Luận văn Doanh nghiệp nhà nước địa phương ở thành phố Hà Nội - Thực trạng và giải pháp

Thực tế hiện nay cho thấy, doanh nghiệp nhà nước bị chi phối bởi nhiều cơ quan quản lý nhà nước, cho nên phải chờ đợi xin ý kiến trình duyệt làm hạn chế sự năng động, tự chủ của doanh nghiệp. Vì vậy trong thời gian tới, trên cơ sở nội dung cuộc họp thành viên Chính phủ ngày 10/9/2002 về xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, trách nhiệm của các Bộ, ngành, Thành uỷ và Uỷ ban nhân dân Thành phố Hà Nội cần định rõ chức năng thẩm quyền của các Sở, ban, ngành tránh tình trạng quản lý chồng chéo như hiện nay. Các doanh nghiệp nhà nước thuộc ngành công nghiệp do 18 cơ quan quản lý khác nhau, các doanh nghiệp nhà nước thuộc ngành thương mại do 22 cơ quan quản lý ).

Đồng thời đề nghị Chính phủ sớm xem xét cho phép Hà Nội thí điểm việc xoá bỏ phân cấp quản lý doanh nghiệp nhà nước Trung ương và doanh nghiệp nhà nước địa phương trên địa bàn. Sớm đưa vào thực tiễn nguyên tắc các doanh nghiệp bất luận của ai, ở đâu, làm gì đều chỉ tuân theo luật doanh nghiệp, và các hoạt động pháp luật nhà nước nói chung, duy nhất. Ngoại trừ những doanh nghiệp nhà nước đặc biệt, còn lại giao cho Thành phố quản lý thống nhất và Thành phố thực hiện các khoản thu ngân sách nhà nước nộp Trung ương theo phân cấp mới.

 

doc151 trang | Chia sẻ: oanh_nt | Ngày: 30/06/2013 | Lượt xem: 1270 | Lượt tải: 10download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Luận văn Doanh nghiệp nhà nước địa phương ở thành phố Hà Nội - Thực trạng và giải pháp, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
điều chỉnh từ Luật Công ty cũ cho phù hợp với Luật Doanh nghiệp. Các cổ đông do chưa nhận thức rõ ràng về Công ty cổ phần nên không sử dụng hết quyền hoặc lạm quyền, đưa ra những đòi hỏi vượt quá thẩm quyền. Đồng thời việc xử lý chậm số tài sản không còn sử dụng được, chờ thanh lý hiện đang giao cho các doanh nghiệp nhà nước đã chuyển thành Công ty cổ phần bảo quản không chỉ gây phiền toái đối với các công ty này, mà còn gây thiệt hại cho Nhà nước. Trị giá số tài sản nêu trên trong cả nước hiện vào khoảng 300 tỷ đồng, riêng Hà Nội khoảng 32 tỷ đồng. - Cùng với những tồn tại của quá trình cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước, việc thực hiện Nghị định 103 về giao, bán, khoán, cho thuê được 27 doanh nghiệp. Trong khi kế hoạch cho 3 năm (2000 - 2002) là 430 doanh nghiệp nhà nước. Còn riêng Hà Nội năm 2000 không xét được một đơn vị nào thực hiện Nghị định 103. Cho đến 4/6/2002 mới tiến hành giao một doanh nghiệp cho người lao động là Công ty Vận tải Thương nghiệp. Đặc biệt từ khi có Nghị quyết Trung ương 3 thì các Bộ, ngành, địa phương nói chung và Thành phố Hà Nội nói riêng đều lấy Nghị quyết Trung ương 3 làm căn cứ để xây dựng đề án sắp xếp doanh nghiệp, nhưng trong nội dung thì chưa áp dụng phân loại doanh nghiệp nhà nước theo Quyết định số 58/QĐ-TTg ngày 26/4/2002. Cụ thể là số lượng doanh nghiệp nhà nước thuộc phạm vi không cần Nhà nước giữ 100% vốn còn để lại nhiều và không đúng thành phần quy định. Số lượng doanh nghiệp nhà nước phải chuyển đổi sở hữu còn chưa đúng, chưa đủ, phần lớn để dồn vào những năm cuối hạn định, nhằm kéo dài thêm thời gian hoạt động của doanh nghiệp nhà nước và có thể đang “làm phép” với cấp trên. Phương án sắp xếp doanh nghiệp nhà nước giai đoạn (2002 - 2005) lại lấy việc chuyển doanh nghiệp nhà nước thành Công ty Trách nhiệm hữu hạn một thành viên theo Nghị định 63/2001/NĐ-CP ngày 24/9/2001 làm cơ sở để duy trì doanh nghiệp nhà nước. Đây là một điều bất lợi cho cả doanh nghiệp, người lao động và cơ quan quản lý sau này. Vì những loại doanh nghiệp nhà nước này chỉ là hình thức công ty hoá, chưa tạo ra động lực cho doanh nghiệp phát triển. Việc chuyển doanh nghiệp nhà nước thành Công ty Trách nhiệm hữu hạn một thành viên chỉ áp dụng cho những doanh nghiệp nhà nước mà Nhà nước phải giữ 100% vốn, mà không áp dụng rộng cho các doanh nghiệp khác. * Câu hỏt đặt ra đối với các cơ quan chức năng lúc này là tại sao một chủ trương đúng đắn, có thể đem lại nhiều hiệu quả, lại khó khăn khi thực hiện và còn nhiều tồn tại chưa được giải quyết như vậy. Để lý giải có thể thấy những nguyên nhân chủ yếu sau đây: Cơ chế quản lý doanh nghiệp nhà nước chưa hoàn thiện, chức năng quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước, quyền chủ sở hữu của Nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước, quyền của đại diện chủ sở hữu trực tiếp tại doanh nghiệp, quyền chủ động điều hành sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp chưa được tách bạch và cụ thể. Cơ chế giao nhận vốn đối với doanh nghiệp nhà nước hiện nay còn nhiều bất cập. Ví dụ: Thời điểm xác định trách nhiệm bảo toàn vốn đối với các doanh nghiệp nhà nước cũng chưa xác định rõ ràng; hay đối với các Tổng công ty nhà nước được thành lập theo Quyết định số 90/TTg, Chủ tich Hội đồng quản trị và Tổng giám đốc là người ký nhận vốn. Vậy nếu doanh nghiệp không thực hiện được nghĩa vụ bảo toàn vốn thì ai là người chịu trách nhiệm và nếu liên đới chịu trách nhiệm thì như thế nào, và người đại diện của cơ quan quyết định thành lập doanh nghiệp chứng kiến việc giao vốn để làm gì? Điều này pháp luật hiện hành của nước ta chưa làm rõ. - Bên cạnh đó có tình trạng luật quy định chung, kéo theo quy trình hướng dẫn luật: Nghị định hướng dẫn, thông tư hướng dẫn, thông tư liên bộ xuống đến Thành phố lại có văn bản hướng dẫn của Uỷ ban nhân dân Thành phố, Sở, ban, ngành lại hướng dẫn. Nhiều tầng lớp văn bản hướng dẫn đan xen như vậy thì làm sao tránh khỏi nạn giấy tờ, cơ chế “xin - cho”. Theo kết quả bước đầu trong đợt rà soát văn bản pháp luật đã ban hành có tới trên 2.000 văn bản trong số 7.000 văn bản pháp luật, các bộ, ngành cần được huỷ bỏ, trên 1.000 văn bản cần được sửa đổi bổ sung. Riêng ở Hà Nội rà soát được 9.465 văn bản các loại, trong đó chỉ còn 458 văn bản còn hiệu lực; 1.216 văn bản hết hiệu lực, và một số văn bản trái với các quy định của pháp luật hiện hành. Cơ chế chính sách mới ban hành còn những bất cập và thiếu đồng bộ, chậm được cụ thể hoá. Những hạn chế của các Nghị định, thông tư... được ban hành trước năm 2002 đã được sửa đổi khá nhiều, nhưng vẫn còn nhiều vấn đề phải bàn. Ví dụ: Hiện nay, Luật Doanh nghiệp Nhà nước quy định cổ phần chi phối của Nhà nước tại những doanh nghiệp cổ phần hoá là cổ phần chiếm trên 50% hoặc ở mức gấp đôi cổ đông lớn nhất, Quyết định 58 mới quy định 1 tiêu chí cổ phần chi phối là trên 50% cổ phiếu. Như vậy, quy định cổ phần chi phối trong trường hợp cổ đông lớn nhất vẫn phải được tuân thủ. Hay việc xác định giá trị doanh nghiệp: nếu giá trị doanh nghiệp giảm so với sổ kế toán nhỏ hơn 0,5 tỷ thì do địa phương quyết định, nếu lớn hơn 0,5 tỷ thì phải có thoả thuận với Bộ Tài chính; trong vấn đề xử lý nợ không có khả năng thanh toán Chính phủ đã có quy định nhưng lại chưa có quy định cụ thể khoản nợ là bao nhiêu. Theo Tiến sĩ Ngô Văn Điểm - Ban Nghiên cứu của Thủ tướng Chính phủ, Luật ban hành các văn bản quy phạm pháp luật và Nghị định số 101 hướng dẫn thi hành luật đều yêu cầu “văn bản chính phải có dự thảo văn bản phụ kèm theo thì cấp có thẩm quyền mới ký văn bản chính.” Thế nhưng Nghị định 64 về cổ phần hoá doanh nghiệp thay thế Nghị định 44 đã không được chuẩn bị theo quy trình trên. Do đó đến nay còn có những vấn đề chưa rõ và phải chờ như: phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp theo hình thức đấu giá, giá thuê đất ở những vị trí thuận lợi... Mặt khác, việc đưa ra các Nghị định, chỉ thị đưa ra những quy định chung chung dẫn đến tình trạng Nghị định chậm đi vào cuộc sống vì vẫn phải chờ thông tư hướng dẫn. Ví dụ: Điều 34 của Nghị định 64 quy định cụ thể: Nghị định này thay thế Nghị định số 44/1998/NĐ-CP và có hiệu lực thi hành sau 15 ngày, kể từ ngày ký. Nhưng tiếc rằng Điều 35 của Nghị định 64 lại chỉ quy định chung chung là Bộ Tài chính, Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước, Tổng cục Địa chính, các Bộ và cơ quan khác liên quan có trách nhiệm thi hành Nghị định này. Vì vậy, mãi đến ngày 9/9 Bộ Tài chính mới có Thông tư 76/TT-BTC hướng dẫn những vấn đề tài chính khi chuyển doanh nghiệp nhà nước thành Công ty cổ phần. Và theo Bộ Tài chính thì tháng 10 Bộ này sẽ có văn bản hướng dẫn việc xác định giá trị doanh nghiệp khi cổ phần hoá, sửa đổi, bổ sung quy chế của Quỹ hỗ trợ sắp xếp và cổ phần hoá doanh nghiệp... Như vậy, sau khi có Nghị định của Chính phủ thường phải mất 3 đến 5 tháng mới có thông tư hướng dẫn của các Bộ, ngành có liên quan. Sau đó những thông tư hướng dẫn mới được chuyển đến Uỷ ban Nhân dân Thành phố, Sở Tài chính, Sở Lao động Thương binh và Xã hội... và lại phải mất một thời gian vài tháng nữa thì mới có chỉ thị, quyết định... của Uỷ ban Nhân dân Thành phố để thực hiện. Ví dụ: Nghị định 28 của Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 7/5/1996 thì đến ngày 10/1/1997 tức là sau hơn 7 tháng Thành uỷ Hà Nội mới có Chỉ thị số 10/CT-TW trong chỉ thị có đoạn: “Tổ chức cho cán bộ lãnh đạo chủ chốt các ngành, cấp, nghiên cứu Nghị định 28 của Chính phủ” đáng lẽ điều này phải thực hiện ngay sau khi có Nghị định. Vì vậy chỉ có cổ phần hoá được một doanh nghiệp trong năm 1996; cổ phần hoá được 4 doanh nghiệp trong năm 1997. Bên cạnh đó, khi Thành phố thực hiện sắp xếp doanh nghiệp nhà nước có vướng mắc đề nghị cơ quan có thẩm quyền để giải quyết nhưng việc giải quyết cũng chậm. Ví dụ: Uỷ ban nhân dân Thành phố Hà Nội có công văn số 2920/UB-CV ngày 20/11/98 gửi Bộ Tài chính đề nghị giải quyết một số vướng mắc trong việc cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước. Trong đó Uỷ ban nhân dân Thành phố đề nghị để Thành phố quyết định giảm giá trị doanh nghiệp dưới giá trị ghi trên sổ kế toán đến 10%, đến 02/03/1999 Bộ Tài chính mới có công văn số 932TC/TCDN trả lời. Thậm chí trong quá trình hoạt động doanh nghiệp có những khó khăn vướng mắc các cơ quan chức năng của Thành phố cũng giải quyết rất chậm chạp. Theo Ông Đỗ Trọng Lạc, Giám đốc Công ty cổ phần thương mại, du lịch, hội chợ, và triển lãm quốc tế: “tại sao hơn 4 năm mà các cơ quan chức năng của Thành phố không thực hiện được việc cấp giấy chứng nhận (sổ đỏ) quyền sử dụng đất cho các doanh nghiệp và đến hôm nay vẫn nói còn chờ quyết định của Uỷ ban nhân dân Thành phố. Tất cả các doanh nghiệp đã được cổ phần hoá của Thành phố đều là doanh nghiệp vừa và nhỏ, rất cần vốn để sản xuất kinh doanh. Muốn vay ngân hàng thì doanh nghiệp phải có thế chấp mà tài sản thì không đáng kể, trông vào quyền sử dụng đất thì chưa được cấp sổ đỏ. Vậy, cơ quan chức năng phải quy định rõ cụ thể đến thời gian nào thì doanh nghiệp được cấp sổ đỏ chứ không thể nói cứ chờ chung chung”. Ông Nguyễn Huy Tự, Phó Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty cổ phần đầu tư thương mại khoáng sản Sóc Sơn: “Theo quy định của Cục thuế, sau 3 ngày thành lập công ty cổ phần thì doanh nghiệp phải nộp ấn chỉ cũ, đến nay đã gần 3 tháng công ty chưa mua được ấn chỉ mới. Không có ấn chỉ, hoá đơn, công ty gặp rất nhiều khó khăn: không bán được hàng, không trả được nợ, mất khách hàng... Cùng với nguyên nhân trên, còn thấy phương án tổng thể sắp xếp đổi mới doanh nghiệp nhà nước của Thành phố vẫn còn bao cấp đối với doanh nghiệp nhà nước và chưa mạnh dạn áp dụng các văn bản của Chính phủ vào phạm vi doanh nghiệp nhà nước do mình quản lý. Do đó chỉ đạo của Thành phố còn có những biểu hiện lúng túng, làm thí điểm chậm, thiếu tập trung, nhất quán. Có không ít cán bộ, lãnh đạo các cấp (chủ yếu là cấp sở) và bản thân lãnh đạo doanh nghiệp không muốn cổ phần hoá. Họ sợ mất quyền lợi và không muốn khó khăn khi thời gian đương chức còn ngắn. Ngoài ra, theo đánh giá của Ban Chỉ đạo Đổi mới doanh nghiệp tại Hà Nội công tác cải cách doanh nghiệp nhà nước còn gặp phải một số vấn đề như việc phân cấp phê duyệt phương án cổ phần hoá, bán, khoán kinh doanh, cho thuê doanh nghiệp nhà nước vẫn còn cứng nhắc. Những vấn đề trên là lực cản lớn khiến cho công cuộc cải cách doanh nghiệp nhà nước cả nước nói chung và Hà Nội nói riêng bị hạn chế rõ rệt trong hơn 2 năm gần đây. Có thể khẳng định rằng, nếu không tiếp tục tháo gỡ khó khăn, tổ chức thực hiện một cách triệt để, kiên quyết thì tiến trình cải cách doanh nghiệp nhà nước ở Hà Nội khó có thể bứt nhanh lên được và không thể thực hiện được mục tiêu của Chính phủ đề ra là đến năm 2005 về cơ bản sẽ sắp xếp trong doanh nghiệp nhà nước. 2.2.3. Bài học kinh nghiệm rút ra từ quá trình đổi mới doanh nghiệp nhà nước địa phương ở Hà Nội. Qua quá trình thực hiện đổi mới, sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước địa phương ở Hà Nội trong những năm qua có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm sau: Một là, Thành phố Hà Nội là địa phương đi đầu trong cả nước về tổ chức đổi mới doanh nghiệp nhà nước. Việc sắp xếp đổi mới và phát triển doanh nghiệp nhà nước địa phương ở Hà Nội đã đạt được những thành tựu không thể phủ nhận và cùng với doanh nghiệp nhà nước Trung ương, các doanh nghiệp nhà nước địa phương góp phần trong việc duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế của Thành phố trong nhiều năm qua. Tuy nhiên, quá trình cải cách doanh nghiệp nhà nước được tiến hành khá thận trọng (từ thí điểm, triển khai hẹp, mở rộng) cho thấy Hà Nội thời kỳ đầu còn lo ngại những ảnh hưởng tiêu cực của cải cách doanh nghiệp nhà nước như sơ chệch hướng, người lao động mất việc nên tốc độ cổ phần hoá 1996 và 1997 diễn ra chậm chạp. Qua phân tích kết quả và hạn chế của quá trình đổi mới doanh nghiệp nhà nước địa phương ở Hà Nội cho thấy, cải cách doanh nghiệp nhà nước chỉ được tiến hành thành công khi đã chuẩn bị chu đáo cả về cơ chế, chính sách và vật chất để giải quyết những vướng mắc và hậu quả do cải cách doanh nghiệp nhà nước gây ra. Hai là, nếu Nhà nước vẫn còn can thiệp sâu và trực tiếp vào hoạt động của các doanh nghiệp sẽ cản trở mục tiêu phân định trách nhiệm giữa Nhà nước và doanh nghiệp, tính năng động và tự chủ trong kinh doanh của doanh nghiệp. Đã có lúc, tỷ lệ cổ phần của Nhà nước trong các doanh nghiệp đã chuyển sang công ty cổ phần chiến hơn 60%. Vì vậy, dẫn đến tình trạng “Nhà nước hoá Công ty cổ phần”; Nhà nước gần như quyết định hầu hết các vấn đề trong doanh nghiệp, các thành viên hội đồng quản trị đều do Nhà nước bổ nhiệm. Chính vì vậy, về cơ bản hoạt động của các công ty cổ phần vẫn sẽ mang dáng dấp của doanh nghiệp nhà nước trước đây. Ví dụ: Công ty Sứ Bát tràng vốn nhà nước chiếm hơn 60.62%. Công ty cổ phần xe khách Hà Nội vốn nhà nước là 69.8%. Ba là, có thể nói quá trình cải cách doanh nghiệp nhà nước nói chung và doanh nghiệp nhà nước địa phương ở Hà Nội nói riêng chậm được thực hiện đã trở thành lực cản cho quá trình nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước và cho quá trình phát triển kinh tế của Thành phố. Việc kịp thời ban hành các chính sách, đặc biệt là chính sách đối với người lao động và giá bán cổ phần thuộc vốn Nhà nước phải được tuân thủ nguyên tắc của cơ chế thị trường đã trở thành 2 nhân tố tối cần thiết trong cải cách doanh nghiệp nhà nước. Đặc biệt với những nơi như Hà Nội, giá trị của đất đai rất lớn, thì việc xác định giá bán cổ phần một cách chính xác, sát với giá thị trường lại càng trở nên cần thiết. Theo Ban Chỉ đạo Đổi mới và Phát triển doanh nghiệp Hà Nội thì rút kinh nghiệm từ thực tiễn xảy ra, việc xác định đúng giá trị doanh nghiệp ở những vị trí “đắc địa” là cực kỳ quan trọng để tránh thất thoát tài sản Nhà nước và tránh tư nhân hoá. Vì thế, khi đã coi cải cách doanh nghiệp nhà nước là cuộc cách mạng trong quản lý kinh tế thì cần có cơ chế đồng bộ, quan điểm chỉ đạo nhất quán từ Trung ương đến cơ sở, vừa chỉ đạo thực hiện kiên quyết, vừa theo dõi sát để kịp thời điều chỉnh, bổ sung những cơ chế mới khi xuất hiện những lực cản làm chậm tiến trình thực hiện cải cách doanh nghiệp nhà nước Kết luận chương 2 Qua phân tích thực trạng doanh nghiệp nhà nước địa phương ở Hà Nội, ta thấy doanh nghiệp nhà nước địa phương ở Hà Nội đã có nhiều bước phát triển mới: mặc dù còn khó khăn về tài chính, quy mô vốn nhỏ, nhưng nhiều doanh nghiệp nhà nước địa phương ở Hà Nội vẫn cố gắng duy trì sản xuất, tạo việc làm ổn định cho người lao, thu nhập của người lao động ngày càng tăng, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế Thủ đô. Tuy nhiên, những kết quả đó chưa tương xứng với yêu cầu và tiềm năng sẵn có của các doanh nghiệp nhà nước địa phương ở Hà Nội. Các doanh nghiệp nhà nước địa phương ở Hà Nội vẫn còn nhiều hạn chế về năng lực và hiệu quả. Để nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước địa phương ở Hà Nội, Thành uỷ và Uỷ ban nhân dân Thành phố Hà Nội đã có kế hoạch thực hiện chủ trương chính sách cải cách doanh nghiệp của Đảng và Chính phủ ngay từ đầu và đã đạt được những kết quả nhất định. Nhưng việc sắp xếp doanh nghiệp nhà nước mới chỉ quan tâm đến các doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh, mà chưa quan tâm đúng mức đến việc sắp xếp đổi mới và phát triển doanh nghiệp nhà nước hoạt động công ích. Tình hình trên đang đặt ra vấn đề cần sớm giải quyết là: với vai trò là Thủ đô, việc củng cố, đầu tư cho các doanh nghiệp nhà nước hoạt động công ích càng trở nên cần thiết hơn. Vì vậy, những giải pháp đưa ra để nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, một mặt phải đạt được các quy định trong chủ trương chính sách của Nhà nước, mặt khác phải phù hợp với địa phương. CHƯƠNG 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP TIẾP TỤC ĐỔI MỚI VÀ PHÁTTRIỂN DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC ĐỊA PHƯƠNG Ở HÀ NỘI 3.1. Quan điểm và phương hướng tiếp tục đổi mới và phát triển doanh nghiệp nhà nước địa phương ở Hà Nội. Việc sắp xếp, đổi mới và phát triển doanh nghiệp nhà nước phải quán triệt các quan điểm cơ bản Nghị quyết Đại hội Đảng IX và Nghị quyết Trung ương 3, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Thành phố lần thứ XIII và chương trình công tác của Thành uỷ. Những quan điểm - phương hướng đó là: Thứ nhất, mục tiêu của công tác sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước do Uỷ ban nhân dân Thành phố thành lập phải hướng tới đạt được các qui định tại Quyết định số 58/2002/QĐ-TTg ngày 26/4/2002 của Thủ tướng Chính phủ “về ban hành tiêu chí, danh mục phân loại doanh nghiệp nhà nước và Tổng công ty nhà nước”. Phấn đấu đến năm 2005 các doanh nghiệp nhà nước do Uỷ ban nhân dân Thành phố thành lập được giữ lại sẽ đạt các qui định của Quyết định số 58/2002/QĐ-TTg. Thứ hai, việc sắp xếp đổi mới phát triển và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước phải căn cứ vào đặc điểm và cơ cấu kinh tế của thủ đô Hà Nội, phải xuất phát từ trình độ phát triển, tình hình thực tế của doanh nghiệp nhà nước địa phương, trình độ tổ chức quản lý của cơ quan các cấp, phải bảo đảm hiệu quả kinh tế, không hình thức và tránh hậu quả xấu về kinh tế xã hội. Trước mắt, xuất phát từ tình hình thực tế của các doanh nghiệp nhà nước địa phương hiện nay qui mô vốn nhà nước không cao do thời gian trước đây chưa được đầu tư thoả đáng, một số năm gần đây các doanh nghiệp đã chú trọng đầu tư đổi mới máy móc thiết bị nhưng chủ yếu bằng nguồn vốn vay theo kế hoạch của Nhà nước. Vì vậy để phản ánh đúng qui mô vốn Nhà nước đầu tư cho doanh nghiệp, phương hướng là lấy chỉ tiêu vốn kinh doanh (bao gồm: vốn nhà nước + vốn vay dài hạn ngân hàng) để đánh giá phân loại. Đồng thời để đánh gia phân loại được toàn diện ngoài các chỉ tiêu theo Quyết định số 58/2002/QĐ-TTg thì cần sử dụng thêm các chỉ tiêu về lao động, doanh thu, lợi nhuận thực hiện. Các doanh nghiệp nhà nước địa phương ở Hà Nội sẽ được sắp xếp lại trong giai đoạn 2002-2005 như sau. Nhóm 1: Các doanh nghiệp nhà nước kinh doanh cần nắm giữ 100% vốn Nhà nước, hoặc nắm 51% vốn đối với Công ty Cổ phần phải đủ các điều kiện sau: Bảng số 3.1: Điều kiện để doanh nghiệp nhà nước hoạt động sản xuất kinh doanh giữ lại 100% vốn nhà nước hoặc 51% vốn đối với công ty cổ phần Ngành nghề kinh doanh Vốn kinh doanh (tỷ đồng) Lao động bình quân (người) Doanh thu (tỷ đồng) Nộp ngân sách (tỷ đồng) Lợi nhuận thực hiện (triệu đồng) Doanh nghiệp sản xuất công nghiệp > 10 > 200 >10 >1 > 300 Doanh nghiệp xây dựng >10 >200 >20 >1,5 >400 Doanh nghiệp thương mại >10 >100 >50 >2 >500 Doanh nghiệp dịch vụ khác >10 >100 >20 >1,5 >500 Nguồn:Dự thảo đề án sắp xếp doanh nghiệp nhà nước địa phương ở Hà Nội giai đoạn 2002- 2005 Nhóm 2: Các doanh nghiệp cần chuyển đổi cơ cấu sở hữu theo hướng cổ phần hoá mà Nhà nước không nắm giữ cổ phần chi phối; hợp nhất, sáp nhập; giao cho tập thể người lao động. Nhóm 3: Gồm các doanh nghiệp thuộc diện giải thể. - Thứ ba, Quá trình thực hiện phải đặt trong mối quan hệ tổng thể giữa Trung ương và địa phương, phải đảm bảo định hướng trong mỗi ngành kinh tế, nhất là các doanh nghiệp nhà nước hoạt động trong các ngành công nghiệp mũi nhọn chủ lực: điện tử và công nghệ thông tin, cơ kim khí, dệt may, da giầy, chế biến thực phẩm và vật liệu xây dựng mới, cần giữ lại một số doanh nghiệp nhà nước (Nhà nước phải giữ 100% vốn, hoặc nắm cổ phần chi phối trong Công ty cổ phần) để cùng với các doanh nghiệp nhà nước do Trung ương quản lý làm nòng cốt trong kinh tế nhà nước để kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế thị trường. - Thứ tư, Hà Nội là thành phố lớn, là Thủ đô của cả nước, cần xây dựng cơ sở hạ tầng và phát triển đô thị hiện đại. Do đó trong 5 năm tới cần duy trì một số doanh nghiệp nhà nước hoạt động công ích trong lĩnh vực quan trọng cấp thoát nước, chiếu sáng đô thị, vệ sinh môi trường... 3.2. Một số giải pháp chủ yếu nhằm đổi mới và phát triển doanh nghiệp nhà nước địa phương ở Hà Nội . 3.2.1. Đổi mới tổ chức quản lý doanh nghiệp nhà nước. * Nhà nước phải tạo hành lang pháp lý ổn định, đồng bộ, cụ thể để các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần, mọi lĩnh vực hoạt động đều xuất phát theo luật (Luật Doanh nghiệp, Luật Thương mại, Luật Cạnh tranh...), ngoài ra doanh nghiệp không còn ràng buộc gì nữa. Với mục tiêu như vậy cần nhanh chóng xây dựng bộ máy làm luật một cách chuyên nghiệp, tránh tình trạng luật quy định chung chung dẫn đến chức năng, thẩm quyền của các bộ ngành cũng không rõ ràng và hậu quả là sự quản lý chồng chéo của các cơ quan Nhà nước. Thực tế hiện nay cho thấy, doanh nghiệp nhà nước bị chi phối bởi nhiều cơ quan quản lý nhà nước, cho nên phải chờ đợi xin ý kiến trình duyệt làm hạn chế sự năng động, tự chủ của doanh nghiệp. Vì vậy trong thời gian tới, trên cơ sở nội dung cuộc họp thành viên Chính phủ ngày 10/9/2002 về xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, trách nhiệm của các Bộ, ngành, Thành uỷ và Uỷ ban nhân dân Thành phố Hà Nội cần định rõ chức năng thẩm quyền của các Sở, ban, ngành tránh tình trạng quản lý chồng chéo như hiện nay. Các doanh nghiệp nhà nước thuộc ngành công nghiệp do 18 cơ quan quản lý khác nhau, các doanh nghiệp nhà nước thuộc ngành thương mại do 22 cơ quan quản lý ). Đồng thời đề nghị Chính phủ sớm xem xét cho phép Hà Nội thí điểm việc xoá bỏ phân cấp quản lý doanh nghiệp nhà nước Trung ương và doanh nghiệp nhà nước địa phương trên địa bàn. Sớm đưa vào thực tiễn nguyên tắc các doanh nghiệp bất luận của ai, ở đâu, làm gì đều chỉ tuân theo luật doanh nghiệp, và các hoạt động pháp luật nhà nước nói chung, duy nhất. Ngoại trừ những doanh nghiệp nhà nước đặc biệt, còn lại giao cho Thành phố quản lý thống nhất và Thành phố thực hiện các khoản thu ngân sách nhà nước nộp Trung ương theo phân cấp mới. Bên cạnh đó đề nghị Uỷ ban nhân dân Thành phố Hà Nội phải điều chỉnh chức năng nhiệm vụ của một số sở. Công việc thuộc trách nhiệm chính của sở nào thì sở đó phải chủ động phối hợp với các sở khác để giải quyết những vấn đề có liên quan. Mỗi việc chỉ giao cho một cơ quan chủ trì có trách nhiệm, kiên quyết khắc phục tình trạng giao việc cho nhiều cơ quan và việc ra quyết định phải theo cơ chế thoả thuận hạn chế hiệu quả của quyết định như trước đây. * Trên cơ sở chủ trương, chính sách, luật chung cho cả nước, Thành phố Hà Nội cần nghiên cứu và đề xuất các kiến nghị với Trung ương nhằm góp phần hoàn thiện các chính sách và quy định pháp lý chung từ Trung ương, vừa cho phép Hà Nội có được những cơ chế, chính sách pháp lý phù hợp để Hà Nội chủ động vận dụng một cách linh hoạt, thích hợp với vị thế Thủ đô. Trước mắt cần nghiên cứu để hoàn thiện mô hình tổ chức quản lý doanh nghiệp nhà nước để tạo điều kiện cho doanh nghiệp nhà nước thực sự là chủ thể kinh tế, tự chủ, tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động của doanh nghiệp. - Qua vận hành một số mô hình tổ chức quản lý doanh nghiệp nhà nước địa phương ở Hà Nội đã được triển khai như: mô hình doanh nghiệp nhà nước có Hội đồng quản trị được áp dụng với Tổng công ty Đầu tư và Phát triển nhà, mô hình doanh nghiệp nhà nước không có Hội đồng quản trị áp dụng với các doanh nghiệp nhà nước độc lập, doanh nghiệp nhà nước thành viên của Tổng công ty đang bộc lộ những mặt hạn chế, ảnh hưởng tới hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu thực tiễn. Đặc biệt, mô hình tổ chức Liên hiệp xí nghiệp như Liên hiệp xe đạp xe máy, Liên hiệp sản xuất - xuất nhập khẩu tổng hợp Hà Nội còn nhiều vấn đề phải bàn. Các Liên hiệp xí nghiệp hiện nay của Hà Nội. Chủ yếu thành lập dựa trên tập hợp các doanh nghiệp nhà nước, chưa thực sự là một thể thống nhất, chưa phát huy được sức mạnh tổng hợp của toàn Liên hiệp xí nghiệp, chưa đạt mục tiêu đề ra là khắc phục tình trạng hoạt động rời rạc của các doanh nghiệp thành viên, tạo sự liên kết về kinh tế gắn bó về lợi ích, thị trường... trong nội bộ liên hiệp. Thời gian qua, Nhà nước đã cho phép thí điểm áp dụng mô hình tổ chức “Công ty mẹ - Công ty con” đối với doanh nghiệp nhà nước độc lập thuộc một số bộ. Nhìn tổng thể mô hình này có nhiều điểm tiến bộ so với các mô hình doanh nghiệp nhà nước khác, đặc biệt khác hẳn về bản chất với mô hình Tổng công ty và Liên hiệp xí nghiệp. Thứ nhất, khắc phục được hạn chế của mô hình Tổng công ty đang áp dụng từ mô hình “ bao khoai tây” sang mô hình “mạng lưới” các quan hệ bước đầu đi vào thực chất hơn chứ không chỉ mang tính chất hành chính, mệnh lệnh, thu nộp. Thứ hai, mô hình “Công ty mẹ - Công ty con” cho phép kết hợp một cách hài hoà các loại hình sở hữu trong phạm vi một doanh nghiệp. Giữa các loại hình doanh nghiệp nhà nước, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn có sự đan xen với nhau, hỗ trợ nhau cùng phát triển. Khả năng chi phối của doanh nghiệp nhà nước đối với các thành phần kinh tế khác được duy trì. Trên cơ sở vốn, thị trường, khoa học công nghệ... Việc mở rộng mô hình này là hướng quan trọng để tạo ra môi trường kinh doanh bình đẳng, tiến tới các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế sẽ hoạt động theo một bộ luật doanh nghiệp thống nhất ở nước ta. Vì vậy, trong thời gian tới qua kinh nghiệm ở một số bộ ngành như mô hình “Công ty mẹ - Công ty con” của công ty xây dựng và xuất nhập khẩu Việt Nam (gọi tắt là Constrexim) thuộc Bộ xây dựng, Hà Nội cần khẩn trương thực hiện thí điểm sau đó rút kinh nghiệm triển khai nhân rộng mô hình “Công ty mẹ - Công ty con” mà trước tiên là các doanh

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docDoanh nghiệp nhà nước địa phương ở thành phố Hà Nội - thực trạng và giải pháp.doc
Tài liệu liên quan