Đồ án Trung tâm điều hành thông tin viễn thông điện lực Việt Nam - EVN

Để kiểm tra chiều sâu hố khoan, dùng loại dây mềm dài ít thấm nước có chia độ đến cm. Một đầu được cố định vào tang quay, một đầu gắn quả rọi chừng 1 kg. Thả dây mềm xuống từ từ, khi quả rọi chạm bề mặt lớp bùn khoan căn cứ số đọc trên dây ta xác định được chiều sâu từ miệng ống vách đến đáy hố khoan. Trong thực tế để xác định chính xác điểm dừng, khi khoan người ta lấy mẫu cho từng địa tầng khác nhau và phần cuối cùng nên lấy mẫu cho từng gầu khoan.

Quá trình khoan không thể đưa hết đất ra khỏi lỗ khoan, nhất là khi thay các mũi khoan phá các lớp đất cứng. Do đó, người giám sát phải kiểm tra chiều sâu và độ sạch của hố khoan, nếu chưa đạt yêu cầu dùng gầu vét để vét sạch đất đá rơi trong đáy hố khoan.

Tiến hành kiểm tra lại chiều sâu hố khoan, lượng bùn đất còn đọng lại đáy lỗ trước khi tiến hành bước tiếp theo.

Chú ý: Trong quá trình khoan tạo lỗ, cần ghi chép đầy đủ các số liệu, có thể kèm theo chụp hình các lớp đất, chiều sâu hố khoan. để làm số liệu cho việc kiểm tra, kiểm định, bàn giao cũng như làm cơ sở cho các hồ sơ sau này.

 

docx166 trang | Chia sẻ: lethao | Ngày: 27/03/2013 | Lượt xem: 1356 | Lượt tải: 3download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đồ án Trung tâm điều hành thông tin viễn thông điện lực Việt Nam - EVN, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ính lớn hơn đường kính gầu khoan khoảng 100mm, dài 6m được đặt ở phần trên miệng hố khoan và lên khỏi mặt đất 0,6m. Ống vách dẫn hướng có tác dụng: - Định vị và dẫn hướng cho máy khoan tạo cho mũi khoan đi thẳng theo trục cọc. - Giữ ổn định cho hố khoan, đảm bảo không bị sập thành phía trên hố khoan. Chống các tác động phía trên mặt đất trong qua trình thi công dễ gây lở vách hố khoan hoặc biến dạng hố khoan. - Ngoài ra, ống vách còn làm điểm tựa đỡ tạm và thao tác cho việc buộc nối và thao tác cốt thép, khi hạ lồng thép, lắp dựng và tháo dỡ ống đổ bê tông … - Ống vách được thu hồi lại sau khi đổ bê tông cọc nhồi xong. Ống vách được hạ xuống bằng nhiều phương pháp: - Phương pháp rung: Sử dụng búa rung thông dụng thường hạ 6m ống vách trong vòng 10 phút nhưng quá trình rung ảnh hưởng đến toàn bộ khu vực lân cận. Để khắc phục hiện tượng trên trước khi hạ ống vách ngưòi ta đào sẵn một hố sâu khoảng 2,5 đến 3m nhằm để bóc bỏ lớp đất cứng trên bề mặt nền đất. Biện pháp này làm giảm thời gian rung của búa xuống còn 2¸3 phút và giảm ảnh hưởng đến công trình lân cận. - Phương pháp ép: Người ta sử dụng máy ép để ép ống vách xuống độ sâu cần thiết, phương pháp này chánh được rung động nhưng thiết bị ép và tải lại cồng kềnh, khó khăn cho việc thi công và bố trí mặt bằng. - Phương pháp thông dụng hiện nay là sử dụng chính máy khoan với gầu có lắp thêm đai cắt để mở rộng đường kính, khoan một lỗ có đường kính khoan mồi bằng đường kính ngoài của ống vách đến hết độ sâu của ống vách sử dụng cần cẩu hoặc máy đào đưa ống vách vào vị trí, hạ ống vách xuống đúng cao trình cần thiết, cũng có thể dùng cần Kelly Bar để gõ nhẹ lên ống vách, điều chỉnh độ thẳng đứng và đưa ống vách đến vị trí. Sau khi đặt ống vách xong phải chèn chặt ống vách bằng đất sét kết hợp kiểm tra, điều chỉnh tim ống vách trùng với tim cọc. Nêm chặt cố định ống vách, không cho ống vách dịch chuyển trong quá trình khoan. Yêu cầu: ống vách kín khít, mặt trong và ngoài nhẵn phẳng, tránh bùn, cát lẫn vào. Khoan tạo lỗ - Do dung dich bentonite có tầm ảnh hưởng quan trọng tới quá trình thi công nên trước khi khoan phải kiểm tra lại chất lượng và hệ thống cung cấp bentonite. - Kiểm tra lại các thiết bị khoan, cần khoan, dây cáp, gầu đào... - Điều chỉnh độ nằm ngang của máy khoan và độ thẳng đứng của cần khoan bằng máy kinh vĩ (kiểm tra theo 2 phương vuông góc). - Chọn máy khoan Hitachi - KH125. - Cần máy khoan có cấu tạo gồm 3 ống lồng vào nhau và chuyền được chuyển động xoay. Ống trong cùng gắn với gầu khoan, ống ngoài cùng gắn với động cơ xoay của máy khoan. - Để xác định chiều sâu hố khoan người ta dùng 1 quả dọi đáy đường kính 5cm buộc vào đầu thước dây thả xuống để đo. Trong suốt quá trình đào người ta kiểm tra độ thẳng đứng của cọc thông qua cần khoan. - Trong khi khoan ta sẽ sử dụng các loại gầu khoan để khoan các lớp đất có địa chất khác nhau nhằm đạt hiệu quả cao nhất: + Khi khoan lớp đất cát sỏi dùng gầu thùng. + Khi khoan lớp đất sét, sét rắn dùng gầu khoan kiểu guồng xoắn. Xác định độ sâu hố khoan Để kiểm tra chiều sâu hố khoan, dùng loại dây mềm dài ít thấm nước có chia độ đến cm. Một đầu được cố định vào tang quay, một đầu gắn quả rọi chừng 1 kg. Thả dây mềm xuống từ từ, khi quả rọi chạm bề mặt lớp bùn khoan căn cứ số đọc trên dây ta xác định được chiều sâu từ miệng ống vách đến đáy hố khoan. Trong thực tế để xác định chính xác điểm dừng, khi khoan người ta lấy mẫu cho từng địa tầng khác nhau và phần cuối cùng nên lấy mẫu cho từng gầu khoan. Quá trình khoan không thể đưa hết đất ra khỏi lỗ khoan, nhất là khi thay các mũi khoan phá các lớp đất cứng. Do đó, người giám sát phải kiểm tra chiều sâu và độ sạch của hố khoan, nếu chưa đạt yêu cầu dùng gầu vét để vét sạch đất đá rơi trong đáy hố khoan. Tiến hành kiểm tra lại chiều sâu hố khoan, lượng bùn đất còn đọng lại đáy lỗ trước khi tiến hành bước tiếp theo. Chú ý: Trong quá trình khoan tạo lỗ, cần ghi chép đầy đủ các số liệu, có thể kèm theo chụp hình các lớp đất, chiều sâu hố khoan... để làm số liệu cho việc kiểm tra, kiểm định, bàn giao cũng như làm cơ sở cho các hồ sơ sau này. Hạ lồng cốt thép Cốt thép được buộc sẵn thành từng lồng, vận chuyển và đặt lên giá từng hố khoan. Sau khi kiểm tra hố khoan nếu lớp bùn cát lắng dưới đáy hố khoan không quá 10 cm thì tiến hành hạ lồng cốt thép. Cốt thép được hạ xuống lỗ khoan từng lồng một, treo tạm thời lên miệng ống vách bằng cách ngáng qua các đai tăng cường buộc sẵn. Dùng cẩu đưa các lồng thép tiếp theo tới nối với lòng dưới và tiếp tục hạ xuống tới khi hạ xong. Lồng cốt thép được cố định vào miệng ống bằng 4 thanh thép f16 hàn vào khung cốt thép trên cùng và treo vào thành ống vách hoặc có thể hàn 4 f16 vào thành ống. Khi thi công hạ cốt thép dùng cần cẩu. Hạ lồng cốt thép Lắp ống đổ bê tông Ống đổ bê tông có đường kính từ 25¸30 cm, làm thành từng đoạn dài 3m; một số đoạn có chiều dài 2m; 1,5m; 1m; để có thể lắp ráp tổ hợp tuỳ thuộc vào chiều sâu hố đào. Có hai cơ chế nối ống là nối bằng ren và nối bằng cap. Nối bằng cáp thường nhanh và thuận lợi hơn. Chỗ nối ống thường có gioăng cao su để ngăn cản dung dịch Bentonite thâm nhập vào ống đổ và được bôi mỡ cho việc tháo lắp ống đổ bê tông được dễ dàng. Ống đổ bê tông được lắp dần từ dưới lên. Để lắp ống đổ bê tông người ta dùng một hệ giá đỡ đặc biệt có cấu tạo như thang thép đặt qua miệng ống vách, trên thang có hai nửa vành khuyên có bản lề. Khi hai nửa này sập xuống sẽ tạo thành vòng tròn ôm khít lấy thân ống đổ bê tông . Miệng mỗi đoạn ống đổ có đường kính to hơn và được giữ lại trên hai nửa vành khuyên đó và như vậy ống đổ bê tông được treo trên miệng ống vách qua giá đặc biệt này. Đáy dưới của ống đổ bê tông được đặt cách đáy hố khoan 20 ¸ 30 cm để tránh tắc ống do đất đá dưới đáy hó khoan nút lại Xử lý cặn lắng đáy hố khoan Trong công nghệ khoan ướt các hạt mịn, cát lơ lửng trong dung dịch Bentônite lắng xuống tạo thành lớp bùn đất, lớp này ảnh hưởng tới khả năng chịu tải của cọc. Do quá trinh hạ lồng cốt thép và lắp ống đổ bê tông các hạt cát tiếp tục lắng xuống đáy hố khoan nên sau khi lắp ống đổ bê tông xong ta đo lại chiều sâu đáy hố khoan, nếu lớp lắng này lớn hơn 10 cm so với khi kết thúc khoan thì phải tiến hành xử lý cặn. Có hai phương pháp xử lý cặn lắng đáy hố khoan trong thi công cọc khoan nhồi đó là: Phương pháp thổi rửa dùng khí nén và phương pháp tuần hoàn dung dịch Bentonite. -Phương pháp thổi rửa dùng khí nén (air-lift) Trong phương pháp này người ta dùng ngay ống đổ bê tông làm ống xử lý cặn lắng. Sau khi lắp xong ống đổ bê tông người ta lắp đầu thổi rửa lên đầu trên của ống đổ, đầu thổi rửa có hai cửa, một cửa được nối với ống dẫn f 150 để thu hồi dung dịch Bentonite và bùn đất từ đáy hố khoan về thiết bị lọc dung dịch. Một cửa khác được thả ống khí nén f45, ống này dài bằng khoảng 80% chiều dài cọc. Khi bắt đầu thổi rửa, khí nén được thổi qua đường ống f45 nằm bên trong ống đổ bê tông với áp lực khoảng 7 kG/cm2, áp lực này được giữ liên tục. Khí nén ra khỏi ống khi nén f45 quay lại thoát lên trên ống đổ tạo thành một áp lực hút ở đáy ống đổ đưa dung dịch Bentonite và bùn đất, cát lắng theo ống đổ bê ông đến máy lọc dung dịch. Quá trình thổi rửa đáy hố khoan này phải liên tục cấp bù dung dịch Bentonite cho cọc để đảm bảo cao trình dung dịch Bentonite không thay đổi Thời gian thổi rửa bằng phương pháp air lift thường kéo dài 20 ¸ 30 phút. Sau đó ngừng cấp khí nén, dùng thước đo độ sâu. Nếu độ sâu được đảm bảo, cặn lắng nhỏ hơn 10 cm thì kiểm tra dung dịch Bentônite lấy ra từ đáy lỗ khoan. Lòng hố khoan được coi là sạch khi dung dịch Bentônite thoã mãn các điều kiện: Tỷ trọng: 1,04 ¸ 1,2 g/cm3. Độ nhớt: h = 20 ¸ 30 s. Độ pH: 9 ¸ 12. -Phương pháp luân chuyển Bentonite: (Bentonite circulation). Trong phương pháp này ngưòi ta sử dụng một máy bơm bùn Tubin công suất khoảng 40 ¸60 m3/h treo vào một sợi cáp và dùng cần cẩu hạ xuống đáy hố khoan nhưng luôn luôn nằm trong ống đổ bê tông. Một đường ống có đường kính khoảng 80¸100 mm được gắn vào đầu trên của bơm và được cố định vào cáp treo máy bơm, ống này đưa dung dịch Bentonite về máy lọc trong quá trình luân chuyển dung dịch Bentonite luôn luôn được cấp vào miệng hố khoan. Đến khi dung dịch Bentonite đưa ra đạt chỉ tiêu sạch và đạt độ lắng đạt yêu cầu £ 10 cm thì có thể kết thúc công đoạn luân chuyển Bentonite. Đổ bê tông cọc Để đổ bê tông cọc khoan nhồi ta dùng phương pháp vữa dâng kết hợp vơi rút ống đổ. Trước khi đổ bê tông người ta đặt một quả cầu xốp (hoặc nút bấc) có đường kính bằng đường kính trong của ống đổ, nút ngay đầu trên của ống đổ để ngăn cách bê tông và dung dịch Bentônite trong ống đổ, sau này nút bấc đó sẽ nổi lên và được thu hồi. Trong quá trình đổ bê tông ống đổ được rút dần lên nhưng đảm bảo sao cho ống luôn luôn ngập trong vữa bê tông tối thiểu 2m. Công việc này phải được theo dõi sát sao vì nếu sai sót cọc sẽ lập tức bị hỏng vì đứt, bê tông cọc sẽ không còn được liên tục. Đổ bê tông vào đầy phễu, cắt sợi giây thép treo nút, bê tông đẩy nút bấc xuống và tràn vào đáy lỗ khoan. Mẻ đầu tiên theo quả cầu chảy ra ngoài nhờ nâng ống cách đáy 20cm. Tốc độ cung cấp bê tông ở phễu cũng phải được giữ điều độ, phù hợp với vận tốc di chuyển trong ống. Không nhanh quá gây tràn ra ngoài, chậm quá cũng gây nhiều hậu quả xấu, dòng bê tông có thể bị gián đoạn. Khi đổ bê tông vào hố khoan thì dung dịch Bentônite sẽ trào ra lỗ khoan, do đó phải thu hồi Bentonite liên tục sao cho dung dịch không chảy ra quanh chỗ thi công. Tốc độ thu hồi dung dịch cũng phải phù hợp với tốc độ cấp bê tông. Nếu thu hồi chậm quá dung dịch sẽ tràn ra ngoài. Nếu thu hồi nhanh qua thì áp lực giữ thành bị giảm gây ra sập vách hố khoan. Quá trình đổ bê tông được khống chế trong vòng 4 giờ. Để kết thúc quá trình đổ bê tông cần xác định cao trình cuối cùng của bê tông. Do phần trên của bê tông thường lẫn vào bùn đất nên chất lượng xấu cần đập bỏ sau này, do đó cần xác định cao trình thật của bê tông chất lượng tốt trừ đi khoảng 1 m phía trên. Ngoài ra phải tính toán tới việc khi rút ống vách bê tông sẽ bị tụt xuống do đường kính ống vách to hơn lỗ khoan. Nếu bê tông cọc cuối cùng thấp hơn cao trình thiết kế phải tiến hành nối cọc. Ngược lại, nếu cao hơn quá nhiều dẫn tới đập bỏ nhiều gây tốn kém do đó việc ngừng đổ bê tông do nhà thầu đề xuất và giám sát hiện trường chấp nhận. Kết thúc đổ bê tông thì ống đổ được rút ra khỏi cọc, các đoạn ống được rửa sạch xếp vào nơi quy định. Rút ống vách Tháo dỡ sàn công tác, cất neo cốt thép vào ống vách. Ống vách được kéo lên từ từ bằng cần cẩu. Phải kéo thẳng đứng trách xê dịch đầu cọc. Nên gắn thiết bị rung vào ống vách để việc rút ống được dễ dàng. Sau khi rút ống vách phải lấp cát vào mặt hố cọc. Lấp hố thu bentonite tạo mặt phẳng, rào chắn tạm bảo vệ cọc. Không cho phép khoan cọc khác hoặc rung động trong vòng 24 tiếng kể từ khi kết thúc đổ bê tông trong phạm vi 5 D ( D là đường kính cọc). Kiểm tra chất lượng cọc sau khi thi công Công tác này nhằm đánh giá chất lượng bê tông cọc tại hiện trường, phát hiện các khuyết tật và xử lý cọc bị hư hỏng nếu có. Ở đây người ta dùng 4 phương pháp để kiểm tra chất lượng cọc nhồi: Phương pháp nén tĩnh: Đây là phương pháp tin cậy để thử sức chịu tải của cọc. Mục đích của phương pháp này là thử độ lún của cọc ở tải trọng thiết kế, xác định tải trọng giới hạn của cọc hoặc kiểm tra cường độ bê tông cọc. Nén tĩnh được thực hiện với kích thuỷ lực và hệ thống đối trọng hay hệ thống cọc neo. Quy trình thực hiện thí nghiệm trên theo quy phạm Anh: BS 8004- 1986. Các bước tiến hành : - Cấp tăng tải trọng bằng 25% so với tải dự kiến. - Độ lún giới hạn sau 1 giờ nhỏ hơn 0,25 mm mới cho phép tăng lên cấp tải mới. - Tăng đến tải trọng thiết kế dự kiến, quan sát độ lún cho đến khi độ lún <0.25mm/h. - Giảm tải về 0 và quan sát độ phục hồi của cọc với tốc độ <0.25mm/h hoặc trong 6 giờ. - Tiếp tục tăng cấp tải đến 1,25 lần tải trọng thiết kế, giữ trong 3 giờ. - Tăng tải 1,5 lần so với tải thiết kế và giữ tải trong vòng 24¸40h. - Giảm tải theo từng cấp, tại cấp bằng 0 tiến hành quan trắc trong 6h hoặc để độ phục hồi của cọc nhỏ hơn 0,25mm/h. Trên cơ sở thử tải cọc, biểu đồ độ lún của đầu cọc, sức chịu tải của cọc được xác định và tải trọng xác định với riêng từng cọc. Phương pháp này ngoài ưu điểm có độ tin cậy cao, độ sâu giới hạn thử tải không hạn chế thì có nhược điểm là thời gian chuẩn bị lâu, kinh phí lớn không mang tính đại diện cao (chỉ thử được 1-2 cọc ở hiện trường). b. Phương pháp đo sóng ứng suất (Thí nghiệm biến dạng nhỏ): Kiểm tra tính liên tục, đều đặn và khuyết tật của khối bê tông bằng siêu âm qua các lỗ chờ sẵn trong cọc. Cơ sở của phương pháp này là lý thuyết truyền sóng ứng suất trong thanh đàn hồi. Sóng này tạo ra khi búa đập vào đầu cọc, truyền từ đỉnh cọc tới mũi cọc với tốc độ phụ thuộc vào chất lượng bê tông cọc. Khi gặp thay đổi của kháng trở cơ học, một phần sóng ứng suất được phản hồi quay trở lại đầu cọc. Cường độ và dạng của sóng phản hồi phụ thuộc vào bản chất và mức độ thay đổi của kháng trở cơ học. Thiết bị thí nghiệm: Búa tạo chấn động 2 kg, đầu đo gia tốc của đầu cọc, các bộ phận ghi và đọc kết quả. Trong quá trình thí nghiệm, đầu đo gia tốc của cọc được gắn vào đầu cọc, sau đó dùng búa nhỏ đập vào đầu cọc tạo sóng ứng suất, kết quả đo được phân tích bằng máy tính. Các chương trình xử lý làm việc theo nguyên tắc điều chỉnh các thông số cơ học của cọc và của đất nền xung quanh sao cho biểu đồ sóng ứng suất xác định theo tính toán trùng hợp với biểu đồ đo được trong thí nghiệm. Công tác thí nghiệm tại hiện trường khá nhanh (20p/cọc). Đây là phương pháp đang được thực hiện rộng rãi do quy trình thực hiện đơn giản, thời gian thí nghiệm nhanh, giá thành thấp. Tuy nhiên độ sâu của cọc bị hạn chế (30 lần đường kính cọc, 24m hoặc 30m). Hơn nữa do xung chấn động nhỏ nên khi gặp khuyết tật lớn, sóng bị giảm yếu nhiều nên ít có khả năng phát hiện những khuyết tật ở độ sâu lớn hơn. c. Phương pháp khoan lấy mẫu: Bằng thiết bị khoan có thể lấy mẫu bê tông có đường kính từ 50- 150 mm từ những độ sâu khác nhau. Cũng có thể lấy mẫu liên tục theo chiều sâu. Quan sát mẫu tại hiện trường cho phép đánh giá sơ bộ chất lượng bê tông cọc. Ưu điểm: Chất lượng bê tông cọc được xác định chính xác bằng phương pháp trực tiếp . Nhược điểm: Số lượng mũi khoan nhiều ảnh hưởng đến sự làm việc của cọc, giá thành cao, tốn thời gian. d. Kiểm tra bằng siêu âm: Đây là một trong các phương pháp được sử dụng rộng rãi nhất. Phương pháp này đánh giá chất lượng bê tông và khuyết tật của cọc thông qua quan hệ tốc độ truyền sóng và cường độ bê tông. Để kiểm tra bằng phương pháp này người ta buộc sẵn 4 ống thép hình vào lồng thép trước khi hạ lồng thép. Sau khi đổ bê tông xong ta dùng thiết bị phát siêu âm thả vào trong một lỗ. Cứ 5 cm thì đo 1 lần và ghi kết quả. Dựa vào kết quả đo được mà phân tích chất lượng của bê tông. Ưu điểm: Nhanh, giá thành thấp, kết quả chính xác hơn rất nhiều so với phương pháp đo sóng âm, chiều sâu không bị hạn chế. Nhược điểm: Tín hiệu không quét được qua vành ngoài của cọc nên không biết được có bị hở cốt thép hay không. Kiểm tra lại trục cọc: dựa vào các mốc đã có sẵn, dùng máy hoặc thước dóng lại các trục để kiểm tra. Các sai số cho phép về lỗ cọc khoan nhồi. -Đường kính cọc : 0,1D và £ -50 mm -Độ thẳng đứng : 1%. -Sai số về vị trí: D/6 và không được lớn hơn 100. Bảng khối lượng kiểm tra chất lượng bê tông cọc: Thông số kiểm tra Phương pháp kiểm tra Tỷ lệ kiểm tra min(%) Sự nguyên vẹn của thân cọc So sánh thể tích bê tông đổ vào với thể tích hình học của cọc. Khoan lấy lõi. Siêu âm. Quan sát khuyết tật qua ống lấy lõi bằng Camera vô tuyến. 100 2% + phương pháp khác 10¸25%+ phương pháp khác. Cường độ bê tông thân cọc. Thí nghiệm mẫu lúc đổ bê tông. Thí nghiệm trên lõi lúc khoan. Theo tốc độ khoan (khoan thổi không lấy lõi). Súng bật nẩy hoặc siêu âm đối với bê tông đầu cọc. 2 % 35 1.4 TỔ CHỨC THI CÔNG CỌC KHOAN NHỒI - Thi công cọc nhồi đảm bảo nguyên tắc: + Khoan, thi công từ trong ra ngoài. + Thiết bị đi lại không làm ảnh hưởng tới cọc mới thi công. + Công tác định vị các cọc được dễ dàng không bị các phương tiện thi công làm mất dấu. + Thiết kế đầy đủ hệ thống cấp, thu hồi và xử lý dung dịch Bentonite bằng các hệ thống ống cứng và mềm đặt sát chân công trình. - Kiểm tra chất lượng cọc: Ta có thể lựa chọn 1 hoặc kết hợp các phương pháp kiểm tra chất lượng cọc đã được nêu ở mục 1.3.11. Tính thời gian thi công cho 1 cọc Lắp mũi khoan, di chuyển máy 20 phút. Thời gian hạ vách: ta đào mồi 6m hết 30 phút, sau đó đặt ống vách và điều chỉnh hết 20 phút. Sau khi đặt ống vách ta tiếp tục khoan sâu đến độ sâu -42,6m. Năng suất khoan 10 phút/1m thời gian khoan là (43,8 - 6).10 = 378 phút. Thời gian hạ lồng thép: Dùng móc phụ của cần khoan hoặc dùng cần cẩu thả lồng thép xuống điều chỉnh và cố định 30 phút . Thời gian thổi rửa: xử lý lắng cặn gồm 2 bước, bước 1 sau khi khoan xong và bước 2 trước khi đổ bê tông. Bước1 lấy 15 phút Bước 2 lấy 30 phút Thời gian đổ bê tông cọc: tốc độ đổ 0,6m3/phút Thể tích cọc52,2. = 92,2m3 Do đường kính thực tế lớn hơn đường kính cọc do vậy dự trù lượng tăng thêm 10% Thể tích bê tông cần đổ là: 92,2´1,1 = 101,5m3 Vậy thời gian đổ bê tông tông là 101.5 / 0,6 = 169phút. Vậy tổng thời gian đổ 1 cọc là 20+30+20+378+30+(15+30)+162 = 694 phút = 11.6giờ Dự trù để hoàn thành 1 cọc khoan nhồi hết 10 giờ = 1,5 ca. Tính số ca máy Vì công trình có số lượng cọc lớn (69 cọc) nên ta chọn biện pháp: Dùng 2 máy khoan cọc nhồi KH-125. Như vậy sẽ thi công trong vòng69/2 =35 ngày. Với mỗi máy khoan cọc nhồi ta phải sử dụng 1 máy bơm bentonite, vậy ta phải dùng 2 máy bơm bentonite. Dùng 2 máy bơm bê tông để phục vụ 2 máy khoan cọc nhồi. Vì máy bơm bê tông hay bị tắc nên ta dự phòng 1 máy bơm nữa. Vậy phải dùng tất cả là 3 máy bơm. Với mỗi cọc nhồi phải dùng 17 chuyến xe chở bê tông (xem mục 1.2.2) + Năng suất máy bơm là: 30m3/h 1 giờ cần 30 m3 bê tông + Mà 1 chuyến xe chở được 6 m3 bê tông, vậy số chuyến xe cần phải thực hiện trong 1 giờ là: 30/6 = 5 chuyến. + Chu kì 1 chuyến xe (bao gồm: lấy bê tông, chở đến công trường, trút bê tông ra, trở lại nhà máy): 6 + 15/40.60 + 6 + 15/40.60 = 57 phút 1 giờ. + Vậy số xe cần để vận chuyển bê tông là: 5/1 = 5 xe. Mà trong 1 ngày ta thi công 2 cọc, do đó ta phải dùng 5.2 = 10 xe ô tô vận chuyển bê tông. Tính số nhân công Theo định mức dự toán XDCB, số nhân công phục vụ cho 1m3 bê tông bao gồm các công việc: chuẩn bị, kiểm tra lỗ khoan và lồng cốt thép, lắp đặt ống đổ bê tông, giữ và nâng dẫn ống đổ là:1,1 giờ công/m3(Nhân công bậc 3,5/7). Do đó số công đổ bê tông cọc: 2x101,5/8 = 25.4 (công). Ta thi công 1,5 ca 1 ngày nên số công nhân cần thiết cho 1 cọc bê tông là 17 công nhân. Ngoài ra còn cần công nhân để làm các việc khác như sau: - Phục vụ trải tôn, hạ ống vách, … : 4 công nhân - Phục vụ trộn và cung cấp ben : 2.2 = 4 công nhân - Thợ hàn: định vị khung thép, hàn, sửa.. : 1.2 = 2 công nhân - Thợ điện : đường điện khu vực thi công : 1 công nhân - Cân chỉnh 2 máy kinh vĩ : 2 kỹ sư và 2 công nhân Tổng số người phục vụ trên công trường là: 32 người. 1.5 AN TOÀN LAO ĐỘNG KHI THI CÔNG CỌC KHOAN NHỒI - Đặc điểm: + Công trình thi công đất là chủ yếu, lượng máy móc cơ giới, đặc biệt là máy hạng nặng như khoan, cẩu nhiều. + Do công việc chính là khoan tạo lỗ nên nguy hiểm, mặt khác bùn đất đào nên nếu không vận chuyển kịp sẽ gây những bãi lầy khó khăn cho việc vận chuyển. + Khối lượng cần phải cẩu nhiều, vật cẩu là những vật khá nặng. + Điện sử dụng trên công trường là điện 3 pha, mặt khác dây cáp được kéo dưới mặt đất tới các vị trí sử dụng nên rất nguy hiểm đối với nền công trường là bùn nhão dễ gây sự cố nghiêm trọng nếu dây cáp hở. Biện pháp: + Phổ biến kiến thức và an toàn lao động, nội quy của công trường cho công nhân. + Kiểm tra an toàn máy móc trước khi đưa vào sử dụng. + Kiểm tra an toàn về điện cho các máy móc thiết bị. + Chỉ đưa máy móc vào công trường khi đã được kiểm định. + Có hàng rào ngăn cách, biển báo, biển chỉ dẫn. + Kiểm tra thiết bị, máy móc, an toàn vệ sinh cá nhân, dụng cụ phòng hộ lao động, chỗ làm việc để tránh tai nạn xảy ra. + Với những máy làm việc trên công trường tại chỗ như máy khoan cần dọn tuyến công tác sạch sẽ để máy vào vị trí công tác thuận lợi. Vị trí máy đứng phải luôn được rải các tấm tôn để tránh sa lầy cũng như đảm bảo độ nằm ngang của máy. + Các máy có tay cần khá dài do đó nếu đứng gần nhau quá dễ gây va chạm nguy hiểm. + Cần có các biển báo hiệu tại khu vực đang thi công hay mới thi công xong. + Công nhân cần được trang bị đầy đủ thiết bị bảo hộ lao động: mũ, ủng, găng tay, quần áo, kính hàn. 1.6 VỆ SINH MÔI TRƯỜNG Quá trình thi công cọc khoan nhồi thường có nhiều phế thải: đất mùn khi khoan lỗ, dung dịch giữ thành đã bị biến chất không thể sử dụng lại, hoặc vương vãi ra sau khi thi công. Tất cả những thứ này cùng với sự đi lại của máy móc và của công nhân khiến mặt bằng thi công cọc nhồi rất bẩn và lầy lội, cho nên khi xử lí phế thải phải tuân thủ các qui tắc đề ra như sau: - Dùng xe hút bùn, xe ben có đặt thêm thùng chứa bùn lên xe để làm phương tiện vận chuyển bùn. - Tất cả những thiết bị tham gia vào qui trình khoan tạo lỗ, đổ bê tông cọc, khi rời công trường đều phải được làm vệ sinh bằng cách dùng vòi nước áp lực mạnh xịt rửa. - Trong công trường ở những nơi lầy lội, thấp trũng thì cần phải được tôn cao, đường đi lại của ô tô có thể được đặt những thép tấm. Trên thực tế, không thể nào triệt tiêu tiếng ồn mà chỉ có thể tìm mọi cách để giảm nguồn gây ra tiếng ồn và làm giảm lượng tiếng ồn: - Xây tường bao quanh hiện trường thi công. - Trong khi chờ, đổ bê tông, phải chú ý khống chế tiếng ồn khi quay thùng trộn. - Bơm bê tông cũng sinh ra tiếng ồn và chấn động, vì vậy phải nghiên cứu chỗ đặt bơm và lợi dụng tường để giảm âm. II KỸ THUẬT THI CÔNG TƯỜNG TRONG ĐẤT : II.1- PHƯƠNG ÁN THI CÔNG TƯỜNG TRONG ĐẤT : - Hiện tại, theo biện pháp thi công, có 2 loại tường trong đất là tường đổ tại chỗ và tường lắp ghép. Tường vây dạng lắp ghép thường được sử dụng cho những công trình có khối lượng tường trong đất lớn, có những đoạn tường dài với kết cấu điển hình, thường sử dụng khi đã có nhà máy bêtông cốt thép đúc sẵn gần đó để tiết kiệm chi phí đầu tư. Tường lắp ghép thường đòi hỏi phải xử lý chỗ chống thấm trận trọng hơn. Hiện nay việc sử dụng tường lắp ghép là chưa khả thi vì không có nhà máy sản xuất cấu kiện panel tường đúc sẵn như vậy. Mặt khác việc vận chuyển các tấm tường lớn trong điều kiện thi công trong thành phố là khó khăn và phải làm vào ban đêm. - Về dạng tường vây đổ tại chỗ: so với dạng lắp ghép ưu điểm của dạng tường này là thi công dễ dàng trong điều kiện thành phố trật hẹp, hệ thống máy thi công không phức tạp và tốn kém như ở dạng lắp ghép, khả năng chống thấm cho tường được giải quyết khá triệt để. Tuy nhiên thời gian thi công chậm, thường gây ô nhiễm môi trường lớn trong quá trình thi công (lắp cẩu lồng cốt thép, đổ bêtông, thải rửa betonite …) đòi hỏi phải có những biện pháp khắc phục. - Trên cơ sở những phân tích như trên, trong pham vi đồ án em quyết định sử dụng phương án tường vây bằng bêtông cốt thép đổ tại chỗ. Kết hợp sử dụng công nghệ, máy, vật liệu thi công của công nghệ thi công cọc Barrette phần móng. - Biện pháp thi công tường trong đất đổ tại chỗ hiện nay chỉ phân biệt nhau chủ yếu ở công việc xử lý chống thấm cho tường vây ở vị trí liên kết các tấm panen tường. Trên cở sở này có thể phân ra các dạng thi công mối nối cho tường vây gồm có: + Mối nối dạng ống nối đầu hay hộp nối đầu + Mối nối dạng đan lồng cốt thép và sử dụng bản thép để chống thấm + Mối nối dùng gioăng chống thấm CWS - Trong phạm vi đồ án em lựa chọn phương án dùng mối nối bằng gioăng chống thấm CWS với các đặc điểm cơ bản sau: + Nguyên tắc của biện pháp này là tạo ra một màng ngăn nước được đặt vào giữa hai panen tường. Màng ngăn có thể được làm bằng nhiều vật liệu khác nhau như thép, cao su, chất dẻo… trong đó thông dụng và hiệu quả nhất tại nước ta hiện nay là biện pháp dùng gioăng chống thấm CWS và bộ gá lắp của hãng Bachy Soletanche cung cấp. + Lắp dựng và tháo dỡ khớp nối CWS: Trước khi luân chuyển dung dịch bentonite, các khớp nối CWS được lắp dựng tại đầu các đoạn tường đã đào xong. Các đoạn tường khởi đầu có khớp nối ở 2 đầu, các đoạn tường tiếp chỉ có khớp nối tại một đầu và các đoạn tường đóng không có khớp nối. Khớp nối CWS gồm các tấm rời được liên kết với nhau bằng bulông trong quá trình hạ xuống hố đào. Khớp nối được hạ xuống quá cốt đáy tầng hầm vài mét hoặc vào tầng ít thấm. Một hoặc hai thanh chắn nước bằng cao su đặc gắn vào khớp nối (hình vẽ). Người ta có thể dùng chính các máy đào để lắp dựng và tháo dỡ khớp nối CWS. Khi đào hố đào mới bên cạnh khớp CWS cũng được sử dụng để dẫn hướng cho gầu đào một cách hữu hiệu. Sau khi tháo khớp nối, một nửa phần gioăng chống thấm nằm lại trong phần tường đã đổ bêtông, nửa còn lại sẽ được thi công nằm trong bêtông của panel tường liền kề. + Cấu tạo khái quát của biện pháp này được trình bày như hình vẽ + Ưu điểm của khớp nối CWS: tháo dỡ tấm chắn dễ dàng khôn

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docxTrung tâm điều hành thông tin viễn thông điện lực Việt Nam - EVN.docx