Giáo án sử 12 - Phong trào giải phóng dân tộc và tổng khởi nghĩa tháng tám (1939 – 1945) nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời

3. Nguyễn Ái Quốc về nước trực tiếp lãnh đạo Cách mạng, Hội nghị lần thứ 8 Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Đông Dương (5 -1941)

* Hội nghị Trung ương VIII của Đảng

- Sau gần 30 năm bôn ba hải ngoại, năm 1941, Nguyễn Ái Quốc về nước trực tiếp lãnh đạo và chủ trì Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 8 tại Pác Bó (Cao Bằng) từ ngày 10-19/5/1941.

- Nội dung hội nghị:

+ Nhiệm vụ chiến lược Hội nghị khẳng định nhiệm vụ chủ yếu nước ta lúc đó là giải phóng dân tộc. Cho nên Đảng quyết định đưa nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu, mọi nhiệm vụ khác nhằm vào đó mà giải quyết.

 

docx16 trang | Chia sẻ: maiphuongdc | Ngày: 01/06/2013 | Lượt xem: 14753 | Lượt tải: 12download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Giáo án sử 12 - Phong trào giải phóng dân tộc và tổng khởi nghĩa tháng tám (1939 – 1945) nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
bày một giai đoạn lịch sử quan trọng của nước ta, 1939-1945. Trong đó, kiến thức cơ bản nhiều, khó rải đều ở các mục nên tùy vào tình huống cụ thể giáo viên phân chia thời gian hợp lí. Nên cần dành nhiều thời gian hơn cho các nội dung ở mục II và III. - Dạy học bài này, GV có thể khai thác được nhiều hình ảnh liên quan đến cách mạng tháng 8 trong đĩa Encatar và Internet. Vì vậy, nếu có điều kiện GV nên soạn và tổ chức cho HS học tập trên lớp thông qua bài giảng điện tử. Chuẩn kiến thức (Kiến thức cần đạt) Hoạt động dạy – học của thầy, trò I. Tình hình Việt Nam trong những năm (1939 - 1945) 1. Tình hình chính trị - Tháng 9/1939, Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ, phát xít Đức chiếm được Pháp, chính phủ Pháp đầu hàng - Chính sách của Pháp ở Đông Dương thay đổi: ra sức vơ véc sức người, sức của của dốc vào chiến tranh. - Cuối tháng 9/1940, Nhật nhảy vào xâm lược nước ta, Pháp đầu hàng nhanh chóng, rồi câu kết với nhau cai trị nhân dân ta. - Bước sang năm 1945, quân phát xít thất bại trên hầu hết các mặt trận, 9/3/1945 Nhật tiến hành đảo chính Pháp, lợi dụng cơ hội đó quần chúng nhân sục sôi cách mạng, sẵn sàng tổng khởi nghĩa. 2.Tình hình kinh tế - Pháp ban hành chính sách kinh tế chỉ huy, vơ vét của cải, nhân lực của nước ta phục vụ cho mục đích chiến tranh - Khi Nhật vào Đông Dương,buộc Pháp phải cho chúng sử dụng các phương tiện giao thông như đường sắt, tàu biển. - Quân Nhật cướp đất của dân ta nhổ lúa trồng đay,thầu dầu phục vụ cho nhu cầu chiến tranh. Một số công ty Nhật đã đầu tư vào một số ngành phục vụ quân sự khai thác mỏ sắt, mangan, apatít… " Nhân dân ta phải sống trong tình trạng “một cổ, hai tròng” Pháp - Nhật rất khốn khổ. Hoạt động GV: Yêu cầu học sinh đọc SGK tìm hiểu những nét chính về tình hình thế giới đã ảnh hưởng trực tiếp đến ách mạng Việt Nam như thế nào trong những năm Chiến tranh thế giới thứ hai ? HS đọc SGK và trả lời câu hỏi GV nhận xét, bổ sung nhấn mạnh một số điểm. - Tháng 6/1940: Pháp đầu hàng quân phát xít đã tác động đến chính sách của Pháp ở Đông Dương như thế nào? - Tháng 9 năm 1940, quân Nhật vào chiếm Đông Dương và giữ nguyên bộ máy cai trị của Pháp, cùng với Pháp cai trị Đông Dương? Tại sao? Mối quan hệ giữa Nhật và Pháp sẽ như thế nào? Cuộc đảo chính ngày 9/3/1945 là kết quả tất yếu của mâu thuẫn giữa Nhật và Pháp. Kẻ thù của cách mạng đang suy yếu, quần chúng nhân dân sục sôi cách mạng. Hoạt động GV yêu cầu HS đọc SGK mục 2 để trả lời câu hỏi: - Vì sao khi chiến tranh nổ ra, Pháp lại ra lệnh tổng động viên và thi hành chính sách kinh tế chỉ huy? - Khi Nhật vào Đông Dương, Nhật – Pháp đã câu kết với nhau để cai trị nhân dân ta như thế nào? - Những chính sách cai trị của chúng đã để lại hậu quả nặng nề như thế nào? HS đọc SGK trả lời câu hỏi GV nhận xét và lưu ý trong tình hình mới đòi hỏi chúng ta phải có đường lối đấu tranh phù hợp. HS lắng nghe và ghi ý chính vào vở II.Phong trào giải phóng dân tộc từ tháng 9 năm 1939 đến tháng 3 năm 1945 1.Hội nghị BCH Đảng cộng sản Đông Dương (11/1939) - Tháng 11/1939, Hội nghị BCH Đảng cộng sản Đông Dương được tổ chức tại Bà Điểm – Hóc Môn (Gia Định), do đồng chí Nguyễn Văn Cừ chủ trì. - Nội dung + Xác điệm nhiệm vụ, mục tiêu trước mắt là đánh đổ đế quốc và tay sai, giải phóng các dân tộc Đông Dương làm cho Đông Dương hoàn toàn độc lập. + Tạm gác khẩu hiệu cách mạng ruộng đất, đề ra khẩu hiệu tịch thu ruộng đất của bọn đế quốc và bọn địa chủ phản bội quyền lợi dân tộc chống địa tô cao, lãi nặng. + Thành lập chính quyền dân chủ cộng hoà thay cho chính quyền xô viết công, nông, binh. + Chuyển từ đấu tranh đòi quyền lợi dân sinh dân chủ sang đòi lật đổ chính quyền đế quốc và tay sai, từ đấu tranh công khai, hợp pháp, nửa hợp pháp sang đấu tranh bí mật, bất hợp pháp. + Thành lập Mặt trận Thống nhất dân tộc phản đế Đông Dương. - Ý nghĩa: đánh dấu bước chuyển hướng quan trọng, đưa nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu, mọi nhiệm vụ khác phải phục vụ cho nhiệm vụ giải phóng dân tộc. 2. Những cuộc đấu tranh mở đầu thời kì mới a) Khởi nghĩa Bắc Sơn - Ngày 22/9/1940, quân Nhật đánh chiếm Lạng Sơn, quân Pháp thua to phải rút chạy về Thái Nguyên qua châu Bắc Sơn. Nhân cơ hội đó, Đảng bộ Bắc Sơn lãnh đạo nhân dân đứng lên khởi nghĩa. - Diễn biến + Đêm 27/9/1940, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ địa phương, nhân dân Bắc Sơn đã nổi dậy chặn đánh quân Pháp, chiếm đồn Mỏ Nhài. Chính quyền địch ở Bắc Sơn tan rã, nhân dân làm chủ châu lị và vùng lân cận, đội du kích Bắc Sơn ra đời. + Pháp – Nhật câu kết với nhau đàn áp khốc liệt khởi nghĩa. - Ý nghĩa: mở đầu cho phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc sau khi Đảng ta chuyển hướng đấu tranh. Để lại nhiều bài học quí báu về khởi nghĩa vũ trang, chọn thời cơ khởi nghĩa. b. Khởi nghĩa Nam Kì - Tháng 11 – 1940, thực dân Pháp và Thái Lan xảy ra xung đột, thực dân Pháp đã bắt thanh niên Việt Nam đi làm bia đỡ đạn cho chúng. Nhân dân ta rất căm phẫn, phản đối việc làm đó của thực dân Pháp. - Trước tình hình đó, tháng 11/1940 xứ uỷ Nam Kì quyết định khởi nghĩa, trong bối cảnh lệnh hoãn khởi nghĩa của Trung ương không về kịp. - Diễn biến: + Đêm 22 rạng sáng 23/11/1940, khởi nghĩa Nam Kì bùng nổ từ miền Đông đến miền Tây Nam Bộ như Biên Hoà, Gia Định, Chợ Lớn, Vĩnh Long… + Chính quyền Cách mạng được thành lập ở nhiều nơi, lá cờ đỏ sao vàng lần đầu tiên xuất hiện. + Do kế hoạch bị bại lộ, thực dân Pháp khủng bố khốc liệt phong trào, lực lượng còn lại phải rút về Đồng Tháp và U Minh, để củng cố lực lượng. - Ý nghĩa: cuộc khởi nghĩa đã chứng tỏ truyền thống yêu nước của nhân dân Nam Kì, sẵn sàng đứng lên đấu tranh giành độc lập. c. Binh biến Đô Lương - Ngày 13/1/1940 binh lính đồn Chợ Rạng (Nghệ An) dưới sự chỉ huy của Đội Cung đã nổi dậy với mục tiêu chiếm đồn Đô Lương rồi kéo về lấy thành Vinh.Nhưng kế hoạch bị bại lộ, thực dân Pháp kịp thời đối phó. - Chiều 14 /1/1941, toàn bộ binh lính nổi dậy đều bị bắt. Đội Cung với 10 đồng chí của ông bị xử bắn, nhiều người bị tù đày. Hoạt động GV nêu vấn đề: Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ, tình hình thế giới và trong nước có nhiều thay đổi quan trọng, Đảng ta chủ trương chuyển hướng chỉ đạo chiến lược đưa nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu, mở đầu cho sự chuyển hướng này là Hội nghị Trung ương Đảng VI (11/1939). GV hướng dẫn học sinh đọc SGK theo những vấn đề sau: Hội nghị diễn ra ở đâu, do ai chủ trì? Những nội dung chính của hội nghị? Những nội dung này có điểm gì khác so với giai đoạn 1936 -1939? HS nghiên cứu SGK để trả lời GV nhận xét và làm rõ thêm một số nội dung: trong bối cảnh tình hình thế giới và trong nước có nhiều thay đổi, Đảng đã chủ trương đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu. Sự chuyển hướng của Đảng được thể hiện ở nghị quyết ở Hội nghị BCH Trung ương Đảng tháng 11/1939. Nghị quyết này chứng tỏ sự nhạy bén về chính trị của Đảng nên có những quyết sách đúng đắn, kịp thời. “Bước đường sinh tồn của các dân tộc Đông Dương không còn con đường nào khác hơn là con đường đánh đổ đế quốc Pháp, chống lại ách ngoại xâm vô luận, da trắng hay da vàng để giành lấy giải phóng dân tộc” (Nghị quyết Hội nghị Trung ương tháng 11-1939) Học sinh: ghi ý chính vào vở Hoạt động GV chia lớp học thành 3 nhóm và giao nhiệm vụ cụ thể để các em cùng nghiên cứu SGK trong 5 phút trả lời câu hỏi. Nhóm 1: Tìm hiểu thời gian, diễn biến và ý nghĩa lịch sử cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn. Nhóm 2:Tìm hiểu thời gian, diễn biến và ý nghĩa lịch sử cuộc khởi nghĩa Nam Kì. Nhóm 3: Tìm hiểu thời gian, diễn biến và ý nghĩa lịch sử cuộc Binh biến Đô Lương. GV - HS: Hết thời gian, GV yêu cầu đại diện từng nhóm trình bày, kết hợp với chỉ bản đồ treo tường, các nhóm khác lắng nghe và có thể nêu thắc mắc để nhóm trình bày giải thích rõ hơn. GV: Nhận xét phần trình bày của từng nhóm, sau đó trình bày bổ sung và chốt ý -Có thể nói rằng: Cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn, mở đầu cho thời kì Cách mạng nước ta sử dụng các hình thức bạo lực cách mạng, đấu tranh vũ trang kết hợp với đấu tranh chính trị, nổi dậy của quần chúng. Tiếng súng của cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn đã thúc đẩy tinh thần cách mạng của nhân dân cả nước, chứng tỏ nhân dân ta đứng vào hàng ngũ các dân tộc chống bọn phát xít, chống Chiến tranh xâm lược. -Về khởi nghĩa Nam Kì: khi nghe nhóm học sinh trình bày, giáo viên nhận xét và minh hoạ thêm: “Thực dân Pháp dùng máy bay ném bom tàn sát nhân dân những vùng nổi dậy như Năm Thôn, Cai Lậy, Chợ Giữa, ở Mĩ Tho, nhiều người bị bắt. Từ 22/11/1940 đến 31/ 12/1940, ở các tỉnh Gia Định, Mĩ Tho, Cần Thơ, Long Xuyên, thực dân Pháp đã bắt 5.848 người. Hàng ngàn người bị đày ra Côn Đảo và đi các trại tập trung Tà Lài, Bà Rá. Một số cán bộ lãnh đạo của Đảng bị thực dân Pháp tử hình. - Sau khi nghe cả 3 nhóm học sinh trình bày GV nên có nhận xét chung về tinh thần làm việc của các nhóm, GV tổng kết:Ba cuộc khởi nghĩa đều chưa thành công, vì điều kiện tiến hành khởi nghĩa chưa chín muồi, kẻ địch còn đủ mạnh để có thể đàn áp nhanh chóng ba cuộc khởi nghĩa địa phương. Lực lượng khởi nghĩa chưa được tổ chức và chuẩn bị đầy đủ.Tuy vậy, ba cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn, Nam Kì, Đô Lương đã nêu cao tinh thần đấu tranh kiên cường bất khuất của nhân dân Việt Nam, giáng một đòn phủ đầu vào bọn thực dân Pháp, đồng thời cảnh báo bọn phát xít Nhật. Đó là những tiếng súng báo hiệu cho một thời kì đấu tranh mới của Cách mạng Việt Nam - thời kì khởi nghĩa vũ trang bắt đầu. Ba cuộc khởi nghĩa này đã để lại những bài học kinh nghiệm qúy báu cho cách mạng Việt Nam, đó là bài học về khởi nghĩa vũ trang, thời cơ và xây dựng căn cứ địa. GV nên cho điểm theo nhóm để khuyến khích phong trào học tập của các em. HS lắng nghe và ghi chép ý chính. 3. Nguyễn Ái Quốc về nước trực tiếp lãnh đạo Cách mạng, Hội nghị lần thứ 8 Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Đông Dương (5 -1941) * Hội nghị Trung ương VIII của Đảng - Sau gần 30 năm bôn ba hải ngoại, năm 1941, Nguyễn Ái Quốc về nước trực tiếp lãnh đạo và chủ trì Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 8 tại Pác Bó (Cao Bằng) từ ngày 10-19/5/1941. - Nội dung hội nghị: + Nhiệm vụ chiến lược Hội nghị khẳng định nhiệm vụ chủ yếu nước ta lúc đó là giải phóng dân tộc. Cho nên Đảng quyết định đưa nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu, mọi nhiệm vụ khác nhằm vào đó mà giải quyết. + Khẩu hiệu đấu tranh:tạm gác khẩu hiệu cách mạng ruộng đất, thay vào đó là khẩu hiệu giảm tô, giảm thuế, chia lại ruộng công, tiến tới thực hiện người cày có ruộng. + Chính quyền: thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hoà. + Thành lập Mặt trận Việt Minh thay cho Mặt trận Thống nhất dân tộc phản đế Đông Dương. Các hội phản đế đổi thành hội cứu quốc. + Hội nghị nhấn mạnh khởi nghĩa vũ trang là nhiệm vụ trung tâm của toàn Đảng, toàn dân lúc đó. + Hình thái vận động là từ khởi nghĩa từng phần tiến tới Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước. * Ý nghĩa lịch sử: + Hội nghị hoàn chỉnh sự chuyển hướng chiến lược của Đảng ta, đưa nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu, mọi nhiệm vụ phải khác nhằm vào đó mà giải quyết. + Hội nghị đã đề ra nhiều chủ trương sáng tạo, chuẩn bị lực lượng cách mạng cho cuộc tổng khởi nghĩa giành chính quyền. Hoạt động 1 GV yêu cầu HS đọc SGK trả lời câu hỏi: - Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 8 (5/1941) diễn ra trong bối cảnh như thế nào? Nêu rõ điểm mới so với các giai đoạn trước - Trình bày nội dung, ý nghĩa của Hội nghị ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 8 (5 - 1941) và vai trò của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đối với Hội nghị này. HS nghiên cứu SGK để trả lời câu hỏi GV nhấn mạnh một số ý: - Sự kiện ngày 28/1/1941, sau 30 năm bôn ba tìm đường cứu nước, Nguyễn Ái Quốc về nước. Tại sao lại là thời điểm này? Có rất nhiều nguyên nhân nhưng một nguyên nhân cơ bản nhất là thời cơ giành chính quyền, cơ hội ngàn năm có mặt đang đến gần. +Về vai trò của Nguyễn Ái Quốc và BCH Trung ương Đảng trong việc soạn thảo đường lối mới. Khi Nguyễn Ái Quốc còn ở nước ngoài, Trung ương Đảng đã kịp thời chuyển hướng, đề ra chủ trương của thời kì mới – đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu. Khi Nguyễn Ái Quốc về nước , Người đã chủ trì Hội nghị Trung ương lần 8 hoàn chỉnh đường lối chuyển hướng từ Hội nghị VI, VII. Những nội dung của Hội nghị thể hiện sự sáng tạo, tài tình của Nguyễn Ái Quốc trong tình hình mới và quay trở về đúng như những nội dung trong Cương lĩnh đầu tiên của Đảng. GV có thể lấy ví dụ về việc thành lập mặt trận Việt Minh để thể hiện những điểm trên. HS tổng hợp những thông tin chính vào vở Hoạt động 2 GV hướng dẫn học sinh tìm hiểu về ý nghĩa lịch sử của Hội nghị Trung ương lần 8. Chỉ rõ cho học sinh thấy được chuyển hướng chỉ đạo là chuyển hướng như thế nào? Nhiệm vụ giải phóng dân tộc được đặt lên hàng đầu, mọi nhiệm vụ khác phải theo đó mà giải quyết. Thấy được sự sáng tạo tài tình của Đảng ta. HS theo dõi bài giảng và ghi chép 4. Chuẩn bị tiến tới khởi nghĩa giành chính quyền a. Xây dựng lực lượng cho cuộc khởi nghĩa vũ trang * Xây dựng lực lượng chính trị: - Xây dựng mặt trận Việt Minh, vận động quần chúng tham gia mặt trận. Nhiều tỉnh Bắc Kì, các Hội phản đế đã chuyển thành các Hội cứu quốc và nhiều tổ chức cứu quốc mới được thành lập. - Để lôi kéo trí thức về với cách mạng, năm 1943 Đảng ta đã cho ra đời Đề cương văn hoá Việt Nam. Năm 1944, Đảng Dân chủ và Hội văn hoá cứu quốc Việt Nam thành lập Đảng còn tăng cường vận động binh lính và ngoại kiều dân chủ tham gia mặt trận Việt Minh. * Xây dựng lực lượng vũ trang: + Lực lượng vũ trang đầu tiên của cách mạng Việt Nam là đội du kích Bắc Sơn + Năm 1941, các đội du kích Bắc Sơn thống nhất với nhau thành Trung đội Cứu quốc quân I (2/1941), đội Cứu Quốc quân II ra đời (9/1941). + Tại Cao Bằng: cuối năm 1941, Nguyễn Ái Quốc quyết định thành lập đội tự vệ vũ trang để chuẩn bị cho việc xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân. Người tổ chức nhiều lớp chính trị, quân sự, biên soạn các tài liệu về đánh du kích, kinh nghiệm của du kích Nga và Trung Quốc. * Xây dựng căn cứ địa: Căn cứ địa Bắc Sơn – Vũ Nhai và Cao Bằng là hai căn cứ địa cách mạng đầu tiên Hoạt động GV yêu cầu HS đọc và gạch chân SGK để tìm hiểu về quá trình xây dựng lực lượng chính trị, lực lượng vũ trang và căn cứ địa cách mạng cho Tổng khởi nghĩa tháng 8 năm 1945. HS tự hoàn thành nhiệm vụ của mình dưới sự hướng dẫn của giáo viên. GV nhấn mạnh một số điểm sau: -Cao Bằng là nơi thí điểm xây dựng các hội cứu quốc, cơ sở của mặt trận Việt Minh. Năm 1942, khắp các châu của tỉnh Cao Bằng đều có hội cứu quốc, trong đó có ba châu hoàn toàn. -Trong suốt quá trình vận động cách mạng từ Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 8 (5 - 1941) đến ngày Cách mạng Tháng tám thành công, những chủ trương, nghị quyết của Đảng nhằm xây dựng lực lượng cách mạng đều được quán triệt trong các văn kiện của Mặt trận Việt Minh và trong thực tiễn hoạt động cách mạng. Từ khi Mặt trận Việt Minh ra đời, toàn bộ phong trào chống phát xít Pháp – Nhật của nhân dân ta đều mang tên phong trào Việt Minh, cái tên tiêu biểu cho lòng yêu nước và ý chí quật cường của dân tộc ta. - Căn cứ địa đầu tiên của cách mạng Việt Nam là căn cứ địa Bắc Sơn – Vũ Nhai, được xây dựng tháng 11 – 1940. Năm 1941, sau khi về nước, Nguyễn Ái Quốc chỉ thị thành lập căn cứ tại Cao Bằng. Đây là hai căn cứ địa đầu tiên của Cách mạng Việt Nam HS đối chiếu với phần chuẩn bị của mình để ghi chép. b. Gấp rút chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền. - Từ đầu năm 1943, cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai chuyển sang giai đoạn mới có lợi cho cách mạng nước ta. Trước tình hình đó Đảng ta đã gấp rút chuẩn bị khởi nghĩa giành chính quyền. - Từ 25 đến 28/2/1943, Hội nghị thường vụ Ban chấp hành Trung ương Đảng họp tại Võng La (Đông Anh) vạch ra kế hoạch chuẩn bị toàn diện cho cuộc khởi nghĩa vũ trang. - Ngày 22/12/1944, Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân ra đời, chỉ sau 2 ngày sau đã đánh thắng liên tiếp hai trận: Phay Khắt và Nà Ngần (Cao Bằng) Hoạt động 1 GV hướng dẫn học sinh tìm hiểu tình hình thế giới từ đầu năm 1943 có gì thay đổi và tạo điều kiện cho phong trào cách mạng như thế nào? Trước tình hình đó chúng ta chủ trương như thế nào? Đảng ta đã gấp rút chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền như thế nào? HS suy nghĩ để trả lời câu hỏi GV miêu tả những công việc được làm sau Hội nghị ở Võng La để thấy được không khí khẩn trương chuẩn bị khởi nghĩa: Năm 1943, Ban Việt Minh tỉnh Cao - Bắc - Lạng đã lập ra 19 ban “Xung phong Nam tiến” để liên lạc với căn cứ địa Cao Bằng và Bắc Sơn – Võ Nhai, phát triển lực lượng xuống miền xuôi. Ngày 7/5/1944, Tổng bộ Việt Minh cho ra đời chỉ thị “Sửa soạn khởi nghĩa.Ngày 10 – 8- 1944, Trung ương Đảng kêu gọi “Sắm sửa vũ khi đuổi thù chung”. Hoạt động 2 GV hướng dẫn học sinh quan sát hình 39 – SGK và đặt câu hỏi: - Đây là sự kiện gì? Diễn ra ở đâu? Gồm bao nhiêu người? - Đây là tổ chức tiền thân của tổ chức nào hiện nay? - Sự ra đời của lực lượng này cho thấy không khí khởi nghĩa như thế nào? III. Khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền. 1. Khởi nghĩa từng phần (từ tháng 3 đến giữa tháng 8 - 1945) * Hoàn cảnh: - Đầu năm 1945, Liên Xô truy đuổi phát xít Đức về Béc lin đã giúp một loạt các nước Đông Âu giải phóng. - Ở Châu Á – Thái Bình Dương quân Nhật thất bại nặng nề, trước những đòn phản công của Đồng minh. - Ở Đông Dương, quân Pháp chuẩn bị chờ thời cơ phản công Nhật. Mâu thuẫn Pháp – Nhật rất gay gắt. + Đêm ngày 9/3/1945, Nhật đảo chính Pháp, Pháp chống cự yếu ớt rồi nhanh chóng đầu hàng Nhật. - Chủ trương của ta: Đảng đã họp Hội nghị Thường vụ Ban chấp hành Trung ương tại Đình Bảng, cho ra đời bản chỉ thị “Nhật – Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta” (12/3/ 1945). Hội nghị quyết định phát động cao trào kháng Nhật cứu nước làm tiên đề cho tổng khởi nghĩa * Diễn biến: - Khởi nghĩa từng phần nổ ra từng bổ phận ở nhiểu nơi, chính quyền và căn cứ địa cách mạng được mở rộng - Phong trào “Phá kho thóc giải quyết nạn đói”, đáp ứng đúng nhu cầu bức thiết của nhân dân. - Cuộc nổi dậy đấu tranh và giành thắng lợi của các chiến sĩ cách mạng trong nhà tù của đế quốc như Ba Tơ, Nghĩa Lộ, Sơn La, Hỏa Lò...đã bổ sung nguồn cán bộ cho cách mạng. - Ở Nam Kì, phong trào hoạt động của Việt Minh mạnh nhất ở Mĩ Tho, Hậu Giang. Hoạt động 1 GV nêu vấn đề: Đầu năm 1945, tình hình chiến trường chiến tranh thế giới hai có điểm gì thuận lợi cho ta? Trước tình hình đó, tình hình trong nước như thế nào? Chủ trương của Đảng ta trong hoàn cảnh mới như thế nào? HS quan tâm đến bài giảng để trả lời GV nhấn mạnh sự thất bại của phe phát xít trên các chiến trường, Nhật Bản điên cuồng giữ Đông Dương để mong muốn tạo ra những thay đổi trên chiến trường châu Á. - Về sự kiện Nhật đảo chính Pháp, GV cho học sinh thấy được nó đã gây ra cuộc khủng hoảng chính trị sâu sắc ở Đông Dương vì “hai quân cướp nước cắn xé nhau chí tử; chính quyền Pháp tan rã; chính quyền Nhật chưa ổn định; các tầng lớp đứng giữa hoang mang, quần chúng cách mạng muốn hành động”. Tuy nhiên những điều kiện cho khởi nghĩa chưa chín muồi. - Về chỉ thị “Nhật – Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”. Chỉ thị này đã soi sáng cho các Đảng bộ cách thức hoạt động từ sau sự kiện Nhật đảo chính Pháp đến trước cuộc khởi nghĩa tháng 8 năm 1945. HS ghi nhớ những ý chính vào vở Hoạt động 2 HS tóm tắt những sự kiện của cao trào kháng Nhật cứu nước (khởi nghĩa từng phần) - Ở Căn cứ địa Cao - Bắc - Lạng. Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân kết hợp với Cứu quốc quân giải phóng hàng loạt các châu xã, chính quyền cách mạng thành lập, hội Cứu quốc củng cố và phát triển. -Ở Bắc và Bắc Trung Kì, nạn đói tràm trọng xảy ra, Đảng đã đề ra khẩu hiệu “Phá kho thóc giải quyết nạn đói”. Khẩu hiệu đã đáp ứng được nguyện vọng đông đảo quần chúng, đã tạo thành phong trào đấu tranh mạnh mẽ chưa từng có, thu hút hàng triệu người tham gia. - Khởi nghĩa Ba Tơ (Quảng Ngãi – 11 – 3 – 1945). Hàng nghìn đảng viên cán bộ bị giam trong các nhà tù nổi dậy đấu tranh đòi tự do, phá nhà giam vượt ngục, nhà từ Nghĩa Lộ, Sơn La, Hoả Lò…Đó là nguồn bổ sung cán bộ quan trọng thúc đẩy khởi nghĩa từng phần tiến tói tổng khởi nghĩa. 2. Sự chuẩn bị cuối cùng trước ngày Tổng khởi nghĩa. - Từ 15 đến 20/4/1945, Hội nghị Quân sự Bắc Kì được triệu tập. Uỷ ban Quân sự cách mạng Bắc Kì được thành lập, để chỉ huy cách mạng Bắc Kì và giúp đỡ phong trào cả nước - Ngày 16/4/1945, Ủy ban dân tộc giải phóng Việt Nam được thành lập. Tân Trào được chọn là thủ đô của khu giải phóng. Hoạt động GV thông báo những sự kiện cho thấy sự chuẩn bị chu đáo của Đảng ta trước ngày Tổng khởi nghĩa. - Về nội dung Hội nghị quân sự Bắc Kì: Hội nghị quyết định thống nhất các lực lượng vũ trang. Hội nghị còn quyết định phát triển hơn nữa lực lượng vũ trang và nửa vũ trang. Mở trường đào tạo cấp tốc cán bộ quân sự, chính trị, phát triển chiến tranh du kích, xây dựng chiến khu. -Công cuộc chuẩn bị gấp rút hoàn thành, khi thời cơ đến chúng ta sẽ chớp thời cơ tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước 3. Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945 a. Nhật đầu hàng Đồng minh, lệnh tổng khởi nghĩa được ban bố. * Thời cơ Tổng khởi nghĩa: - Đầu tháng 8/1945, quân Nhật bị quân Đồng Minh tấn công mạnh mẽ: ngày 8/8/1945, Liên Xô tuyên chiến với Nhật. Ngày 9/ 8/1945 Liên Xô tiêu diệt đội quân Quan Đông của Nhật ở Đông Bắc Trung Quốc. - Ngày 15/8/1945, Nhật Bản đầu hàng quân đồng minh vô điều kiện. Quân Nhật ở Đông Dương và chính phủ bù nhìn Trần Trọng Kim hoang mang dao động đến cực điểm. " Thời cơ cho Tổng khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân đã đến. * Chủ trương của ta: - Từ ngày 13/8, sau khi biết tin quân Nhật sắp đầu hàng Uỷ ban khởi nghĩa toàn quốc đã được thành lập, ban bố "Quân lệnh số 1" chính thức phát lệnh Tổng khởi nghĩa trong toàn quốc. - Từ 14 đến 15/8/1945, Hội nghị toàn quốc của Đảng đã họp tại Tân Trào, thông qua kế hoạch lãnh đạo Tổng khởi nghĩa, quyết định những vấn đề quan trọng về chính sách đối nội, đối ngoại sau khi giành được chính quyền. - Từ 16 đến 17/8/1945, Quốc dân Đại hội đã họp tại Tân Trào. Thông qua lệnh Tổng khởi nghĩa của Đảng. Thông qua 10 chính sách lớn của Việt Minh. Cử ra Uỷ ban dân tộc giải phóng do Hồ Chí Minh làm chủ tịch Hoạt động GV thông báo cho học sinh tình hình phát xít Nhật trong giai đoạn cuối của Chiến tranh thế giới thứ hai. Quân Nhật thất bại ở Trung Quốc, nước Nhật bị ném bom nguyên tử. Nhật sắp thất bại hoàn toàn nghĩa là kẻ thù duy nhất của chúng ta đã suy yếu. Như vậy, cao trào kháng Nhật cứu nước sục sôi trong cả nước (từ 9 - 3 đến giữa tháng 8 - 1945). Tình thế cách mạng trực tiếp đã đến gần. Lực lượng cách mạng cùng cả dân tộc đang gấp rút hoàn thành công việc chuẩn bị cuối cùng để đón thời cơ sẽ vùng dậy tổng khởi nghĩa giành chính quyền. GV phân tích về vấn đề thời cơ: + Nhật đầu hàng Đồng minh vô điều kiện là sự kiện quan trọng dẫn đến thời cơ của Cách mạng Tháng tám 1945 chín muồi. Bởi vì, như vậy quân Nhật ở Đông Dương sẽ "án binh bất động" chính phủ bù nhìn Trần Trọng Kim hoang mang, tan rã như "rắn mất đầu", kẻ địch không thể thống trị như trước được nữa. + Nhân dân ta đang sục sôi với khí thế tiền khởi nghĩa trong cao trào kháng Nhật cứu nước đã sẵn sàng đứng lên giành chính quyền. +Lực lượng trung gian đã ngả về phía cách mạng. Đó là những điều kiện chủ yếu dẫn đến thời cơ cách mạng chín muồi. Đảng ta đã nắm rất vững lí luận thời cơ cách mạng, kịp thời, chớp thời cơ, phát lệnh Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước. HS theo dõi và nắm vững thời cơ cách mạng cũng như sự chuẩn bị của Đảng ta. b. Diễn biến cuộc Tổng khởi nghĩa. - Ngày 16/8, đồng chí Võ Nguyên Giáp dẫn đầu một đoàn quân về giải phóng thị xã Thái Nguyên. - Ngày 18/8 tỉnh giành được chính quyền sớm nhất trong cả nước: Bắc Giang, Hải Dương, Hà Tĩnh, Quảng Nam. - Ngày 19/8, Hà Nội khởi nghĩa thắng lợi, với sự tham gia của hàng vạn quần chúng, có sự hỗ trợ của các đội tự vệ chiến đấu đã lần lượt chiếm các cơ quan có quyền lực ở Hà Nội: Phủ Khâm sai Bắc Bộ, Sở cảnh sát trung ương, Tòa thị chính, Trại bảo an binh. - Ngày 23/8: Khởi nghĩa ở Huế giành thắng lợi. - Ngày 25/8: nhân dân Sài Gòn giành thắng lợi. Đến ngày 28/8 hai tỉnh cuối cùng là Hà Tiên và Đồng Nai Thượng giành thắng lợi. Tổng khởi nghĩa tháng 8 giành thắng lợi trong cả nước. - Ngày 30/8: vua Bảo Đại thoái vị, chế độ phong kiến Việt Nam sụp đổ. Hoạt động 1 GV thông báo: từ 14/ 8/1945, một số nơi tuy chưa nhận được lệnh Tổng khởi nghĩa, nhưng dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ địa phương và tổ chức Việt Minh, căn cứ vào tinh thần của Bản chỉ thị lịch sử "Nhật - Pháp" bắn nhau và hành động của chúng ta" đã đứng lên khởi nghĩa: Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh… HS lắng nghe Hoạt động 2 GV sử dụng lược đồ diễn biến cách mạng tháng 8. GV yêu cầu học sinh tóm tắt diễn biến, ghi nhớ nhanh và lên bảng trình bày trên lược đồ HS thực hiện nhiệm vụ. GV nhận xét và khắc sâu hơn không khí khởi nghĩa ở Hà Nội, ở Sài Gòn thông qua Hình 41 và Hình 42- SGK. Đồng thời cũng cho thấy sự quyết liệt và thắng lợi nhanh chóng của cuộc khởi nghĩa trong vòng 15 ngày nhưng có cả quá trình chuẩn bị trong 15 năm. HS ghi nhớ và nắm vững diễn biến. IV. Nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà được thành lập (2 - 9 -1945) - Ngày 25/8/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh, Trung ương Đảng, Uỷ ban Dân tộc giải phóng từ

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docxGiáo án Sử 12 bài - PHONG TRÀO GIẢI PHÓNG DÂN TỘC VÀ TỔNG KHỞI NGHĨA THÁNG TÁM (1939 – 1945) NƯỚC VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ RA ĐỜI.docx
Tài liệu liên quan