Đồ án Đề xuất các giải pháp cải thiện chất lượng dịch vụ trên tuyến buýt số 10 (Long Biên - BX Từ Sơn)

MỤC LỤC

Mục lục.i

Danh mục các từ viết .ii

Danh mục các hình vẽ.iii

Danh mục các bảng biểu.iv

Lời nói đầu.1

 

Chương 1: Cơ sở lý luận về cải thiện chất lượng dịch vụ VTHKCC bằng xe buýt.2

1.1.Tổng quan về vận tải hành khách công cộng .2

1.1.1.Khái niệm về vận tải hành khách công cộng .2

1.1.2. Đặc điểm và vai trò vủa VTHKCC bằng xe buýt .7

1.2.Chất lượng dịch vụ VTHKCC bằng xe buýt.10

1.2.1.Khái niệm về dịch vụ và chất lượng dịch vụ nói chung.10

1.2.2.Khái niệm về dịch vụ , chất lượng dịch vụ VTHKCC bằng xe buýt .11

1.3.Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng dịch vụ VTHKCC bằng xe buýt.12

1.3.1. Chất lượng cơ sở hạ tầng .12

1.3.2.Chất lượng phương tiện .14

1.3.3. Khả năng tiếp cận của hành khách đối với xe buýt .14

1.3.4. Tính chính xác về thời gian .15

1.3.5. Tính chính xác về không gian .17

1.3.6. Chất lượng phục vụ .17

1.4.Một số nguyên nhân hạn chế chất lượng dịch vụ VTHKCC .17

1.4.1. Những rào cản khi tiếp cận VTHKCC .17

1.4.2.Khó khăn về cơ sở hạ tầng phục vụ giao thông .18

 

Chương 2: Phân tích hiện trạng và đánh giá chất lượng dịch vụ VTHKCC bằng xe buýt trên tuyến buýt số 10 ( Long Biên-BX Từ Sơn)

2.1.Tìm hiểu tình hình chung về xí nghiệp xe điện Hà Nội.19

2.1.1. Qúa trình hình thành và phát triển của xí nghiệp xe điện Hà Nội .19

2.1.2.Cơ cấu tổ chức, chức năng nhiệm vụ.20

2.1.3. Cơ sở vật chất kỹ thuật, phạm vi hoạt động.21

2.1.4.Tình hình phương tịên vận tải và cơ cấu đoàn phương tiện.22

2.1.5. Định huớng phát triển của Xí Nghiệp trong những năm tới.25

2.2. Phân tích đánh giá chất lượng dịch vụ trên tuyến buýt số 10 (Long Biên- BX Từ Sơn).25

2.2.1. Giới thiệu chung về tuyến.26

2.2.2. Phân tích chất lượng dịch vụ trên tuyến 10.30

 

Chương 3: Đề xuất các giải pháp cải thiện chất lượng dịch vụ trên tuyến buýt số 10 ( Long Biên – BX Từ Sơn)

3.1. Mục đích của việc đưa ra các giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ vận tải trên tuyến 10.33

3.2. Những căn cứ để đưa ra những phương án cải thiện chất lượng dịch vụ VTHKCC trên tuyến xe buýt số 10 ( BX LONG BIÊN– BX TỪ SƠN).33

3.2.1. Chủ trương xã hội hóa dịch vụ xe bus công cộng của thành phố Hà Nội.34

3.2.2. Những căn cứ pháp lý.34

3.2.2. Định hướng phát triển VTHKCC bằng xe buýt của thành phố Hà Nội đến năm 2010 và năm 2020.34

3.2.3. Mục tiêu và kế hoạch phát triển của Xí nghiệp Xe Điện Hà Nội.36

3.3.4. Căn cứ hiện trạng của tuyến bus số 10.39

3.3. Các giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ vận tải hành khách công cộng .40

3.3.1 Nhóm các giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ vận tải hành khách công cộng bằng xe buýt .40

3.3.2 Các giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ trên tuyến buýt số 10 ( Long Biên- BX Từ Sơn).48

 

 

 

docx29 trang | Chia sẻ: lethao | Ngày: 27/03/2013 | Lượt xem: 1800 | Lượt tải: 11download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đồ án Đề xuất các giải pháp cải thiện chất lượng dịch vụ trên tuyến buýt số 10 (Long Biên - BX Từ Sơn), để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
h không đúng quy định lớn K1=40% vào những giờ cao điểm Hệ số thay đổi hành khách trên tuyến = 5.5 Về tiêu chí thời gian: Mức độ tin cậy về thời gian Kxe = 0.0026 Hệ số này cho thấy trên tuyến vẫn có những chuyến không được thực hiện theo biểu đồ, trung bình cứ 100 lượt thì có 1 lượt xe không được thực hiện. Thời gian trung bình của chuyến xe Tcxe = 45phút Về mức độ an toàn: Hệ số an toàn với hành khách K2HK = 0 Hệ số an toàn chuyến, lượt K2xe = 0 Mức độ an toàn cho phương tiện và hành khách trên xe an toàn. Về tổn hao năng lượng: Hệ số lợi dụng trọng tải tĩnh= 0.41 (41%) Hệ số lợi dụng trọng tải động= 0.43 (43%) Hệ số lợi dụng trọng tải thấp dẫn đến tổn hao năng lượng để phục vụ cho 1 hành khách lớn, mức độ gây ô nhiễm lớn. Tình hình chất lượng dịch vụ trên tuyến mức độ thoải mái, tiện nghi trên xe kém, an toàn tại các điểm dừng thấp. Những bất cập gặp phải của tuyến như là quãng đường đi bộ quá xa, những điểm dừng đỗ không có nhà chờ gây khó chịu cho hành khách vào những lúc thời tiết xấu. Việc đưa ra những giải pháp này là cấp bách và cần thiết 3.3. Các giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ vận tải hành khách công cộng 3.3.1 Nhóm các giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ vận tải hành khách công cộng bằng xe buýt Vận tải hành khách công cộng bằng xe buýt ngày càng phát triển. Nhu cầu sử dụng của người dân về loại hình vận tải hành khách công cộng bằng xe buýt ngày càng nhiều đòi hỏi sự cố gắng và nỗ lực hơn nữa của các cơ quan nhà nước cũng như các đơn vị tham gia vận tải hành khách công cộng bằng xe buýt. Việc nâng cao chất lượng dịch vụ vận tải hành khách công cộng bằng xe buýt sẽ là yếu tố quan trọng để thu hút người dân đi lại bằng xe bus và dần dần hình thành thói quen đi lại bằng xe bus, góp phần bảo vệ môi trường, giảm chi phí xã hội và tai nạn giao thông. Nhóm các giải pháp chung nâng cao chất lượng dịch vụ vận tải hành khách công cộng có thể được biểu diễn bởi sơ đổ sau Các giải pháp Giải pháp về tổ chức quản lý Giải pháp về con người Giải pháp về cơ sở hạ tầng trên tuyến Giải pháp về phương tiện Hình 3.1: Các giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ vận tải hành khách công cộng a) Các giải pháp về tổ chức quản lý Rút ngắn thời gian một chuyến xe : Thời gian một chuyến xe được tính theo công thức : Tc = Tdc +(+lM /lo – 1).to +lM/VT Thời gian một chuyến xe phụ thuộc vào Tdc ,VT, lM ,to, lo Dựa vào công thưc trên chúng ta có thể thấy để giảm thời gian một chuyến xe chúng ta có thể sử dụng các biện pháp : Tăng vận tốc kỹ thuật trên tuyến. Vận tôc kỹ thuật là yếu tố khách quan phụ thuộc vào chất lượng kỹ thuật phương tiện, điều kiện đường sá, trình độ lái xe. Vì vậy để tăng vận tốc kỹ thuật chúng ta có thể sử dụng các biện pháp: - làm đường riêng dành cho xe bus, sử dụng làn đường riêng, tổ chức phân bổ giao thông hợp lý… - Tăng cường duy tu, nâng cấp chất lượng đường sá. - Sử dụng đèn tín hiệu ưu tiên cho xe bus tại các điểm giao cắt. - Nâng cao chất lượng phương tiện: + sử dụng phương tiện có tính gia tốc lớn để có thể tăng tốc nhanh khi rời các điểm dừng đỗ. + Trong quá trình hoạt động phương tiện không được hỏng hóc. Để đảm bảo được phương tiện hoạt động tốt phải thực hiện tốt công tác duy tu bảo dưỡng, sửa chữa phương tiên, kiểm tra phương tiện trước khi hoạt động. - Nâng cao trình độ lái xe, ý thức của lái xe trong việc chấp hành luật lệ giao thông để không xảy ra những vi phạm ảnh hưởng đến thời gian chuyến xe Giảm số lượng điểm dừng và giảm thời gian dừng tại các điểm trên hành trình - Giảm số điểm dừng đỗ: bằng cách tăng lo nhưng lo chỉ tăng đến một giới nhất định. Nếu lớn quá thì tuy thời gian đi bằng phương tiện giảm nhưng khoảng cách đi bộ của hành khách sẽ tăng. - Giảm to : thời gian dừng đỗ tại một điểm bao gồm : + Thời gian bắt đầu đến điểm đỗ và dừng hẳn. + Thời gian lên xuống của hành khách + Thời gian phát tín hiệu và đóng cửa xe + Thời gian rời khỏi điểm đỗ Do đó thời gian dừng đỗ tại một điểm phụ thuộc vào số cửa lên xuống, chiều rộng cửa, số bậc lên xuống, trình độ lái xe…Ngoài ra xe phải dừng đúng điểm dừng đỗ. Thông thường thời gian dừng tại các điểm dừng của xe bus nội đô trong khoảng từ 15- 45 giây là hợp lý. Tuy nhiên việc giảm thời gian một chuyến xe cũng chỉ có thể đến một giới hạn nhất định trong điều kiện cho phép mà vẫn phải đảm bảo an toàn giao thông. Rút ngắn thời gian chuyến đi của hành khách Thời gian một chuyến đi của hành khách được xác định theo công thức : (3.1) Theo công thức trên các yếu tố ảnh hưởng đến thời gian chuyến đi của hành khách bao gồm : - Thời gian đi bộ tdb . Thời gian đi bộ phụ thuộc các yếu tố : + Mật độ mạng lưới đường giao thông . + Khoảng cách giữa các điểm dừng đỗ. - Thời gian chờ xe bus tcd . Thời gian chờ xe bus phụ thuộc vào giãn cách chạy xe - Thời gian đi trên xe bus tpt . Thời gian đi trên xe bus phụ thuộc vào các yếu tố : + Chiều dài chuyến đi của hành khách lhk + Vận tốc kỹ thuật của phương tiện + Thời gian dừng ở một điểm dừng + Khoảng cách giữa các điểm dừng đỗ Như vậy để có thể giảm thời gian chuyến đi của hành khách thì phải giảm từng thành phần trong thời gian chuyến đi của hành khách , cụ thể : Giảm thời gian đi bộ : (3.2) Để giảm thời gian đi bộ , có thể sử dụng các cách sau : - Tăng mật độ mạng lưới giao thông : Mạng lưới giao thông là tập hợp toàn bộ các tuyến giao thông mà trên đó có hành trình của các phương tiện. Quá trình đi lại của hành khách diễn ra trên tuyến giao thông của mạng lưới vì thế mạng lưới giao thông có ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình đi lại của hành khách , đặc biệt là thời gian đi lại. Tăng mật độ mạng lưới giao thông bằng cách : + Đa dạng hóa mạng lưới tuyến :đường vòng , hướng tâm, xuyên tâm, vành đai… + Tăng chiều dài mạng lưới xe bus cho phù hợp với diện tích dân số của thành phố, với phương tiện hiện có + Cải tạo nút giao thông , làm dải phân cách cứng giữa các nút… + Mở rộng mạng lưới đường giao thông qua các khu dân cư trong khu vực nội ngoại thành và các vùng lân cận, qua các điểm thu hút để từ đó mở rộng các tuyến xe bus. Tuy nhiên, việc tăng mật độ mạng lưới hành trình sẽ giảm được thời gian đi bộ , nhưng nếu tăng quá nhiều sẽ dẫn tới tăng số giao cắt trên mạng lưới giao thông làm ảnh hưởng tới tốc độ phương tiện. Mật độ mạng lưới đường tối ưu là δ = 2,5 – 3,5 Km/Km2 . Nếu chúng ta tăng mật độ mạng lưới đường thì chỉ nên tăng mật độ đến khả năng cho phép. - Giảm khoảng cách giữa các điểm dừng đỗ : việc giảm khoảng cách giữa các điểm dừng đỗ cũng chỉ cho phép trong một giới hạn nhất định. Nếu giảm khoảng cách đó quá ngắn sẽ làm giảm thời gian đi bộ nhiều nhưng sẽ làm tăng thời gian đi trên phương tiện (do giảm khoảng cách giữa các điểm dừng đỗ nên số lượng điểm dừng dọc đường sẽ tăng dẫn đến thời gian dừng tăng). Giảm thời gian chờ đợi tcd Thời gian chờ đợi phương tiện phụ thuộc vào giãn cách chạy xe I . Để giảm thời gian chờ đợi thì cần rút ngắn giãn cách chạy xe I. Để giảm I chúng ta có thể sử dụng một số biện pháp: - Giảm hệ số trùng lặp tuyến : khi tăng hệ số trùng lặp tuyến sẽ thuận lợi cho nhu cầu đi lại của hành khách nhưng hiệu quả hoạt động sẽ giảm. Việc giảm hệ số trùng lặp tuyến sẽ dẫn đến giảm khả năng chuyển tải, đổi tuyến của hành khách , ảnh hưởng tới sự thuận tiện của hành khách do đó việc giảm hệ số trùng lặp tuyến cần phải xem xét đến một giới hạn nhất định. - Tăng số lượng phương tiện hoạt động trên hành trình . Tuy nhiên khả năng thông qua của các tuyến là có hạn nên khi số lượng phương tiện tăng lên quá lớn sẽ dẫn đến tình trạng ùn tắc giao thông , sẽ làm giảm hiệu quả khai thác của phương tiện và của toàn tuyến . - Tăng tốc độ khai thác của phương tiện Vk : (3.3) LM không đổi do vậy để tăng VT thì cần phải giảm thời gian lăn bánh, thời gian dừng đỗ, thời gian đầu cuối. Ta có thể sử dụng một số biện pháp sau: + Phân luồng giao thông hợp lý, dùng làn đường riêng cho xe bus + Sử dụng tín hiệu ưu tiên cho xe bus + Giảm số lượng điểm dừng đỗ và thời gian dừng tại các điểm dừng + Các bến xe phải được bố trí hợp lý thông thoáng để xe vào bến được nhanh chóng không bị ùn tắc. Như vậy, để giảm thời gian chờ đợi thì cần có biện pháp giảm giãn cách chạy xe hợp lý Giảm thời gian đi trên xe bus (3.4) - Giảm thời gian dừng đỗ dọc đường + Giảm số lượng điểm dừng đỗ bằng cách tăng khoảng cách giữa các điểm dừng. + Giảm thời gian dừng đỗ tại một điểm - Giảm thời gian đi trên phương tiện : Do lhk là yếu tố khách quan nên để giảm thời gian đi trên phương tiện chỉ có thể tăng vận tốc kỹ thuật của phương tiện Các biện pháp để rút ngắn từng thành phần trong thời gian một chuyến đi của hành khách, có thể áp dụng kết hợp với giải pháp tổ chức chạy xe trên hành trình: Hiện nay ở Hà Nội chỉ áp dụng hình thức chạy xe bus thông thường. Hình thức chạy xe này có ưu điểm là thỏa mãn được nhu cầu lên xuống ở các tất cả các điểm dừng trên hành trình, giảm được thời gian đi bộ của hành khách . Tuy nhiên thời gian một chuyến tăng lên do thời gian dừng lớn. Do vậy để có thể giảm thời gian một chuyến có thể sử dụng hình thức chạy xe bus nhanh: trên hành trình chọn ra các điểm dừng chủ yếu (số lượng điểm dừng ít hơn so với hình thức chạy xe thông thường, ưu điểm là giảm được thời gian một chuyến cho những người có nhu cầu lên xuống ở các điểm dừng chủ yếu, nhưng lại gây khó khăn cho những hành khách có nhu cầu lên xuống ở những điểm dừng khác. Khi áp dụng hình thức chạy xe này cần thông báo rộng rãi cho hành khách biết, để khỏi nhầm lẫn với hình thức chạy xe thông thường. Ngoài ra xe cần có những ký hiệu riêng, cần ghi cụ thể các điểm dừng trên xe. Vào giờ cao điểm, lưu lượng phương tiện tham gia giao thông lớn, do đó dễ xảy ra tình trạng ùn tắc giao thông , làm tăng thời gian chuyến đi. Do vậy việc tổ chức chạy xe vào giờ cao điểm có ý nghĩa rất quan trọng trong việc đảm bảo thời gian chuyến đi so với tính toán. Vào giờ cao điểm có thể sử dụng các biện pháp sau : - Giảm khoảng cách chạy xe so với giờ bình thường - Sử dụng xe có trọng tải lớn - Áp dụng các hình thức chạy xe khác nhau như: hình thức chạy xe bus nhanh, chạy xe theo hành trình rút ngắn.. - Tổ chức phân luồng giao thông hợp lý, ưu tiên cho xe bus hoạt động, làm làn đường riêng cho xe bus… Bên cạnh đó chất lượng phương tiện hoạt động trên hành trình, chất lượng đường sá…cũng cần phải được đảm bảo. Việc tổ chức chạy xe có ảnh hưởng rất lớn đến thời gian một chuyến đi của hành khách . Vì vậy việc tổ chức chạy xe hợp lý sẽ làm giảm đáng kể thời gian chuyến đi của hành khách. Nâng cao việc thực hiện đúng thời gian biểu chạy xe. Trong thời gian biểu chạy xe có quy định cụ thể thời gian xuất bến và thời gian về bến tối thiểu của xe hoạt động trên hành trình. Các lái xe căn cứ vào thời gian biểu chạy xe để đưa xe ra tuyến hoạt động. Việc vi phạm thời gian xuất bến là khá phổ biến. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến việc vi phạm này, có thể kể đến những nguyên nhân khách quan như tắc đường, hỏng xe đột xuất…. hay do lỗi của lái xe. Các giải pháp đưa ra để đảm bảo thời gian xuất bến và về bến đúng quy định: - Điều động xe kịp thời để đảm bảo thời gian xuất bến theo quy định - Tăng cường kiểm tra kỹ thuật phương tiện để đảm bảo phương tiện luôn ở trạng thái tốt trong quá trình hoạt động trên hành trình. - Mỗi tuyến bus cần có tuyến trưởng chịu trách nhiệm điều hành quản lý trực tiếp trên tuyến để hỗ trợ lực lượng lái xe thực hiện tốt biểu đồ chạy xe. - Nâng cao công tác tổ chức vận tải và năng lực, trình độ của đội ngũ điều độ viên , tuyến trưởng để có thể giải quyết kịp thời các tình huống phát sinh trên tuyến. b) Các giải pháp về con người Nâng cao công tác tổ chức vận tải và năng lực, trình độ của đội ngũ điều độ viên, tuyến trưởng để có thể giải quyết kịp thời các tình huống phát sinh trong quá trình hoạt động của tuyến cũng như trong công tác tổ chức quản lý tuyến. Đối với lái xe và nhân viên bán vé trên xe, là những lao động trực tiếp trên xe, trực tiếp quyết định phần lớn chất lượng dịch vụ vận tải hành khách công cộng trên tuyến lên cần có những hình thức quản lý chặt chẽ. Phải đưa ra những hình thức kỷ luật đối với những trường hợp vi pham: không tuân thủ thời gian xuất bên, về bến không đúng quy định, bán vé không đúng quy định, không xé vé khi thu tiền, bỏ điểm, vi phạm luật giao thông… Cần thường xuyên kiểm tra chặt chẽ việc thực hiện thời gian biểu của lái xe để tạo lòng tin đối với hành khách. Đối với vận tải hành khách công cộng bằng xe bus, lái xe và nhân viên bán vé là người chịu trách nhiệm chủ yếu về hoạt động của xe trên hành trình. Lái xe cũng là người quyết định đện sự an toàn của hành khách tren xe. Hầu hết tai nạn xảy ra là do lỗi của lái xe. Những trường hợp vi phạm tiêu chí phục vụ trên xe phần lớn là do lái xe. Cần đưa ra những hình thức kỷ luật cụ thể và thực sự mạnh mẽ để đối với những trường hợp vi phạm và có những biện pháp để nâng cao chất lượng lái xe và nhân viên bán vé trên xe - Cần thường xuyên đào tao, bồi dưỡng, kiểm tra trình độ lái xe. - Tạo điều kiện , môi trường làm việc thuận lợi, kết hợp với nghỉ ngơi hợp lý để lái xe có thể ổn định tâm sinh lý, hiệu quả của công việc sẽ được nâng lên - Thường xuyên tổ chức những lớp học để nâng cao nghiệp vụ chuyên môn cho lái xe và nhân viên bán vé. - Tăng cường kiểm tra giám sát việc thực hiện của lái xe và nhân viên bán vé - Cần có những quy định về thưởng phạt để khuyến khích những lái xe chạy tốt và đảm bảo an toàn của hành khách và xử lý những lái xe vi phạm. c) Các giải pháp về cơ sở vật chất kỹ thuật - Cải tạo, nâng cấp chất lượng đướng sá. Thường xuyên duy tu bảo dưỡng đường sá, tránh tình trạng xuống cấp của đường. - Sửa chữa những đoạn đường hư hỏng. - Trong điều kiện cho phép có thể mở rộng bề mặt đường để tăng số làn xe. - Xây dựng đường dành riêng, làn đường riêng cho xe bus để đảm bảo an toàn cho xe và các phương tiện khác khi hoạt động trên đường, bên cạnh đó còn tăng được tốc độ chạy xe. - Xây dựng thêm mới các điểm dừng thay thế các điểm dừng đã cũ, hỏng. - Xây dựng thêm nhà chờ có mái che, có bản đồ chỉ dẫn về thông tin trên tuyến, thời gian đóng mở tuyến, thời gian biểu chạy xe… d) Các giải pháp về phương tiện - Áp dụng niên hạn sử dụng phương tiện theo nghị định 23/2004/NĐ – CP không đưa những phương tiện có niên hạn sử dụng lớn vào hoạt động - Thay thế những xe bus cũ có chất lượng thấp bằng những xe bus có chất lượng đảm bảo. - Cải tiến kết cấu động cơ của phương tiện nhằm nâng cao tính êm dịu khi phương tiện hoạt động, sử dụng động cơ có tiếng ồn nhỏ ít độc hại… - Thường xuyên tiến hành kiểm tra chất lượng phương tiện trước và sau khi hoạt động . - Chất lượng phương tiện trong quá trình hoạt động phụ thuộc nhiều vào chất lượng công tác bảo dưỡng sửa chữa, do vậy các xí nghiệp cần : + Thực hiện đúng các định ngạch trong bảo dưỡng sửa chữa theo quy định của bộ giao thông vận tải. + Thường xuyên kiểm tra trình độ thợ bảo dưỡng sửa chữa. + Có đội kiểm tra chất lượng phương tiện sau khi bảo dưỡng sửa chữa. + Đầu tư trang thiết bị cho bảo dưỡng sửa chữa. 3.3.2 Các giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ trên tuyến buýt số 10 ( Long Biên- BX Từ Sơn) Căn cứ vào các chỉ tiêu đánh giá chất lượng vận tải hành khách công cộng cũng như hiện trạng và đánh giá hiện trạng chất lượng vận tải hành khách công cộng bằng xe buýt đã được trình bày ở các chương trước ta có thể đưa ra một số giải pháp để cải thiện chất lượng vận tải hành khách công cộng bằng xe buýt trên tuyến số 10 như sau: a). Giải pháp về con người. Đặc tính của công nhân lái, phụ xe trong nghành vận tải là làm việc ở bên ngoài công ty, xí nghiệp nên việc quản lý họ gặp nhiều khó khăn. Đối với tuyến buýt số 10 thì công nhân lái phụ xe thuộc quyền quản lý của Xí nghiệp xe điện Hà Nội và làm việc trên một lộ trình tuyến cố định và thời gian biểu cố định có thể đưa ra một số biện pháp quản lý: Đối với công nhân lái xe: Yêu cầu công nhân lái xe chạy xe đúng tuyến đúng lịch trình chạy xe, dừng đỗ xe đúng điểm dừng. Công nhân lái xe không uống rượu bia trong khi làm việc và trước khi làm việc. Lái xe không phóng nhanh vượt ẩu, không lạng lách trên đường phố. Giữ gìn phương tiện tốt, thường xuyên kiểm tra phương tiện nếu có vấn đề gì phải báo ngay cho bộ phận kỹ thuật của xí nghiệp. Lái xe phải có trách nhiệm với chính phương tiện mà mình điều khiển và có những hình thức xử phạt thích đáng khi lái xe vi phạm nội quy của xí nghiệp. Với nhân viên bán vé: Sau mỗi chuyến phải làm vệ sinh trong phương tiện cho sạch sẽ, làm công tác chốt vé tại các điểm đầu cuối. Không chở hàng hóa, hành lý cồng kềnh trên xe: không cho những hành khách mang hàng hóa hành lý cồng kềnh lên xe tránh lam ảnh hưởng đến hành khách khác. Nhiệt tình hướng dẫn cho nhành khách những thông tin về tuyến Giúp đỡ những người già, người tàn tật, trẻ em trên xe. Chuẩn bị vé đủ cho khách đi trên xe, Yêu cầu lái phụ xe phải đảm bảo tất cả hành khách đi trên xe đầu được xé vé, xé vé khi thu tiền, màu vé theo mỗi tuyến phải khác nhau để tránh tình trạng quay vòng vé. Có những chế độ khen thưởng kỷ luật đối với công nhân lái xe và nhân viên bán vé. Những vi phạm phải bị kỷ luật có thể bị buộc thôi việc nếu vi phạm nhiều lần. Đồng thời xí nghiệp cũng phải có chính sách khen thưởng đối với nhũng công nhân làm việc tốt( không có vi phạm gì trong kỳ, lái xe an toàn, xe chạy đúng tuyến đúng lịch trình...) Thường xuyên phát động những phong trào thi đua nâng cao chất lượng dịch vụ; Lái xe an toàn, chạy xe đúng biểu đồ chạy xe, giữ gìn xe tốt.... Để đảm bảo hiệu quả kinh doanh trên tuyến, đồng thời quản lý được lái phụ xe trên tuyến nhằm nâng cao chất lượng phục vụ hành khách, tạo dựng và phát triển thương hiệu của doanh nghiệp trên tuyến, doanh nghiệp nên đề cao trách nhiệm của lái phụ xe đối với doanh thu trên tuyến. b, Giải pháp về cơ sở hạ tầng Cơ sở hạ tầng là nhân tố ảnh hưởng gián tiếp đến chất lượng dịch vụ VTHKCC . Cơ sở hạ tầng bao gồm: điều kiện đường sá, các công trình giao thông trên đường, điểm đầu cuối và các điểm dừng đón, trả khách trên tuyến,…Nhưng điều kiện đường sá và các công trình phụ trợ trên đường: mặt cắt ngang đường, dải phân cách, vỉa hè, hành lang an toàn trên đường,…là yếu tố khách quan mà Xí nghiệp không thể nâng cấp cải tạo được. Vì vậy, ta chỉ đi vào nâng cấp, cải tạo trong khả năng của Xí nghiệp. Điểm đỗ đầu cuối. Điểm dừng đỗ được bố trí dọc theo các đường phố trong đô thị, với đặc điểm của người dân Việt Nam là thường mở các cửa hàng kinh doanh buôn bán dọc theo các con phố nên việc bố trí các điểm dừng, đỗ gặp nhiều khó khăn. Hành khách phải cảm nhận an toàn thoải mái khi vào các điểm đầu cuối ( Long Biên – BX Từ Sơn). Tại bến Long Biên vì đây là trạm trung chuyển nên số lượng hành khách lên xuống là rất đông và có nhiều xe chạy qua gây khó khăn cho hành khách khi lên xuống phương tiện… những thông tin về chuyến đi tại điểm đầu cuối không đảm bảo đối với yêu cầu thông tin tại điểm đầu cuối vì vậy thông tin cần được bổ sung: tần suất chạy xe, giờ đóng bến và giờ mở bến, giờ xuất phát tại các điểm đầu cuối, thực tế bãi đỗ không có đủ diện tích cho hành khách đứng chờ xe. bến xe TỪ SƠN bến xe LONG BIÊN Hình 3.2 Điểm đầu cuối trên tuyến Bãi đỗ xe TỪ SƠN phía trong là bệnh viện đa khoa TỪ SƠN nên khi đỗ xe gây ảnh hưởng đến các phương tiện khác khi vào bệnh viện. Bãi đỗ xe này chưa đáp ứng cỏđược nhu cầu thông tin va điểm chờ cho hành khách. Bãi đỗ cạnh đường ( chiều rộng đường là 6m) nên khi quay xe gây khó khăn cho người lái và người đi đường xung quanh. Bãi đỗ chỉ đủ chỗ cho tối đa là 3 xe (khó khăn khi các xe khi tăng cường ) Mặt khác nhà chờ không có ghế ngồi cho hành khách nên gây sự cho hành khách khi đợi xe quá lâu. Do vậy cần phải có 1 số biện pháp khắc phục như: + Phải xây dựng nhà chờ cho hành khách. Bãi đỗ phải được làm vệ sinh thường xuyên hàng ngày, phải có thùng rác cho hành khách. Nghiêm cấm hành vi làm mất vệ sinh gây ô nhiễm môi trường như xả rác bừa bãi ra bến xe. Việc các hàng nước chiếm vị trí chờ của khách nên chấm dứt hoặc cần cho họ vào một vị trí khác. + Có thông tin về chuyến đi như: lộ trình, bảng biểu thời gian, các điểm dừng đỗ trên lộ trình… Về điểm dừng dọc đường: Một số điểm dừng cũ trên tuyến có lưu lượng hành khách lên xuống là lớn, có đủ diện tích để cải tạo các điểm dừng này thành những điểm dừng có đầy đủ nhà chờ mái che và các thông tin cần thiết cho hành khách nên tại các điểm này cần phải được cải tạo thành những điểm dừng có nhà chờ có mái che và đầy đủ các thông tin dành cho hành khách Năm 2007, tuyến 10 chạy từ Long Biên đến Từ Sơn cự ly tuyến là 18km với 22 điểm dừng đỗ, mặt khác xe lại cũ khi chạy gây ồn và xả nhiều khí ô nhiễm môi trường so với tiêu chuẩn của xí nghiệp. Năm 2008, tuyến 10 được cải thiện về xe, được thay đổi toàn bộ số xe của năm 2007 cho nên đã phần nào cải thiện được chất lượng chạy xe và khí thải khi chạy, đồng thời tăng độ êm dịu khi chạy xe cũng như tốc độ chạy xe. Như vậy có phương án về điểm dừng: Xây dựng thêm các nhà chờ tại các điểm dừng hoặc có thể lắp đặt các điểm dừng mới. Hình 3.3. Mẫu nhà chờ cho hành khách khi có đủ diện tích Tuyến 10 chạy cả trong khu vực nội thành và ngoại thành, khoảng cách trung bình 0.82km. Ta có thể chia tuyến 10 thành hai đoạn tuyến nội thành và ngoại thành: Bảng 3.5 Điểm dừng đỗ theo chiều Long Biên – BX Từ Sơn ĐD Tên điểm dừng đỗ Thực trạng Chú ý Giải pháp 1 Đầu Long Biên Nhà chờ Mái nhựa 2 Dải giữa yên phụ Pano Khoảng cách dừng lớn Xây dựng điểm mới 3 81 Trần nhật Duật Pano Khoảng cách dừng lớn Xây dựng điểm mới 4 Tổng cục Hải Quan- Nguyễn Văn cừ Pano Có đủ diện tích Xây dựng điểm mới 5 278-280 Nguyễn Văn Cừ Pano Có đủ diện tích Xây dựng điểm mới 6 430 -Nguyễn Văn Cừ Nhà chờ Mái nhựa 7 598 - Nguyễn Văn Cừ Pano Có đủ diện tích Xây dựng điểm mới 8 60 Ngô Gia Tự Nhà chờ Mái nhựa 9 124 Ngô Gia Tự Pano Có đủ diện tích Xây dựng điểm mới 10 280 Ngô Gia Tự Pano Có đủ diện tích Xây dựng điểm mới 11 Đối diện 821 Ngô Gia Tự Pano Có đủ diện tích Xây dựng điểm mới 12 Bách hoá thanh am Pano Có đủ diện tích Xây dựng điểm mới 13 Cạnh đường vào phù đổng Pano Có đủ diện tích Xây dựng điểm mới 14 284 Hà Huy Tập Pano Có đủ diện tích Xây dựng điểm mới 15 Đối diện 58 dốc lã Pano Có đủ diện tích Xây dựng điểm mới 16 Đường vào trung cấp thuỷ sản-Bắc Ninh Pano Có đủ diện tích Xây dựng điểm mới 17 Cầu chùa dận Pano Có đủ diện tích Xây dựng điểm mới 18 Đường vào đình bảng Pano Có đủ diện tích Xây dựng điểm mới 19 Bưu điện Từ Sơn Pano Có đủ diện tích Xây dựng điểm mới 20 197 Trần Phú Pano Có đủ diện tích Xây dựng điểm mới 21 56 Trần Phú Pano Có đủ diện tích Xây dựng điểm mới 22 BX Từ Sơn Nhà chờ Có đủ diện tích Xây dựng điểm mới Bảng 3.6 Lưu lượng HK lên xuống xe vào khoảng thời gian (17h15 -18h) Nhìn vào bảng trên ta thấy sự bất ổn định về số lượng hành khách trên xe vì sức chứa của xe chỉ tối đa là 80 người trong khi đó vào những giờ cao điểm thì số lượng hành khách lai vượt quá rất nhiều gây sự khó chịu đối với hành khách đi xe. - Đoạn 1 : Từ Long Biên – Ngô Gia Tự + Đây là đoạn chạy trong nội thành Hà Nội, có điểm dừng đỗ, khoảng cách trung bình giữa điểm dừng đỗ 700m - 850m. Như vậy số lượng điểm dừng là hợp lý không cần bổ xung thêm điểm dừng đỗ. + Theo chiều từ Long Biên đến Ngô Gia Tự thì có 11 điểm dừng đỗ trong đó có 3 điểm là có nhà chờ còn lại là đứng chờ (đầu bến Long Biên, 430 Nguyễn Văn Cừ, 60 Ngô Gia Tự) còn lại là không có nhà chờ. + Theo chiều từ Gia Lâm – Long Biên có 11 điểm dừng đỗ trong đó có 2 điểm có nhà chờ (bến đỗ Long Biên, 549 Nguyễn Văn Cừ). Số điểm dừng đỗ còn lại thì hành khách phải đứng để chờ xe. Đoạn 2 :từ Ngô Gia Tự - Từ Sơn + Đây là đoạn mà xe chạy ở khu vực ngoại thành Hà Nội, có 11 điểm dừng đỗ, đoạn đường này thì cả chiều đi lẫn chiều về đều không có 1 điểm đỗ nào là có nhà chờ (bến Từ Sơn có nhà chờ nhưng không có chỗ cho hành khách ngồi). Điều này cho thấy chất lượng phục vụ hành khách ở đoạn đường ngoại thành này là quá kém cần được cải thiện nhiều. + Ở đoạn đường ngoại thành này chỉ có tuyến xe bus số 10, 54, 203 chạy qua. Chủ yếu là dân ở khu vực lân cận đó đi Hình 3.3. Mẫu điểm dừng xe buýt hiện nay. Hầu hết các nhà chờ hiện nay chỉ mới có: số hiệu tuyến, lộ trình rút ngắn của các tuyến chạy qua, và điểm đầu cuối. Do vậy cần phải thêm thông tin về tên điểm dừng, phân biệt các tuyến buýt thường, buýt nhanh và buýt kế cận bằng màu khác nhau. Về các điểm bán vé tháng. Cần phải cải thiện tình trạng chen lấn, xô đẩy khi hành khách đi dán vé tháng vào những ngày cuối tháng: Tăng cường nhân viên bán vé vào những ngày cao điểm cuối tháng Tạo lối đi hàng một trước cửa dán tem vé tháng để tránh tình trạng chen lấn xô đẩy. Bán tem nhiều tháng cho hành khách tránh hành khách phải đi mua vé nhiều lần. c). Giải pháp về phương tiện. Phương tiện là yếu tô ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng dịch vụ vận tải trên tuyến. Nếu phương tiện cũ nát sẽ làm lái xe và hành khách khó chịu không thoải mái, phương tiện cũ lưu thông trên đường gây nguy hiểm cho hành khách và những phương tiện khác.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docxchuong 3.docx
  • docchuong 1.doc
  • docxchuong 2.docx
  • docLỜI MỞ ĐẦU in.doc
  • docmuc luc.doc