Đề tài Xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ với hội nhập kinh tế quốc tế, thời cơ và thách thức

MỤC LỤC

 

Trang

LỜI GIỚI THIỆU 1

LỜI CẢM ƠN 2

CHƯƠNG I: PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT VỀ MỐI LIÊN HỆ PHỔ BIẾN 3

1. Phép biện chứng duy vật là khoa học về mối liên hệ phổ biến 3

1.1. Phép biện chứng duy vật 3

1.2. Nội dung của phép biện chứng duy vật 3

2. Một trong hai nguyên lý của phép biện chứng: Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến 4

2.1. Khái niệm 4

2.2. Nội dung nguyên lý 4

2.3. Ý nghĩa của nguyên lý 4

3. Tại sao phải vận dụng phép duy vật biện chứng về mối lien hệ phổ biến vào phân tích mối liên hệ giữa xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ với hội nhập kinh tế quốc tế 5

CHƯƠNG II: XÂY DỰNG NỀN KINH TẾ ĐỘC LẬP TỰ CHỦ VỚI HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ. THỜI CƠ VÀ THÁCH THỨC. 7

I. Xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ 7

1.1. Thế nào là nền kinh tế độc lập tự chủ 8

1.2. Thực trạng nền kinh tế nước ta hiện nay 9

1.3. Khó khăn và thử thách khi xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ 12

2. Hội nhập kinh tế quốc tế 14

2.1. Thế nào là hội nhập kinh tế quốc tế 14

2.2. Bối cảnh quốc tế và khu vực liên quan tới chủ trương hội nhập kinh tế quốc tế ở nước ta 14

2.3. Những kết quả đạt được khi Việt Nam tham gia quá trình hội nhập kinh tế quốc tế 16

2.4. Những mặt yếu kém và tồn tại khi Việt Nam tham gia vào quá trình hội nhập kinh tế quốc tế 18

CHƯƠNG III: NHỮNG GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ 21

1. Đường lối xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ 21

1.1. Mục tiêu 21

1.2. Một số điều kiện xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ 21

2. Đường lối hội nhập kinh tế quốc tế 24

2.1. Mục tiêu của hội nhập kinh tế quốc tế 24

2.2. Những quan điểm chỉ đạo trong quá trình hội nhập 24

2.3. Một số nhiệm vụ cụ thể trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế 25

KẾT LUẬN 29

MỤC LỤC 30

TÀI LIỆU THAM KHẢO 32

 

 

doc33 trang | Chia sẻ: maiphuongdc | Ngày: 30/08/2013 | Lượt xem: 1174 | Lượt tải: 7download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đề tài Xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ với hội nhập kinh tế quốc tế, thời cơ và thách thức, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
à 20%. Các ngành dịch vụ đã tăng trởng nổi bật trong các ngành thơng mại, du lịch, bu chính viễn thông. Giá trị hàng hóa bán ra trên thị trờng trong nớc năm 1999 đã gấp 11,3 lần năm 1990. Khách du lịch quốc tế từ 1992 đến 1997 đã tăng bình quân hàng năm là 26,5%. Mật độ điện thoại năm 1999 đã tăng 13,8 so với năm 1991 và là nớc có tốc độ phát triển viễn thông đứng thứ hai thế giới. Vận chuyển hàng hoá tăng bình quân trong 10 năm qua là 9,2%, vận chuyển hành khách - 14,25%. Hoạt động xuất khẩu cũng có mức tăng trởng nổi bật. Tổng kim ngạch xuất khẩu 10 năm qua đã tăng bình quân hàng năm 18,2%, tăng gấp 5,3 lần so với năm 1990. Tốc độ tăng trởng giá trị nhập khẩu bình quân hàng năm 10 năm qua là 17,5%. Tổng giá trị xuất nhập khẩu năm 2000 đã tơng đơng tổng GDP. Vốn đầu t trực tiếp nớc ngoài (FDI) đã tăng rất đáng kể. Tính đến quý I năm 1999 đã có 2624 dự án đợc cấp giấy phép đầu t với tổng vốn đăng ký là 35,8 tỷ USD, nếu tính cả vốn bổ sung là 40,3 tỷ USD. Trong 10 năm qua, vốn FDI đã chiếm khoảng 28% tổng vốn đầu t toàn xã hội. Thứ hai, cơ cấu kinh tế đã có những chuyển biến tích cực. Tỷ trọng nông, lâm, ng nghiệp trong GDP đã giảm từ 38,7% năm 1990 xuống còn 25,4% năm 1999; công nghiệp và xây dựng đã tăng từ 22,6% lên 34,9%; dịch vụ từ 35,7 lên 40,1%. Trong nông nghiệp, cơ cấu cây trồng và vật nuôi đợc dịch chuyển theo hớng tăng tỷ trọng một số cây công nghiệp và ăn quả có tiềm năng xuất khẩu và sức cạnh tranh quốc tế nh cà phê, điều, chè, tiêu, rau quả, cao su..., tốc độ phát triển chăn nuôi tăng nhanh hơn trồng trọt. Trong công nghiệp, các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao đã đợc xây đựng, nhiều ngành công nghiệp mới đã đợc hình thành nh ô tô, xe gắn máy, điện tử... Các ngành dịch vụ phát triển, đặc biệt là ngành bu chính viễn thông, du lịch, thơng mại... đã nâng đợc tỷ trọng lên trên 40% GDP. Cơ cấu vùng kinh tế đã thay đòi theo hớng tập trung phát triển ba vùng trọng điểm - Hồ Chí Minh - Vũng Tàu, Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh, Đà Nẵng - Quảng Ngãi, đồng thời đã dành sự quan tâm cần thiết tới những miền núi, vùng xa, vùng sâu, những xã nghèo. Cơ cấu vốn đầu t phát triển đã chuyển từ u tiên phát triển công nghiệp nặng sang u tiên nhiều hơn cho phát triển nông nghiệp, nông thôn, phát triển kết cấu hạ tầng, các ngành xuất khẩu, các lĩnh vực giáo dục, y tế, xã hội. Trong thời kỳ 1991-2000, vốn đầu t cho nông nghiệp và nông thôn tăng bình quân hàng năm là 22,9%, vốn đầu t phát triển cho kết cấu hạ tầng giao thông vận tải, thông tin liên lạc đã tăng bình quân hàng năm là 24,5%, vốn đầu t phát triển cho các ngành công nghiệp tăng bình quân hàng lăm là 27,1%, vốn đầu t cho lĩnh vực khoa học công nghệ giáo dục, đào tạo, y tế và văn hoá đã tăng bình quân hàng năm là 23,6%. Thứ ba, các vấn đề xã hội bức xúc đã có những chuyển biến tích cực. Mức sống của dân c cả thành thị và nông thôn nhìn chung đã đợc cải thiện một bớc rõ rệt thể hiện trên các mặt: GDP theo đầu ngời: trong 10 năm qua đã tăng 1,8 lần thu nhập bình quân mỗi ngời 1 tháng đã tăng 3,2 lần. Số học sinh đi học các cấp học khác nhau từ tiểu học đến đại học đã tăng khoảng 2,3 - 4,3 lần trong 10 năm qua; chỉ số HDI đã đợc nâng lên từ thứ 122/174 nớc năm 1995 lên 110/174 nớc năm 1999. Tỷ lệ tăng dân số năm 1988 là 2,28% đã giảm xuống còn 1,53% năm 2000; năm 1998 Việt Nam đã đợc Liên hợp quốc tặng giải thởng về công tác dân số. Công tác chăm sóc sức khỏe của nhân dân đã có nhiều tiến bộ. Năm 1990 tỷ lệ trẻ dới 5 tuổi bị suy dinh dỡng là hơn 50% tỷ lệ chết của trẻ em dới 1 tuổi là 46%, dới 5 tuổi là 69,5%, tuổi thọ trung bình là 64, chiều cao trung bình của thanh niên là 1,6m. Đến năm 1998 các chỉ tiêu tơng ứng trên đây đã đợc cải thiện rõ rệt: 38,9%; 39%, 48,5%, 68 tuổi; 1,62m. Số hộ đói nghèo đã giảm rõ rệt từ 30,0% năm 1992 xuống còn 10,6% năm 2000. Đến cuối năm 1998 cả nớc đã có 15 tỉnh thành phố có tỷ lệ hộ đói nghèo dới 10%; 21 tỉnh có tỷ lệ đói nghèo khoảng 11 - 19%. 1.3. Khó khăn và thử thách khi xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ Cơ bản nền kinh tế Việt Nam hiện nay lạc hậu về khoa học kỹ thuật nhiều chục năm so với các nước công nghiệp phát triển. Sản xuất, xuất khẩu của ta chủ yếu gồm các nông khoáng sản thô và các mặt hàng công nghiệp thứ cấp, khi sản xuất phải nhập khẩu máy và vật tư phụ tùng, nông nghiệp lệ thuộc vào phân bón, xăng dầu, thuốc sâu, nông cơ; công nghiệp lệ thuộc vào máy vật tư, linh kiện rời. Các nông khoáng sản thô như gạo, cao su, cà phê, hàng thuỷ sản, than đá - dầu thô, và các mặt hàng thứ cấp khác: hàng may mặc và giầy dép là những mặt hàng xuất khẩu chủ yếu Việt Nam vấp phải sự cạnh tranh rất mạnh của các nước kém mở mang khác, các hạn định quota nhập khẩu của nước ngoài, giá cả bấp bênh và có khuynh hướng giảm, thị trường hạn chế. Trong nhiều năm, gạo, cà phê, cao su, hàng may mặc của Việt Nam không xuất khẩu được hết trên thị trường thế giới, khiến cho giá sụt và làm giảm thu nhập của công nhân, nông dân trong các ngành liên quan. Trong khi đó, nhập khẩu lại hướng về máy, các vật tư, linh kiện rời giá đắt và các hàng tiêu dùng cao cấp giá rất đắt. Tình hình này làm cho vị thế của ta trên thị trường quốc tế yếu đi và dẫn đến nhiều nguy cơ lớn về kinh tế tài chính. Thứ nhất là nguy cơ bán rẻ như cho và mua phải trả giá cao, tỷ lệ giao hoán bất lợi, xuất phát từ việc xuất khẩu nông khoáng sản thô giá rẻ và nhập khẩu hàng cao cấp giá cao. Sự thiệt thòi triền miên năm này qua năm khác mỗi năm ước hàng nhiều tỷ USD khiến cho nước ta nghèo càng nghèo thêm. Thứ hai là nguy cơ siêu đưa đến thâm thủng cán cân thương mại buộc phải vay tiền nước ngoài. Trong các năm 1995 dến 95 chúng ta nhập siêu trên dưới 3 tỷ USD, nợ quốc tế tăng khoảng 2-3 tỷ USD/năm để trám vào thâm thủng của cán cân thương mại và các chi phí khác về ngoại tệ. Thứ ba là nợ quốc tế tăng gia với tốc độ nhanh hàng năm đưa đến tình hình nợ đáo hạn và vốn lời phải trả mỗi năm mỗi tăng. Muốn trả nợ quốc tế, chỉ có 2 phương pháp: (a) xuất siêu để có dư cân thương mại để trả nợ, (b) hoặc vay nợ mới để có ngoại tệ trả nợ cũ. Trong thập niên 90, chúng ta không có xuất siêu vậy phải áp dụng biện pháp vay nợ mới trả nợ cũ, cả vốn lẫn lãi, khiến cho nợ quốc tế tăng gia nhanh theo định luật lãi kép. Nợ quốc tế, nếu ước hơn 15 tỷ USD thì bằng đến khoảng 50% GDP của nước ta, ước khoảng 30 tỷ USD. Nợ quốc tế tăng, đến một mức nào đó, có thể dẫn đến tình hình khủng hoảng tài chính - tiền tệ như đã xảy ra tại Thái Lan. Khi ấy, cơ quan tiền tệ quốc tế đã đề nghị với Thái Lan những biện pháp "trọn gói" trong đó có nhiều biện pháp mà Thái Lan cho rằng vi phạm nền độc lập tự chủ kinh tế quốc gia, nhưng sau đó chính phủ Thái Lan đã buộc phải nhận. Tình hình nợ quốc tế của nước ta so với Thái Lan ít hơn nhiều, nhưng bài học Thái Lan cho thấy là nợ quốc tế tăng có thể đưa đến việc ngân hàng trung ương không còn khả năng thanh toán quốc tế, đặc biệt là các trang trải nhập khẩu thông thường và lúc bấy giờ sẽ xảy ra khủng hoảng tài chính, tiền tệ. Thứ tư: hội nhập quốc tế giúp Việt Nam tranh thủ kỹ thuật, khoa học, vốn quốc tế. Tuy nhiên các công ty nước ngoài chỉ đầu tư ở Việt Nam nếu họ có lợi. Như vậy, chúng ta ở trong thế yếu, chỉ có khả năng hạn chế họ bớt lợi mà thôi, nhưng nếu đầu tư mà chỉ thu được lợi ít, họ sẽ ngưng hay giới hạn lượng đầu tư. Kinh nghiệm chó thấy, trong thập niên 90, những thiết bị được đầu tư ở Việt Nam, thường là những thiết bị cũ, thị phần các doanh nghiệp Việt Nam giảm nhanh trong khi thị phần các công ty có vốn nước ngoài tăng nhanh, nhiều công ty phía Việt Nam có phần hùn khoảng 30% nhờ phần đóng góp mặt bằng, nhà đất đã chuyển thành công ty có vốn nước ngoài 100%do nhiều lý do, trong số có lý do phía nước ngoài đề nghị tăng vốn nhưng bên Việt Nam không có khả năng đáp ưúng. Nếu tình hình này tiếp tục, người nước ngoài sẽ làm chủ dần dần hầu hết các doanh nghiệp lớn ở Việt Nam, khi ấy, sẽ khó giữ được độc lập tự chủ kinh tế quốc gia. Sự phối hợp 4 nguy cơ trên có khả năng đưa đến tình hình mất độc lập tự chủ kinh tế, tài chính, tiền tệ, gây ra tình cảnh lệ thuộc vào nước ngoài. Đồng chí TBT đã xác định là độc lập tự chủ kinh tế là nền tảng cơ bản bảo đảm sự bền vững của độc lập tự chủ về chính trị, do đó cần phải có biện pháp xây dựng nền kinh tế tự chủ và chủ động trong việc hội nhập vào kinh tế quốc tế. 2. Hội nhập kinh tế quốc tế 2.1. Thế nào hội nhập kinh tế quốc tế: Ngày nay hội nhập kinh tế đang diễn ra mạnh mẽ trên mọi châu lục, chi phối đời sống kinh tế mọi quốc gia. Hội nhập kinh tế quốc tế là hiện tượng xảy ra trong quan hệ giữa các quốc gia. Cách hiểu phổ biến nhất hiện nay về hội nhập kinh tế là xoá bỏ sự khác biệt kinh tế giữa những nền kinh tế thuộc các quốc gia khác nhau. 2.2. Bối cảnh quốc tế và khu vực liên quan tới chủ trương hội nhập kinh tế quốc tế ở nước ta: Đại hội lần thứ VIII của Đảng đó xỏc định nhiệm vụ "mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại, chủ động tham gia cỏc tổ chức quốc tế và khu vực, củng cố và nõng cao vị thế nước ta trờn trường quốc tế". Đại hội lần thứ IX khẳng định chủ trương "phỏt huy cao độ nội lực, đồng thời tranh thủ nguồn lực bờn ngoài và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế để phỏt triển nhanh, cú hiệu quả và bền vững". Chủ trương hội nhập được đề ra trong bối cảnh tỡnh hỡnh thế giới và khu vực diễn biến nhanh chúng, phức tạp, khú lường trước về chớnh trị, kinh tế, văn húa, xó hội và khoa học - kỹ thuật, với những đặc điểm nổi bật sau : 2.2.1. Trong hơn một thập kỷ qua, kinh tế thế giới nhỡn chung phỏt triển khụng ổn định và khụng đồng đều, về tốc độ thấp hơn thập kỷ trước (trờn 2%/năm so với 3,2%) ; đó xảy ra mấy cuộc khủng hoảng lớn, sõu rộng hơn cả là cuộc khủng hoảng kinh tế - tài chớnh nổ ra năm 1997 ; vị trớ cỏc nước và cỏc khu vực thay đổi theo hướng : kinh tế Mỹ phỏt triển nhanh và ổn định liờn tục trong nhiều năm và đến 2002 bắt đầu suy giảm ; kinh tế Tõy Âu hiện khụng cũn phỏt triển nhanh như cỏc thập kỷ trước ; kinh tế Nhật suy thoỏi chưa cú lối ra ; cỏc nước thuộc Liờn Xụ trước đõy và Đụng Âu rơi vào tỡnh trạng suy thoỏi trầm trọng và kộo dài ; vài năm gần đõy đó tăng trưởng tương đối khỏ ; trong khi đú kinh tế Trung Quốc phỏt triển "ngoạn mục" ; Đụng Á và Đụng - Nam Á phỏt triển nhanh vào bậc nhất thế giới trong những thập kỷ trước, vừa qua đó rơi vào suy thoỏi và nay đang hồi phục ; Nam Á và nhất là chõu Phi vẫn chưa thoỏt khỏi tỡnh trạng trỡ trệ kộo dài ; kinh tế Mỹ La-tinh cú khỏ hơn song cũng khụng ổn định. "Cỏch mạng khoa học và cụng nghệ tiếp tục phỏt triển với tốc độ ngày càng cao, tăng nhanh lực lượng sản xuất, đồng thời thỳc đẩy quỏ trỡnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế thế giới, quốc tế húa nền kinh tế và đời sống xó hội". Dưới tỏc động của những chiều hướng đú, kinh tế thế giới trải qua những biến đổi về chất, cỏc ngành cụng nghệ cao, đặc biệt là những lĩnh vực cú hàm lượng chất xỏm cao, nhất là cụng nghệ thụng tin và sinh học phỏt triển nhanh chúng làm thay đổi sõu sắc cơ cấu sản xuất, tiờu dựng, trao đổi... cũng như phương thức làm ăn và cả sinh hoạt, giao lưu. 2.2.2. Xu thế toàn cầu húa và khu vực húa phỏt triển ngày càng nhanh Vũng đàm phỏn U-ru-goay kết thỳc, Hiệp định Ma-ra-kột được ký kết, Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) ra đời từ 01- 01-1995 thu hỳt tới 136 và nay là 144 quốc gia và lónh thổ, chiếm gần 100% kim ngạch buụn bỏn quốc tế, theo hướng giảm mạnh hàng rào quan thuế và phi quan thuế, mở cửa thị trường hàng húa, đầu tư, dịch vụ ... Bờn cạnh sự ra đời của WTO, xuất hiện rất nhiều tổ chức tiểu vựng, khu vực, liờn khu vực như cỏc tam, tứ giỏc phỏt triển, cỏc khu vực mậu dịch tự do (AFTA, NAFTA), những tổ chức liờn kết toàn chõu lục (EU) hoặc giữa cỏc chõu lục (APEC). Cỏc nước lớn, nhỏ đều dành ưu tiờn cho phỏt triển kinh tế, theo đuổi chớnh sỏch kinh tế mở. Ngay những nước cú tiềm năng và thị trường rộng lớn như Trung Quốc, Nga, Ấn Độ, Mỹ... và cả một số nước vốn "khộp kớn", theo mụ hỡnh tự cung tự cấp cũng dần dần mở cửa, từng bước hội nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới. Mặt khỏc, cộng đồng thế giới đứng trước nhiều vấn đề toàn cầu : suy thoỏi mụi trường, bựng nổ dõn số, nghốo đúi, cỏc bệnh tật hiểm nghốo, cỏc vấn đề xó hội "xuyờn quốc gia"..., khụng một quốc gia riờng lẻ nào cú thể giải quyết được mà cần phải cú sự hợp tỏc đa phương. Tỡnh hỡnh trờn làm nảy sinh và thỳc đẩy xu thế hội nhập để phỏt triển. Trong xu thế chung đú, cỏc nước cụng nghiệp phỏt triển, trước hết là Mỹ, do cú ưu thế về thị trường, nắm được tiến bộ khoa học - cụng nghệ, cú nền kinh tế phỏt triển cao, đó ra sức thao tỳng, chi phối thị trường thế giới, ỏp đặt điều kiện đối với cỏc nước chậm phỏt triển hơn, thậm chớ dựng những biện phỏp thụ bạo như bao võy, cấm vận, trừng phạt, làm thiệt hại lợi ớch của cỏc nước đang phỏt triển và chậm phỏt triển. Trước tỡnh hỡnh đú, cỏc nước đang phỏt triển đó từng bước tập hợp nhau lại, đấu tranh chống chớnh sỏch cường quyền ỏp đặt của Mỹ để bảo vệ lợi ớch của mỡnh vỡ một trật tự kinh tế quốc tế bỡnh đẳng, cụng bằng. Điều đú chứng tỏ xu thế hội nhập phản ỏnh cục diện vừa đẩy mạnh hợp tỏc, vừa đấu tranh khốc liệt. 2.2.3. Ở khu vực Đụng-Nam Á đó diễn ra nhiều biến đổi sõu sắc. Sau nhiều thập kỷ chiến tranh, đối đầu, Đụng-Nam Á đó cú hũa bỡnh, tuy cũn tiềm ẩn một số nhõn tố cú thể gõy bất ổn định, xu thế hợp tỏc để phỏt triển khụng ngừng gia tăng. Mặc dự trải qua cuộc khủng hoảng kinh tế - tài chớnh trầm trọng thời gian 1997-1998, song đõy vẫn là khu vực cú nhiều tiềm năng do vị trớ địa - chớnh trị và địa - kinh tế của mỡnh, dung lượng thị trường lớn, tài nguyờn phong phỳ, lao động dồi dào, được đào tạo tốt, cú quan hệ quốc tế rộng rói. Toàn bộ tỡnh hỡnh trờn đem lại nhiều thuận lợi to lớn, đồng thời cũng đặt ra nhiều thỏch thức gay gắt đối với nước ta trong quỏ trỡnh phỏt triển đất nước núi chung và quỏ trỡnh hội nhập kinh tế quốc tế núi riờng. 2.3. Những kết quả đạt được khi Việt Nam tham gia quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Quỏ trỡnh hội nhập với nền kinh tế quốc tế, mở rộng kinh tế đối ngoại thời gian qua đó mang lại cho chỳng ta những kết quả quan trọng : 2.3.1. Chỳng ta đó làm thất bại chớnh sỏch bao võy cấm vận, cụ lập nước ta của cỏc thế lực thự địch, tạo dựng được mụi trường quốc tế, khu vực thuận lợi cho cụng cuộc xõy dựng và bảo vệ Tổ quốc, nõng cao vị thế nước ta trờn chớnh trường và thương trường thế giới. 2.3.2. Khụng những chỳng ta đó khắc phục được tỡnh trạng khủng hoảng thị trường do Liờn Xụ và hệ thống xó hội chủ nghĩa thế giới tan ró gõy nờn, mà cũn mở rộng được thị trường xuất nhập khẩu. Trong quỏ trỡnh hội nhập, chỳng ta đó nhanh chúng mở rộng xuất nhập khẩu, thỳc đẩy sản xuất trong nước phỏt triển, tạo thờm việc làm, tăng thu ngõn sỏch. Nếu năm 1990 kim ngạch xuất khẩu mới đạt 2,404 tỷ USD và nhập khẩu 2,752 tỷ USD thỡ năm 2001, kim ngạch xuất khẩu đó đạt 15,1 tỷ USD (nếu tớnh cả dịch vụ thỡ đạt 17,6 tỷ USD, tăng trung bỡnh trờn 20% mỗi năm, cú năm tăng 30% ; riờng năm 2001 do ảnh hưởng của tỡnh hỡnh kinh tế khú khăn trờn thế giới và ở khu vực và giỏ cả cỏc mặt hàng xuất khẩu chủ yếu giảm mạnh, nờn xuất khẩu chỉ tăng gần 5%. 2.3.3. Thu hỳt được một nguồn lớn đầu tư trực tiếp của nước ngoài (FDI), bổ sung cho nguồn vốn trong nước, kết hợp nội lực với ngoại lực, tạo được những thành tựu kinh tế to lớn, quan trọng. Thỏng 12-1987, chỳng ta đó ban hành Luật Đầu tư trực tiếp nước ngoài. Từ đú đến nay đó thu hỳt được trờn 42 tỷ USD vốn đầu tư, với trờn 3 000 dự ỏn, đó thực hiện khoảng 21 tỷ USD trong số đú. Nguồn đầu tư trực tiếp của nước ngoài giữ một vị trớ quan trọng trong nền kinh tế nước ta : gần 30% vốn đầu tư xó hội, 35% giỏ trị sản xuất cụng nghiệp, 20% xuất khẩu, giải quyết việc làm cho khoảng 40 vạn lao động trực tiếp và hàng chục vạn lao động giỏn tiếp. 2.3.4. Tranh thủ được nguồn viện trợ phỏt triển chớnh thức (ODA) ngày càng lớn, đồng thời giảm đỏng kể nợ nước ngoài. Từ năm 1993, hằng năm đều cú hội nghị cỏc nhà tài trợ cho nước ta gồm một số nước và một số định chế tài chớnh - tiền tệ quốc tế. Cho đến nay, cỏc nhà tài trợ đó cam kết dành cho nước ta gần 20 tỷ USD, chủ yếu là cho vay ưu đói với lói suất từ 0,75% đến 2,5% tựy theo mỗi đối tỏc ; một phần là viện trợ khụng hoàn lại. 2.3.5. Tiếp thu khoa học và cụng nghệ, kỹ năng quản lý, gúp phần đào tạo một đội ngũ cỏn bộ quản lý và cỏn bộ kinh doanh năng động, sỏng tạo. Quỏ trỡnh hội nhập vào nền kinh tế quốc tế đó tạo cơ hội để Việt Nam tiếp cận với những thành quả của cuộc cỏch mạng khoa học - cụng nghệ đang phỏt triển mạnh mẽ trờn thế giới. Nhiều cụng nghệ và dõy chuyền sản xuất hiện đại được sử dụng đó tạo nờn bước phỏt triển mới trong cỏc ngành sản xuất. Đồng thời, thụng qua cỏc dự ỏn liờn doanh hợp tỏc với nước ngoài, cỏc doanh nghiệp Việt Nam đó tiếp nhận được nhiều kinh nghiệm quản lý tiờn tiến. 2.3.6. Từng bước đưa hoạt động của cỏc doanh nghiệp và cả nền kinh tế vào mụi trường cạnh tranh, thỳc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nõng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh. Trong quỏ trỡnh hội nhập kinh tế quốc tế, mở rộng kinh tế đối ngoại, nhiều doanh nghiệp đó nỗ lực đổi mới cụng nghệ, đổi mới quản lý, nõng cao năng suất và chất lượng, khụng ngừng vươn lờn trong cạnh tranh để tồn tại và phỏt triển ; khả năng cạnh tranh của nhiều doanh nghiệp đó được nõng lờn ; đó cú hàng trăm doanh nghiệp đạt tiờu chuẩn ISO-9000. Một tư duy mới, một nếp làm ăn mới, lấy hiệu quả sản xuất và kinh doanh làm thước đo, một đội ngũ cỏc nhà doanh nghiệp mới năng động, sỏng tạo cú kiến thức quản lý đang hỡnh thành. 2.4. Những mặt yếu kém và tồn tại khi Việt Nam tham gia vào quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Tuy nhiờn, qua quỏ trỡnh hội nhập kinh tế quốc tế, chỳng ta cũng bộc lộ nhiều mặt yếu kộm : 2.4.1. Chủ trương hội nhập kinh tế quốc tế đó được khẳng định trong nhiều nghị quyết của Đảng và văn kiện của Nhà nước và trờn thực tế đó được thực hiện từng bước, nhưng nhận thức về nội dung, bước đi, lộ trỡnh hội nhập cũn giản đơn ; cỏc ngành, cỏc cấp và khỏ đụng cỏn bộ chưa nhận thức đầy đủ những thỏch thức và cơ hội để từ đú cú kế hoạch chủ động vươn lờn vượt qua thỏch thức, nắm bắt thời cơ để phỏt triển ; khụng ớt chủ trương, cơ chế, chớnh sỏch chậm được đổi mới cho phự hợp với yờu cầu hội nhập. 2.4.2. Cụng tỏc hội nhập kinh tế quốc tế mới được triển khai chủ yếu ở cỏc cơ quan Trung ương và một số thành phố lớn, sự tham gia của cỏc ngành, cỏc cấp, của cỏc doanh nghiệp cũn yếu và chưa đồng bộ. Vỡ vậy, chưa tạo được sức mạnh tổng hợp cần thiết bảo đảm cho quỏ trỡnh hội nhập kinh tế quốc tế đạt hiệu quả cao. 2.4.3. Chưa hỡnh thành được một kế hoạch tổng thể và dài hạn về hội nhập kinh tế quốc tế, một lộ trỡnh hợp lý thực hiện cỏc cam kết quốc tế. 2.4.4. Nhiều doanh nghiệp cũn ớt hiểu biết về thị trường thế giới và luật phỏp quốc tế, năng lực quản lý kộm, trỡnh độ cụng nghệ cũn lạc hậu, hiệu quả sản xuất kinh doanh và khả năng cạnh tranh cũn yếu, tư tưởng ỷ lại, trụng chờ vào sự bao cấp và bảo hộ của Nhà nước cũn nặng. 2.4.5. Mụi trường kinh doanh ở nước ta tuy đó được cải thiện đỏng kể song chưa thật thụng thoỏng : hệ thống luật phỏp cũn thiếu, chưa đồng bộ, chưa đủ rừ ràng và nhất quỏn ; kết cấu hạ tầng phỏt triển chậm ; trong bộ mỏy hành chớnh cũn nhiều biểu hiện của bệnh quan liờu và tệ tham nhũng, trỡnh độ nghiệp vụ yếu kộm, nguồn nhõn lực chưa được đào tạo đến nơi đến chốn. 2.4.6. Đội ngũ cỏn bộ làm cụng tỏc kinh tế đối ngoại cũn thiếu và yếu ; tổ chức chỉ đạo chưa sỏt và kịp thời ; cỏc cấp, cỏc ngành chưa quan tõm chỉ đạo và tạo điều kiện cho cỏc doanh nghiệp chuẩn bị tham gia hội nhập. Đõy là nguyờn nhõn sõu xa của những yếu kộm, khuyết điểm trong hợp tỏc kinh tế với nước ngoài. 2.5. Mối liên hệ giữa xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ với hội nhập kinh tế quốc tế Xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ với hội nhập kinh tế quốc tế có mối liên hệ khăng khít, biện chứng với nhau. Trong điều kiện toàn cầu hoá kinh tế đã trở thành một xu thế khách quan, chi phối sự phát triển của các nước trên thế giới, để phát triển bền vững, hiệu quả mỗi quốc gia phải xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ, đồng thời thực hiện chủ động hội nhập kinh tế quốc tế. Có xây dựng được nền kinh tế độc lập tự chủ thì mới tạo được cơ sở kinh tế, cơ sở vật chất - kỹ thuật của chế độ chính trị độc lập, tự chủ. Độc lập tự chủ về kinh tế là nền tảng vật chất để đảm bảo cho sự độc lập tự chủ, bền vững về chính trị. Thực tế nhiều nước cho thấy không thể có độc lập tự chủ về chính trị nếu bị lệ thuộc về kinh tế. Có lẽ sau khi nghiên cứu kỹ đề tài chúng ta có thể nhận ra rằng không thể có độc lập tự chủ khi không có hội nhập kinh tế quốc tế, giữa chúng có mối liên hệ biện chứng với nhau. Chỉ có xây dựng một nền kinh tế độc lập tự chủ chúng ta mới có đầy đủ tư cách và tự lực để chủ động hội nhập đúng hướng và có hiệu quả và ngược lại chỉ có chủ động hội nhập kinh tế quốc tế chúng ta mới nhanh chóng bổ sung cho nội lực còn khiếm khuyết thiếu hụt rút ngắn con đường phát triển nhằm không ngừng tự hoàn thiện mình để giữ vững nền độc lập tự chủ. Hơn nữa chúng ta chủ động hội nhập chính là chúng ta chủ động bảo vệ và quyết tâm bảo vệ bằng được mục tiêu độc lập tự chủ trong phát triển. Độc lập tự chủ để mở cửa chủ động hội nhập để bảo vệ độc lập tự chủ. Mối quan hệ giữa xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ với hội nhập kinh tế quốc tế là mối quan hệ tương hỗ, có tính biện chứng; hội nhập càng chất lượng thì độc lập tự chủ càng cao. Độc lập tự chủ càng cao thì càng có điều kiện chủ động, tích cực hội nhập. Việc xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ hiện nay không hề mâu thuẫn với quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và xu thế toàn cầu hoá kinh tế. Chương III Những giải pháp và kiến nghị 1. Đường lối xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ 1.1. Mục tiêu: phấn đấu xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ trong phát triển kinh tế thị trường và chủ động mở cửa hội nhập có hiệu quả với nền kinh tế thế giới; tích cực tham gia vào sự giao lưu, hợp tác, phân công lao động qốc tế, trên cơ sở phát huy tốt nhất nội lực, lợi thế so sánh của quốc gia để cạnh tranh có hiệu quả trên thương trường quốc tế. 1.2. Một số điều kiện để xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ   Một là, có đường lối, chính sách độc lập tự chủ về phát triển kinh tế - xã hội theo định hớng xã hội chủ nghĩa. Kinh nghiệm phát triển của thế giới rất phong phú, có giá trị tham khảo đối với nớc ta, song không thể áp dụng máy móc, rập khuôn, giáo điều mà cần tính tới điều kiện, hoàn cảnh cụ thể và lợi ích của nớc ta. Hơn nữa, nếu thiếu độc lập tự chủ về đờng lối hoặc để phụ thuộc vào sự áp đặt đờng lối và chính sách từ bên ngoài thì sẽ dẫn tới những tai hại khó lờng. Đây là một bài học lớn mà chúng ta đã tổng kết và khẳng định.    Hai là, phải có thực lực kinh tế đủ mạnh, không chỉ có tiềm lực kinh tế, khoa học và công nghệ, mà còn phải có cơ sở vật chất - kỹ thuật đủ mạnh:    - Giá trị sản xuất trong nớc đáp ứng đợc đầy đủ nhu cầu tiêu dùng của nhân dân và có mức tích lũy ngày càng cao từ nội bộ nền kinh tế. Trong những năm chiến tranh trớc đây, cho đến hết thập kỷ 80 của thế kỷ trớc, nền kinh tế nớc ta cha thực hiện đợc tái sản xuất mở rộng xã hội, mà một phần của quỹ tiêu dùng xã hội và toàn bộ quỹ tích lũy vẫn còn phải dựa vào viện trợ của bên ngoài. Từ thập kỷ 90 đến nay, nền kinh tế đã bắt đầu thoát ra khỏi tình trạng đó và đợc cải thiện khá nhanh, đến năm 2000 đã có mức tích lũy khoảng 27% GDP, trong đó tích lũy từ nội bộ gần 20%. Đây là một điều kiện rất quan trọng để đẩy mạnh CNH, HĐH, bảo đảm độc lập tự chủ về kinh tế. Không có nguồn vốn này thì không thể tiếp nhận và phát huy nguồn vốn bên ngoài. Tuy nhiên, so với những nớc đang phát triển ở thời kỳ tăng tốc đã có mức tích lũy tới 35 - 40% nh Hàn Quốc, Trung Quốc và một số nớc Đông - Nam á, thì trong thời kỳ tới, chúng ta còn phải nâng mức tích lũy này lên cao hơn, đến hơn 30%. Mặt khác, vẫn phải bảo đảm có mức tăng cần thiết quỹ tiêu dùng xã hội hằng năm (khoảng 5%/năm) để tiếp tục cải thiện từng bớc đời sống của nhân dân.    - Có thể chế kinh tế - xã hội bền vững, có cơ cấu kinh tế hợp lý, có hiệu quả và sức cạnh tranh. Trong mô hình CNH mới hiện nay, vấn đề xây dựng cơ cấu kinh tế theo hớng ngày càng có sức cạnh tranh cao hơn, có hiệu quả lớn hơn là một yếu tố quan trọng hàng đầu. Thực tế cho thấy, trong cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ vừa qua, nớc nào có sức cạnh tranh cao hơn thì sẽ có sức chịu đựng và hạn chế đợc tác động và khủng hoảng nhiều hơn (nh Xin-ga-po,...) Sức cạnh tranh đó phụ thuộc vào việc phát huy những lợi thế so sánh và lợi thế cạnh tranh về các mặt: con ngời và nguồn nhân lực, vị trí địa lý, tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt là việc vận dụng những yếu tố tiến bộ khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo, văn hóa, tổ chức và quản lý... dựa trên một cơ cấu kinh tế hợp lý, phù hợp nhu cầu của thị trờng trong nớc và thị trờng quốc tế. Cơ cấu kinh tế này phải luôn luôn đợc hoàn chỉnh, nâng cấp, gắn với một cơ cấu công nghệ ngày càng tiến bộ, tạo ra và phát triển năng lực nội sinh về khoa học và công nghệ của đất nớc. Cho đến nay, việc tạo dựng một cơ cấu kinh tế, trớc hết là cơ cấu ngành kinh tế và gây dựng một năng lực nội sinh về khoa học và công nghệ nh thế để bảo đảm cho sự độc lập

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docT054.doc
Tài liệu liên quan