Đồ án Hoàn thiện công tác hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty Đầu tư phát triển hạ tầng đô thị

MỤC LỤC

 

Trang

LỜI NÓI ĐẦU 1

CHƯƠNG I: NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CÔNG TÁC HẠCH TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TRONG CÁC DOANH NGHIỆP KINH DOANH XÂY LẮP 3

A. ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA NGÀNH XÂY DỰNG CƠ BẢN, CỦA SẢN PHẨM XÂY LẮP ẢNH HƯỞNG ĐẾN CÔNG TÁC KẾ TOÁN TẬP HỢP CHI PHÍ VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM XÂY LẮP 3

I.ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA NGÀNH XÂY DỰNG CƠ BẢN VÀ CỦA SẢN PHẨM XÂY LẮP CÓ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CÔNG TÁC HẠCH TOÁN KẾ TOÁN 3

1. Đặc điểm của hoạt động kinh doanh xây lắp 3

2. Đặc điểm kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp 4

3. Vai trò, nhiệm vụ của công tác quản lý, hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong các doanh nghiệp kinh doanh xây lắp 5

II. CHI PHÍ SẢN XUẤT SẢN PHẨM XÂY LẮP 6

1. Nội dung kinh tế 6

2. Phân loại chi phí sản xuất trong các doanh nghiệp xây lắp 8

2.1. Phân loại chi phí sản xuất theo nội dung kinh tế 9

2.2. Phân loại chi phí sản xuất theo phương pháp tập hợp chi phí và mối quan hệ với đối tượng chịu chi phí 10

2.3. Phân loại chi phí sản xuất theo mục đích, công dụng của chi phí 10

III. GIÁ THÀNH SẢN PHẨM XÂY LẮP 12

1. Nội dung kinh tế 12

2. Phân loại giá thành sản phẩm xây lắp 13

2.1. Căn cứ vào nguồn số liệu và thời điểm tính giá 13

2.2. Căn cứ vào phạm vi phát sinh chi phí 15

2.3. Các loại giá thành khác 16

2.4. Đối tượng tính giá thành sản phẩm 16

IV. MỐI QUAN HỆ GIỮA CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ GIÁ THÀNH SẢN PHẨM 16

B. HẠCH TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM XÂY LẮP 18

 

 

doc133 trang | Chia sẻ: maiphuongdc | Ngày: 13/12/2013 | Lượt xem: 1357 | Lượt tải: 3download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đồ án Hoàn thiện công tác hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty Đầu tư phát triển hạ tầng đô thị, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ức: Z = D đk + C1 + C2 +... + Cn + Dck Trong đó: C1, C2,..., Cn: chi phí sản xuất hoặc từng hạng mục của công trình 3.Phương pháp tính giá thành theo đơn đặt hàng Phương pháp này thường được áp dụng trong trường hợp doanh nghiệp ký với chủ đầu tư hợp đồng nhận thầu thi công bao gồm nhiều công việc khác nhau mà không tiến hành hạch toán riêng cho từng công việc. Trong trường hợp này, đối tượng tập hợp chi phí sản xuất và đối tượng tính giá thành đều là đơn đặt hàng. Toàn bộ chi phí thực tế tập hợp riêng cho từng đơn đặt hàng là giá thành thực tế của đơn đặt hàng đó. Tuy nhiên, để phục vụ cho việc hạch toán nội bộ người ta cũng tính giá thành của từng hạng mục công trình hay khối lượng công việc trong toàn bộ hợp đồng dựa vào hệ số phân bổ sau: C H = åDi Trong đó: H: hệ số phân bổ C: tổng chi phí tập hợp cho đơn vị phải tính giá thành Di: giá dự toán của hạng mục thứ i åDi: tổng giá dự toán của đơn đặt hàng Giá thành thực tế của hạng mục công trình đó được tính theo công thức: Công thức: Ztti =Di x H 4. Phương pháp tính giá thành theo định mức Phương pháp này được áp dụng cho những doanh nghiệp thỏa mãn điều kiện sau -Phải tính giá thành định mức trên cơ sở định mức và đơn giá tại thời điểm tính giá thành. -Vạch ra được một cách chính xác các thay đổi về định mức trong quá trình thực hiện thi công công trình. Việc thay đổi định mức thường được tiến hành vào đầu tháng nên việc tính toán số chênh lệch do thay đổi định mức chỉ cần thực hiện với những sản phẩm làm dở đầu kỳ vì chi phí tính cho sản phẩm làm dở đầu kỳ ( cuối kỳ trước ) là theo định mức, số chênh lệch do thay đổi định mức cũ trừ đi định mức mới. -Xác định số chênh lệch do thoát ly định mức và nguyên nhân gây ra chênh lệch đó, chênh lệch do tiết kiệm hay vượt chi. Chênh lệch do thoát ly định mức = Chi phí thực tế theo từng khoản mục - Chi phí định mức theo từng khoản mục Sau khi tính toán xác định được giá thành định mức, chênh lệch do thay đổi định mức và thoát ly định mức, giá thành thực tế của sản phẩm xây lắp được tính như sau: Giá thành thực tế của SPXL = Giá thành định mức của SPXL + Chênh lệch do thay đổi định mức + Chênh lệch do thoát ly định mức Phương pháp này áp dụng thích hợp với các quy trình công nghệ ổn định, có định mức kinh tế kỹ thuật, định mức chi phí, dự toán chi phí hợp lý. 5.Phương pháp tỷ lệ theo kế hoạch Được áp dụng khi giới hạn tập hợp chi phí là nhóm hạng mục công trình nhưng đối tượng tính giá là hạng mục công trình. Khi đó, phải căn cứ vào tổng số chi phí thực tế và tổng chi phí kế hoạch hoặc tổng số giá trị dự toán của tất cả các hạng mục công trình có liên quan để xác định tỷ lệ phân bổ. Trong đó chi phí kế hoạch được tính riêng cho từng công trình, hạng mục công trình. Giá thành hạng mục công trình = Tỷ lệ phân bổ x Chi phí kế hoạch (giá trị dự toán từng hạng mục công trình) Trong đó: Tỷ lệ phân bổ = Tổng chi phí thực tế x 100 Tổng chi phí kế hoạch của hạng mục công trình liên quan 6.Phương pháp hệ số Được áp dụng khi giới hạn tập hợp chi phí là nhóm nhà cửa, nhóm vật kiến trúc, nhóm hạng mục công trình xây lắp. Trong trường hợp này, căn cứ vào tổng số chi phí và hệ số quy định cho từng sản phẩm để tính giá thành. 7.Phương pháp kết hợp Được áp dụng phổ biến trong việc tính giá thành đơn vị sản phẩm xây lắp, thường kết hợp phương pháp tính trực tiếp với phương pháp tổng cộng chi phí khi đối tượng hạch toán chi phí là các giai đoạn công việc, hoặc được kết hợp giữa phương pháp tính trực tiếp với phương pháp hệ số hoặc tỉ lệ khi đối tượng hạch toán chi phí là nhóm nhà cửa, vật kiến trúc, hạng mục công trình... Giá trị thực tế sản phẩm xây lắp = Chi phí xây lắp dở dang đầu kỳ + Chi phí xây lắp phát sinh trong kỳ - Chi phí xây lắp dở dang cuối kỳ + Hạch toán giá thành sản phẩm xây lắp Giá thành của sản phẩm xây lắp hoàn thành bàn giao trong kỳ được phản ánh trên tài khoản 632 “Giá vốn hàng bán”. Tài khoản này có kết cấu như sau: Bên nợ: -Trị giá vốn của sản phẩm xây lắp hoàn thành trong kỳ. Bên có: -Kết chuyển giá vốn của sản phẩm xây lắp hoàn thành vào tài khoản xác định kết quả kinh doanh. -Các khoản ghi giảm giá vốn hàng bán. Tài khoản này không có số dư cuối kỳ. Sau khi đã xác định giá trị sản phẩm dở dang cuối kỳ và tính ra giá thành sản phẩm, kế toán ghi: Nợ TK 632-Giá thành sản phẩm xây lắp (Chi tiết đối tượng) Có TK 154 (Chi tiết đối tượng) III.TỔ CHỨC HỆ THỐNG SỔ KẾ TOÁN VÀ BÁO CÁO KẾ TOÁN 1.Tổ chức hệ thống chứng từ hạch toán ban đầu chi phí sản xuất Chứng từ gốc liên quan đến các chi phí phát sinh là các chứng từ thuộc về các yếu tố như: vật tư ( phiếu nhập kho, xuất kho); tiền lương (bảng tính tiền lương phải trả), khấu hao tài sản cố định (bảng tính hao mòn tài sản cố định),... 2.Tổ chức hệ thống sổ kế toán để ghi chép, tập hợp chi phí sản xuất Quy trình ghi sổ Sổ kế toán tổng hợp liên quan đến tiền lương, TSCĐ, VL,... Sổ kế toán tổng hợp TK 621,622,623,627 Sổ kế toán tổng hợp TK 154 Lập báo cáo kế toán Chứng từ kế toán Sổ kế toán chi tiết CPSX theo đối tượng Bảng tổng hợp chi tiết Sổ chi tiết chi phí sản xuất chung CPTT Kết chuyển Phân bổ CPSXC Cụ thể với phương pháp Nhật ký chứng từ thì quy trình đầy đủ như sau: Chứng từ gốc Nhật ký chứng từ số 1,2,5... Bảng kê số 3 Các bảng phân bổ Bảng kê số 4,5,6 Sổ chi tiết tài khoản loại 6 Sổ chi tiết TK 154 Nhật ký chứng từ số 7 Thẻ tính giá thành sản phẩm Sổ cái TK loại 6, TK154, 631 Báo cáo kế toán IV.ĐẶC ĐIỂM HẠCH TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TẠI MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI: 1. Tại Pháp: Theo hệ thống kế toán Pháp thì tất cả các khoản chi phí phát sinh trong quá trình hoạt động kinh doanh đều được tính vào giá thành không phân biệt chi phí đó thuộc loại nào. Có thể nói chi phí gồm hai bộ phận là chi phí mua hàng và phí tổn phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh. Trình tự hạch toán cụ thể có 4 bước như sau: -Bước 1: Tính giá tiếp liệu Giá phí của các nguyên liệu mua vào= Giá mua+Chi phí thu mua -Bước 2: Tính giá phí sản xuất Giá phí sản xuất bao gồm giá phí nguyên vật liệu đưa vào quá trình sản xuất và các chi phí sản xuất như chi phí nhân công, động lực, khấu hao... -Bước 3: Tính giá phí tiêu thụ (phân phối): Giá phí tiêu thụ (phân phối) bao gồm các khoản chi phí bỏ ra nhằm mục đích tiêu thụ sản phẩm như chi phí vận chuyển, bốc dỡ, quảng cáo... -Bước 4: Tính giá thành sản phẩm: Giá thành sản phẩm = Giá phí sản xuất + Giá phí tiêu thụ Về thực chất thì kế toán Pháp đã sử dụng hình thức KKĐK để tiến hành hạch toán tổng hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm, tuy nhiên nếu khoản mục giá thành trong kế toán Pháp bao gồm cả chi phí bán hàng thì trong kế toán Việt Nam giá thành sản phẩm chỉ là tổng chi phí sản xuất. 2.Tại Bắc Mỹ và Canada: Trong hệ thống kế toán Mỹ thì khoản mục giá thành cũng do sự cấu thành của ba yếu tố chi phí đó là: chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp và chi phí sản xuất chung nhưng trong phạm vi phân xưởng. Tức là toàn bộ chi phí được chia làm hai bộ phận trong đó: -Chi phí sản xuất (chi phí sản phẩm): là toàn bộ chi phí gắn liền với sản phẩm được sản xuất ra hoặc mua mới. -Chi phí ngoài sản xuất bao gồm các loại chi phí như: chi phí tiếp thị, chi phí quảng cáo sản phẩm. Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp và chi phí nhân công trực tiếp của từng sản phẩm được theo dõi riêng trên tài khoản sản phẩm dở dang của từng sản phẩm riêng biệt. Do vậy, ta chỉ cần phải phân bổ chi phí sản xuất chung theo các phương pháp như: phương pháp sản lượng, phương pháp chi phí lao động trực tiếp, phương pháp số giờ lao động trực tiếp, phương pháp số giờ máy chạy, phương pháp chi phí nguyên vật liệu trực tiếp. Đây là những khoản chi phí thời kỳ vì nó chỉ làm giảm lợi tức trong một kỳ nhất định nào đó chứ không tạo nên giá trị sản phẩm nên được khấu trừ từ lợi tức của kỳ mà nó phát sinh. Hệ thống kế toán mới của ta được áp dụng dựa trên cơ sở phương pháp tập hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm theo KKĐK và KKTX của Mỹ nên về bản chất chúng giống nhau. 3.Về hệ thống kế toán chi phí sản xuất của các nước: Hiện nay, trong mỗi hệ thống kế toán quốc gia của các nước tiên tiến có nền kinh tế thị trường trên thế giới như Mĩ, Anh, Pháp, Singapo,...kế toán tồn tại cùng lúc ba hệ thống kế toán chi phí sản xuất khác nhau, đó là: Kế toán chi phí thực tế, kế toán chi phí thông dụng và kế toán chi phí định mức.So sánh sự khác nhau về thời điểm tính giá thành sản phẩm, giá chi phí yếu tố đầu vào chi phí sản xuất của ba hệ thống kế toán chi phí theo bảng sau: Ktoán cphí sản xuất Cphí NVL Cphí NC Cphí sxc Thđiểm t/hợp cpsx và tínhZ Thực tế Thực tế Thực tế Thực tế Cuối kỳ Thông dụng Thực tế Thực tế Ước tính Bất cứ thời điểm nào Định mức Định mức Định mức Đ/mức Bất cứ thời điểm nào Thông tin ở bảng trên cho thấy tính linh hoạt của hệ thống kế toán chi phí sản xuất, tính chất linh hoạt của ba hệ thống này thể hiện: -Hệ thống kế toán chi phí thông dụng phù hợp với các loại hình doanh nghiệp muốn nhanh chóng có thông tin giá thành sản phẩm ở bất kỳ thời điểm nào, đến cuối kỳ, nhân viên kế toán tập hợp lại chi phí sản xuất đầy đủ theo thực tế để tính giá thành sản phẩm cho đúng. Hình thức này phù hợp với các doanh nghiệp ký kết được hợp đồng bằng hình thức đấu thầu. Khi đó, doanh nghiệp cần có một giá đấu thầu hợp lý đủ sức cạnh tranh với các doanh nghiệp khác, đồng thời lại mang lại lợi nhuận cho mình. -Hệ thống kế toán chi phí định mức phù hợp với các loại hình doanh nghiệp có quy trình công nghệ ổn định, có định mức kinh tế kỹ thuật tiên tiến chính xác và nguồn cung cấp nguyên vật liệu thường xuyên ít biến động. Giá thành định mức là thông tin chuẩn để phát hiện nhanh chóng sự thay đổi định mức và các khoản chênh lệch so với định mức, đến cuối kỳ, kế toán xử lý các khoản biến động chi phí thực tế so với định mức để tính đúng, đủ giá thành sản phẩm. -Hệ thống kế toán chi phí thực tế luôn luôn chính xác và phù hợp cho bất kỳ doanh nghiệp nào muốn tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành thực tế vào thời điểm cuối kỳ. Đây là hệ thống kế toán duy nhất mà nước ta đang áp dụng, tuy nhiên Việt Nam hiện nay đang phát triển nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước, tính phong phú và đa dạng của các loại hình doanh nghiệp Việt Nam đòi hỏi cần có sự linh hoạt trong hệ thống kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm cho phù hợp. Tuy nhiên để bổ xung được hai hệ thống này thì trước hết, Bộ Tài Chính phải cho phép ước tính phân bổ chi phí sản xuất chung trong kỳ, đồng thời ban hành đồng bộ hệ thống chứng từ, cách xây dựng định mức chi phí, tài khoản hạch toán, phương pháp hạch toán, phương pháp xử lý biến động chi phí cuối kỳ... CHƯƠNG II THỰC TRẠNG CÔNG TÁC HẠCH TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TẠI CÔNG TY ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN HẠ TẦNG ĐÔ THỊ I. ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA CÔNG TY ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN HẠ TẦNG ĐÔ THỊ 1. Quá trình hình thành và phát triển của công ty: Công ty Đầu tư phát triển hạ tầng đô thị ngày nay, tiền thân là Công ty San nền thuộc Sở Xây dựng Hà Nội được thành lập vào tháng 10/1971 với nhiệm vụ chính là vận chuyển cát san lấp chuẩn bị mặt bằng xây dựng các công trình. Năm 1987 được tăng cường năng lực với sự sát nhập với Xí nghiệp Cơ giới xây dựng thuộc Sở Xây dựng Hà Nội. Năm 1991 được thành lập theo Nghị định 388/HĐBT, được đổi tên thành Công ty xây dựng công trình kĩ thuật hạ tầng, thành lập doanh nghiệp nhà nước theo quyết định số 317/QĐ-UB ngày 19/1/1993, ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội. Ngày 5/1/1996 công ty được đổi tên thành Công ty Đầu tư phát triển hạ tầng đô thị và ngày 26/3/1999 công ty được giao thêm một số chức năng, nhiệm vụ khác. Công ty Đầu tư phát triển hạ tầng đô thị - tên giao dịch quốc tế UDIC (Urban Infranstructure Development Investement Company) có trụ sở chính đặt tại 29 - Huỳnh Thúc Kháng - Đống Đa - Hà Nội là một doanh nghiệp nhà nước có tư cách pháp nhân, hạch toán kinh tế độc lập, có tài khoản số 7301 - 0085A tại Ngân hàng Đầu tư và phát triển Hà Nội. Nhiệm vụ và chức năng hoạt động của công ty bao gồm: Tư vấn đầu tư xây dựng; đầu tư xây dựng các hình thức BT, BOT, BTO, BCC, BOO; thi công xây lắp; sản xuất kinh doanh vật liệu xây dựng; kinh doanh xuất nhập khẩu. 2. Nguyên tắc hoạt động và quản lý của công ty Công ty thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, chế độ thủ trưởng trong quản lý, điều hình mọi hoạt động của công ty trên cơ sở thực hiện quyền làm chủ tập thể của cán bộ công nhân viên công ty. Để thực hiện chức năng nhiệm vụ được giao, Giám đốc công ty tổ chức các phòng ban chuyến môn nghiệp vụ giúp đỡ giám đốc trong các lĩnh vực công tác. Các xí nghiệp trực thuộc thực hiện chức năng tổ chức sản xuất kinh doanh theo phương thức hạch toán phụ thuộc theo quy định và phân cấp quản lý của giám đốc công ty. Công ty thành lập ra các xí nghiệp trực thuộc, các xí nghiệp này đều có chức năng thực hiện các nhiệm vụ thi công xây dựng, san nền, thi công các công trình hạ tầng...Các xí nghiệp có bộ máy điều hành riêng gồm: Giám đốc, các phó giám đốc, các ban nghiệp vụ giúp giám đốc quản lý và bộ phận trực tiếp sản xuất, hoạt động trên cơ sở giấy phép hành nghề được cơ quan có thẩm quyền cấp. Các xí nghiệp được công ty giao cho một số tài sản như: Nhà xưởng, máy móc thiết bị, cơ sở vật chất tương ứng để bảo đảm sản xuất, tự chịu trách nhiệm về mọi hoạt động và kết quả kinh doanh của mình, thực hiện chế độ lời ăn lỗ chịu. SƠ ĐỒ 2.1 SƠ ĐỒ TỔ CHỨC BỘ MÁY QUẢN LÝ CỦA CÔNG TY Ban giám đốc công ty Giám đốc công ty Các phó giám đốc Trung tâm tư vấn đầu tư xây dựng Công ty Liên doanh Ban quản lý dự án: Trung Yên Thành Công Phòng tổ chức quản trị hành chính Phòng Kế toán tài vụ Phòng kế hoạch kĩ thuật tổng hợp XN xây lắp công trình XN đầu tư xây dựng 1 XN cơ giới công trình Công ty TNHH Nam Thăng Long Công ty cổ phần Hà Thành XN công trình 1 * Giám đốc công ty: Đứng đầu bộ máy quản lý, là đại diện pháp nhân của công ty trong các quan hệ đối tác, được Sở xây dựng bổ nhiệm, chịu trách nhiệm trước Sở, UBND thành phố về toàn bộ kết quả kinh doanh của công ty cũng như việc thực hiện nghĩa vụ với nhà nước. * Phó giám đốc: Là người giúp việc cho giám đốc trong công tác điều hành công tác sản xuất cũng như các hoạt động khác của công ty. * Phòng kế hoạch kĩ thuật tổng hợp: Giúp giám đốc công ty các mặt công tác sau: - Tổng hợp, xây dựng và tổ chức kế hoạch sản xuất kinh doanh ngắn hạn, dài hạn của công ty bao gồm các lĩnh vực: thi công xây lắp, sản xuất vật liệu xây dựng, đầu tư vật liệu kinh doanh mặt bằng, kinh doanh nhà bán và cho thuê, liên doanh liên kết trong và ngoài nước, nghiên cứu khoa học và đổi mới công nghệ, thiết bị.. .. - Quản lý trực tiếp công tác kế hoạch và hợp đồng kinh tế phần thi công xây lắp và sản xuất nguyên vật liệu xây dựng của công ty. - Quản lý và thực hiện công tác kĩ thuật khảo sát, thiết kế thi công xây dựng, chủ động tiếp cận thị trường, mở rộng giao dịch giải quyết việc làm cho công ty. - Tổ chức thực hiện công tác KHKT chất lượng công trình, an toàn lao động. Nghiên cứu ứng dụng các đề tài tiến bộ KHKT vào sản xuất, thi công của đơn vị. - Ngoài quyền hạn quy định chung cho các phòng ban, phòng Kế hoạch còn được uỷ quyền trực tiếp điều hành việc thực hiện sản xuất kinh doanh bằng các lệnh vận chuyển, soạn thảo hợp đồng kinh tế, hợp đồng khoán gọn nội bộ, hạn mức tiêu thụ vật tư cho các công trình. * Phòng đầu tư phát triển: Giúp giám đốc công ty các mặt công tác sau: - Lập dự án đầu tư xây dựng, đầu tư chiều sâu đổi mới công nghệ, thiết bị và tổ chức triển khai thực hiện các dự án đầu tư xây dựng, đầu tư chiều sâu, liên doanh liên kết với các đơn vị trong và ngoài ngành, kể cả với đối tác nước ngoài. - Tổ chức và quản lý kinh doanh mặt bằng xây dựng, kinh doanh nhà bán và cho thuê, thực hiện dịch vụ đầu tư xây dựng, tham mưu giúp giám đốc công ty từng bước mở rộng sản xuất kinh doanh theo quy định của nhà nước và thành phố. - Thực hiện chức năng xuất nhập khẩu lao động, thiết bị, vật tư. - Soạn thảo hợp đồng kinh tế với các xí nghiệp trong công ty theo sự chỉ đạo của giám đốc. - Giúp giám đốc công ty quản lý, điều hành các ban quản lý dự án trực thuộc. * Phòng kế toán tài vụ: - Giúp giám đốc thực hiện mọi hoạt động sản xuất kinh doanh theo pháp lệnh kế toán thống kê hiện hành của nhà nước. - Quản lý vốn và phát huy hiệu quả đồng vốn của công ty. - Thực hiện toàn bộ công tác tài chính kế toán thống kê, thông tin kinh tế và hạch toán kinh tế, quản lý giá thành các hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty. Thực hiện các quy định tại pháp lệnh kế toán thống kê của nhà nước. - Tổ chức hướng dẫn thực hiện công tác tài chính kế toán thống kê với tất cả các phòng ban, đơn vị trực thuộc. * Phòng tổ chức quản trị hành chính: Giúp giám đốc công ty thực hiện những công việc sau: - Tham mưu xây đựng và tổ chức thực hiện phương án tổ chức, bộ máy của công ty, công tác quy hoạch đào tạo, bố trí sử dụng cán bộ công nhân viên của công ty nhất là cán bộ lãnh đạo, cán bộ quản lý chủ chốt và lực lượng công nhân kĩ thuật của các đơn vị trực thuộc. - Tổ chức thực hiện các chính sách của nhà nước đối với cán bộ công nhân viên trong công ty. Thiết lập các quy định và hướng dẫn thực hiện công tác quản lý lao động và tiền lương, tiền thưởng đối với các đơn vị và toàn công ty. Thực hiện công tác bảo vệ an ninh chính trị nội bộ, công tác thi đua khen thưởng và kỉ luật, công tác an toàn và bảo hộ lao động. - Tổ chức quản lý toàn bộ cơ sở vật chất gồm nhà xưởng, đất đai, thiết bị, phương tiện của công ty. Hướng dẫn kiểm tra các xí nghiệp trong khâu quản lý, sử dụng, bảo quản và bảo dưỡng thiết bị theo quy chế của công ty. - Lập kế hoạch phương tiện thiết bị và hướng dẫn tổ chức thực hiện giúp các xí nghiệp bảo tồn, phát triển số lượng, chất lượng phương tiện nhằm đáp ứng yêu cầu sản xuất của công ty. - Quản lý nhà nước về các loại vật tư phục vụ cho các công trình của công ty, thi công đúng, đầy đủ, kịp thời về số lượng, chủng loại theo phân cấp của công ty. - Tổ chức thực hiện công tác hành chính quản trị trong công ty, công tác chăm sóc bảo vệ sức khỏe cho cán bộ công nhân viên trong công ty. 3. Đặc điểm về tổ chức bộ máy kế toán và hình thức kế toán của công ty: Phòng kế toán được đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của ban giam đốc công ty, có trách nhiệm tổ chức thực hiện và kiểm tra toàn bộ công tác kế toán, tổng hợp các công tác thống kê tổ chức hướng dẫn, chỉ đạo bộ phận kế toán của các xí nghiệp thành viên và các công ty liên doanh: xí nghiệp xây lắp công trình; xí nghiệp công trình 1; xí nghiệp đầu tư xây dựng số 1; xí nghiệp cơ giới công trình; công ty TNHH phát triển khu đô thị Nam Thăng Long; công ty cổ phần phát triển Hà Thành. Do chức năng nhiệm vụ khá phức tạp nên để phù hợp với đặc điểm sản xuất kinh doanh và chế độ hạch toán kế toán thì bộ máy kế toán của công ty được thực hiện tập trung như sau: SƠ ĐỒ 2.2 SƠ ĐỒ TỔ CHỨC BỘ MÁY KẾ TOÁN Kế toán trưởng Thủ quỹ Kế toán thanh toán Kế toán giá thành Kế toán TSCĐ, NVL Phòng kế toán của công ty có các nhiệm vụ cụ thể sau: -Thực hiện công tác phân tích hoạt động kinh tế và quyết toán tài chính của công ty theo tháng, quý, năm.. .. -Hướng dẫn các phòng, ban của xí nghiệp thu thập các số liệu, hoàn chỉnh hồ sơ để kịp thời hoàn thành quyết toán công trình, thu hồi vốn nhanh. -Lập kế hoạch thực hiện và tổ chức công tác thu chi tài chính, đề ra phương pháp thực hiện kỷ luật thu nộp, thanh toán. Kiểm tra việc quản lý và sử dụng tài sản, vật tư, tiền vốn. Phát hiện và ngăn chặn kịp thời những hoạt động sản xuất kinh doanh có khả năng dẫn đến thua lỗ, những hoạt động tham ô, lãng phí, vi phạm chế độ chính sách quản lý tài chính, kỷ luật kinh tế của nhà nước. -Nghiên cứu, đề xuất và tổ chức thực hiện việc giao vốn, mở tài khoản chuyên chi và phân cấp tài chính cho các xí nghiệp trực thuộc. Lập quy trình cho vay và thu hồi vốn với các đơn vị nhằm tăng khả năng tự chủ của các đơn vị trong sản xuất kinh doanh. -Theo dõi quản lý toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh của các đơn vị trực thuộc và của toàn công ty, chịu trách nhiệm toàn diện về nền tài chính công ty. Chức năng, nhiệm vụ cụ thể của các thành viên phòng kế toán như sau: 1.Trưởng phòng kế toán kiêm kế toán tổng hợp: Có nhiệm vụ hướng dẫn chỉ đạo kiểm tra công việc do các kế toán viên thực hiện, tổ chức hướng dẫn công tác hạch toán phụ thuộc đối với các xí nghiệp trực thuộc, đồng thời chịu trách nhiệm trước giám đốc, cấp trên về các thông tin do kế toán cung cấp. 2. Kế toán tài sản cố định và vật liệu: Kế toán tài sản cố định: có nhiệm vụ theo dõi tình hình biến động: tăng, giảm, sửa chữa, sử dụng tài sản cố định, tính và trích khấu hao tài sản của công ty. Kế toán vật liệu: có nhiệm vụ tổ chức ghi chép theo dõi, phản ánh số liệu về tình hình thu mua, tiêu thụ, vận chuyển, nhập xuất tồn các loại vật liệu. Tính giá thành thực tế của các loại vật liệu đó đảm bảo nguyên vật liệu đầy đủ, kịp thời đáp ứng được nhu cầu sản xuất kinh doanh. 3. Kế toán thanh toán: Có nhiệm vụ theo dõi các khoản phải thu khách hàng tương ứng với từng loại thời hạn thanh toán, từng khoản nợ phải trả, phải thu. Ngoài việc theo dõi các khoản nợ của khách hàng, với nhà cung cấp thì kế toán thanh toán còn phải hoàn thành việc thanh toán với cán bộ công nhân viên của công ty về các khoản như lương, trợ cấp. 4. Kế toán giá thành: Có nhiệm vụ theo dõi từng công trình hoàn thành, quyết toán giá trị, tập hợp chi phí của từng công trình hoàn thành, từ các nhật kí chứng từ, bảng kê tính ra giá thành công trình. 5. Thủ quỹ: Có nhiệm vụ ghi sổ quỹ, thực hiện việc thanh toán với khách hàng, nhà cung cấp, cán bộ công nhân viên công ty. *Tại các xí nghiệp trực thuộc cũng có bộ phận kế toán nhưng nhiệm vụ chủ yếu chỉ là thống kê như thống kê tiền lương. Nhiệm vụ cụ thể như sau: Được quyền quyết định phân phối tiền lương, tiền thưởng theo kết quả lao động sau khi đã thực hiện đầy đủ các phần thu nộp ngân sách và bù đắp các khoản chi phí khác; được phép chi một số khoản trong quá trình hoạt động để đảm bảo sản xuất kinh doanh theo quy định của công ty; thực hiện chế độ báo cáo thống kê, kiểm kê theo quy định của công ty và của nhà nước. *Tại các công ty liên doanh thì hạch toán độc lập nhưng vẫn chịu sự giám sát, chỉ đạo, kiểm tra của bộ phận kế toán công ty. Công tác tổ chức sổ kế toán của công ty: Hiện nay công ty đang áp dụng phần mềm kế toán BSC thay cho việc hạch toán bằng tay trước kia. Công ty sử dụng hình thức sổ Nhật ký chứng từ để hạch toán các nghiệp vụ đáp ứng nhu cầu cung cấp thông tin và bộ máy kế toán có trình độ chuyên môn cao. Hằng ngày căn cứ vào các chứng từ gốc, kế toán ghi các nghiệp vụ kinh tế phát sinh vào sổ cái, từ các số liệu trên sổ cái vào bảng cân đối số phát sinh, từ các hoá đơn chứng từ vào các nhật ký chứng từ, bảng kê, bảng phân bổ, sổ chi tiết; từ bảng phân bổ và sổ chi tiết vào bảng tổng hợp chi tiết; bảng tổng hợp chi tiết kết hợp bảng cân đối số phát sinh để lập báo cáo kết quả kinh doanh và bảng cân đối kế toán hàng quý; vào cuối năm lập thêm thuyết minh báo cáo tài chính. Các báo cáo của công ty được lập theo quyết định số 167/2000/QĐ-BTC; Công ty không sử dụng báo cáo lưu chuyển tiền tệ. Các báo cáo được lập của công ty bao gồm: Bảng tổng kết tài sản Báo cáo kết quả kinh doanh Bảng cân đối số phát sinh Bảng cân đối kế toán Thuyết minh báo cáo tài chính CHỨNG TỪ GỐC Bảng kê NKCT Bảng phân bổ Sổ cái Bảng cân đối số phát sinh Báo cáo tài chính Ghi hàng ngày Ghi cuối kỳ Quan hệ đối chiếu 4.Tổ chức sản xuất tại công ty Đầu tư phát triển hạ tầng đô thị Khi đất nước ta chuyển từ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường thì công ty Đầu tư phát triển hạ tầng đô thị phải tự xây dựng kế hoạch sản xuất để có thể cạnh tranh trong công tác đấu thầu các công trình xây dựng. Công ty giao quyền chủ động cho các xí nghiệp tự kinh doanh hoặc thực hiện giao khoán nội bộ sau khi công ty đã thắng thầu. Sau khi thắng thầu, công ty tiến hành ký hợp đồng xây dựng với các đơn vị chủ đầu tư rồi giao khoán cho các xí nghiệp. Quá trình tổ chức sản xuất kinh doanh của công ty Đầu tư phát triển hạ tầng đô thị được khái quát như sau: Dự thầu Tiếp nhận hợp đồng Lập kế hoạch Thi công Thanh lý hợp đồng Quyết toán và kiểm tra kết quả Nghiệm thu và bàn giao Do thực hiện có hiệu quả kế hoạch sản xuất kinh doanh nên công ty không những đứng vững trong cơ chế thị trường mà còn được xem là một trong những doanh nghiệp tiêu biểu của Sở xây dựng Hà Nội. Kết quả sản xuất kinh doanh trong mấy năm qua của công ty được thể hiện trong bảng sau: Đơn vị: 1000đ Chỉ tiêu 1997 1998 1999 2000 I.Doanh thu t/thụ 27.300.800 33.317.000 40.000.000 50.000.000 II.Thuế 3.003.379 2.526.917 1.663.870 1.349.166 1.Doanh thu 1.156.022 1.799.902 64.429 31.869 2.Lợi tức 1.339.038 453.000 459.640 301.387 3.Sử dụng vốn 238.361 93.230 306.155 190.805 4.Môn bài 850 850 850 850 5.Sử dụng đất 268.637 179.935 87.788 124.254 II

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docBC1788.DOC