tổ chức, cơ quan, một số phụ nữ không được đề bạt làm lãnh đạo (ngay cả khi người phụ nữ này có trình độ và kinh nghiệm phù hợp) bởi mọi người vẫn cho rằng, chỉ có nam giới mới nên làm việc “đại sự”, phụ nữ thì chỉ nên làm việc công việc nhẹ nhàng để có thời gian dành cho gia đình. Tư tưởng này không chỉ ở người dân, mà cả trong lãnh đạo, và đặc biệt ngay cả trong một bộ phận phụ nữ cũng có định kiến với giới nữ của mình. Ngoài hiện tượng níu kéo áo nhau ở một số phụ nữ, thì vấn đề ở đây vẫn là do định kiến giới, coi nam giới ở vị trí lãnh đạo tốt hơn là phụ nữ nên trong các kỳ bầu cử, những người gạt phụ nữ khỏi danh sách bầu cử có khi không phải là nam, mà lại là nữ. Không ủng hộ phụ nữ làm công tác xã hội là một trong những nguyên nhân dẫn tới tỷ lệ phụ nữ tham gia lãnh đạo, quản lý còn thấp, chưa tương xứng với năng lực và sự phát triển của lực lượng lao động nữ. Phụ nữ chiếm tỷ lệ không thua kém trong nhiều ngành nghề và học tập trong các trường, lớp đào tạo (đại học 47,23%; cao đẳng 50,01%), nhưng số nữ tham gia lãnh đạo, quản lý đạt tỷ lệ thấp. Nữ lãnh đạo, quản lý ở cấp Trung ương, cấp vụ trở lên và cán bộ nữ chủ chốt cấp tỉnh hiện nay hầu hết ở độ tuổi trên 50; tỷ lệ cán bộ nữ cấp phòng ở huyện, quận giảm... tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội khóa XII thấp hơn tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội khóa XI (khóa XI là 27,31%, khóa XII là 25,76%). Công việc gia đình và thiên chức làm mẹ cũng gây bất lợi cho phụ nữ trong tuyển dụng lao động. Theo Sở LĐ &TBXH TP Hà Nội, cho biết, trong hàng trăm doanh nghiệp ở Hà Nội, từ đầu năm đến nay, chỉ có 4 trong số hàng trăm doanh nghiệp đăng ký sử dụng nhiều lao động nữ. Đó mới chỉ là đăng ký. Vì nhận một phụ nữ vào làm, sự đóng góp của phụ nữ cho lợi nhuận của doanh nghiệp chưa thấy đâu đã thấy phải chi ra rất nhiều thứ như, chế độ thai sản, giờ cho con bú, xây nhà vệ sinh ... Chính vì điều này mà ngay cả chủ doanh nghiệp là nữ cũng rất ngại khi nhận lao động nữ. Mặc dù ở những xí nghiệp đông lao động nữ, doanh nghiệp đó được miễn giảm thuế thu nhập và được tiếp cận các nguồn vốn ưu đãi. Nhưng vấn đề miễn, giảm thuế và tiếp cận vốn ưu đãi không phải doanh nghiệp nào cũng biết được thủ tục để tiếp cận. Trong mục tuyển dụng lao động đăng trên các báo cho thấy, nhiều công ty chỉ tuyển lao động nam mặc dù công việc đó cũng phù hợp với phụ nữ, hoặc có những thông báo tuyển dụng cùng một công việc như nhau, ngành học nhưnhau, nhưng yêu cầu đối với nữ phải có bằng tốt nghiệp loại khá, giỏi, cònnam chỉ cần tốt nghiệp loại trung bình. Một số giải pháp nâng cao bình đẳng giới trong quan lí ở Việt Nam. Một là, nâng cao nhận thức về bình đẳng giới cho người dân, cộng đồng và xã hội thông qua công tác tuyên truyền về giới góp phần thay đổi nhận thức về giới. Những hình ảnh phụ nữ gắn với vai trò xã hội, nam giới làm công việc gia đình đang dần làm thay đổi nhận thức trong công chúng rằng, nam hoặc nữ đều có thể làm bất cứ công việc gì phù hợp với khả năng của họ nhằm đáp ứng nhu cầu của xã hội mà không có sự phân định rõ ràng cho một giới nào khác. Từ nhận thức giới được thay đổi thông qua hình tượng giới, hành vi giới sẽ thay đổi dần theo hướng tiến bộ bình đẳng nam nữ. Một mặt chúng ta khẳng định khả năng trí tuệ của hai giới như nhau nhưng mặt khác chúng ta cũng thừa nhận sự khác biệt về giới tính để đưa phụ nữ vào đúng vị trí, làm tốt chức năng của mình. Phụ nữ ngày nay trong xu thế phát triển sẽ ngày càng bộc lộ những phẩm chất mới. Tất cả những phẩm chất ấy cần được phát huy, nếu không bị định kiến trói buộc thì sẽ trở thành sự tiến bộ, phát triển và họ sẽ đóng góp được rất nhiều cho sự phát triển của đất nước. Hai là, để có thể phát huy được vai trò và khả năng của phụ nữ, các dịch vụ xã hội dành cho gia đình cần được phát triển một cách rộng rãi và phù hợp với thu nhập để phụ nữ dễ dàng được tiếp cận. Tạo điều kiện cho phụ nữ đầu tư sản xuất, kinh doanh, cải thiện thu nhập, có tiếng nói trong gia đình và từ đó ít lệ thuộc hơn vào người chồng. Khắc phục về cơ bản tình trạng bất bình đẳng trong một số lĩnh vực như: quyền sử dụng đất, sở hữu nhà ở, các phúc lợi xã hội, chế độ bảo hiểm … Ba là, phụ nữ cần được giảm bớt gánh nặng gia đình. Muốn vậy, không chỉ chia sẻ, nam giới cần phải tham gia vào công việc gia đình cùng với phụ nữ. Tuy nhiên, trong khi bình đẳng giới đang là một quá trình thì việc nam giới chia sẻ công việc gia đình với phụ nữ cũng có một ý nghĩa to lớn. Chính sự chia sẻ và cảm thông của người chồng đã làm cho nhiều người phụ nữ đạt được thành công trong sự nghiệp. Bốn là, lãnh đạo ở những cơ quan, đơn vị có nhiều phụ nữ cần được nâng cao nhận thức giới để từ đó có được công bằng giới trong tuyển dụng, đào tạo, đề bạt. Đặc biệt, trên phạm vi toàn xã hội, cần tạo điều kiện để người phụ nữ có thời gian làm công việc gia đình, không nên coi phụ nữ cũng như nam giới trong việc phân công, đòi hỏi, yêu cầu mà không tính đến việc người phụ nữ phải thực hiện thiên chức làm mẹ. Năm là, đối với bản thân phụ nữ, cũng cần có sự kết hợp hài hòa chức năng xã hội và gia đình. Bởi đây là nét đặc trưng của phụ nữ nước ta. Là phụ nữ thường phải có gia đình, phải sinh con và nuôi dạy con. Đối với phụ nữ, dung hòa giữa gia đình và công việc xã hội là điều không mấy dễ dàng. Tuy nhiên đã có nhiều phụ nữ biết cách giải quyết tốt hai chức năng này và đã trở thành người mẹ hiền, vợ đảm, lại là nhà quản lý giỏi, nhà khoa học thành đạt. Kinh nghiệm của họ mà nhiều phụ nữ cần học tập là, cố gắng thu xếp một cách khoa học để vừa có thời gian cho gia đình, vừa hoàn thành tốt công việc xã hội. Các giải pháp trên đây tưởng chừng không khó lắm khi thực hiện, nhưng thực sự đây là cả một vấn đề đòi hỏi phải có sự thống nhất cao trong tư tưởng và hành động của các nhà hoạch định chính sách, lãnh đạo, quản lý, của người dân, đặc biệt của cả nam và nữ. Bởi vì, như Bác Hồ đã từng nói, trọng trai, khinh gái là thói quen mấy ngàn năm để lại, nó ăn sâu trong nếp nghĩ việc làm của người dân…, giải phóng phụ nữ đó là cuộc cách mạng to và khó. Bottom of Form PHẦN III. KẾT LUẬN – KIẾN NGHỊ 1. KẾT LUẬN Bình đẳng giới đã mở ra cơ hội cho phụ nữ phát huy sáng tạo, đóng góp công sức, trí tuệ cho đất nước. Tuy nhiên, bên cạnh những kế quả bước đầu, do nhiều nguyên nhân, công tác bình đẳng giới vẫn còn nhiều bất cập. Nhận thức, thái độ và hành vi mang tính định kiến giới vẫn tồn tại ngay trong cán bộ công chức. Khoảng cách giữa quy định của pháp luật về bình đẳng giới với việc thực thi còn khá lớn, nhiều cán bộ vẫn lúng túng trong việc lồng ghép giới vào các lĩnh vực đang quản lý hoặc đang thực hiện. Chênh lệch về tỷ lệ nam nữ tham gia quản lý, lãnh đạo ở các cấ

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docphu_nu_viet_nam_tham_gia_lanh_dao_quan_ly_7928.doc
Tài liệu liên quan