Luận văn Phát triển kinh tế trang trại ở huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế

ết quả sản xuất của trang trại được đánh giá trên tổng giá trị sản xuất do

trang trại đó làm ra, tuy nhiên tổng giá trị sản xuất của các loại hình trang trại có sự

khác nhau đáng kể vì nó phụ thuộc vào quy mô và đặc điểm, tính chất của sản phẩm

sản xuất kinh doanh, mặt khác nó cũng phụ thuộc vào năng lực, trình độ tổ chức

quản lý sản xuất kinh doanh của các chủ trang trại. Xét bảng 2.14 ta thấy:

Tổng giá trị sản xuất bình quân mỗi trang trại tạo ra 240,5 triệu đồng. Với

khối lượng sản xuất ra bình quân trên một trang trại ở Quảng Điền như vậy được

xem là khá thành công, Nhưng nhìn vào tổng giá trị sản xuất của từng ngành tạo ra

thì ta thấy ngành nông nghiệp cho tổng giá trị sản xuất cao nhất 184,8 triệu đồng

chiếm 76,8% cơ cấu sản xuất, trong đó chăn nuôi vẫn chiếm tỷ lệ lớn 68,1% bình

quân mỗi trang trại tạo ra 163,8 triệu đồng, đều này phản ánh đúng thực tế của việc

chuyển đổi cơ cấu trong nông nghiệp, tuy nhiên ngành thủy sản một ngành cũng

thuộc vào thế mạnh của huyện nhưng tổng giá trị sản xuất bình quân mỗi trang trại

tạo ra chỉ 45,7 triệu đồng, chiếm tỷ lệ 19% trong cơ cấu, riêng lâm nghiệp chỉ bình

quân 5 triệu đồng có kết quả thấp như vậy là do rừng ở Quảng Điền chủ yếu là rừng

Dương nhằm phục vụ việc bảo vệ vùng ven biển nên việc khai thác rừng này là rất

hạn chế. Bên cạnh giá trị sản xuất của các trang trại còn tạo ra bình quân 5 triệu

đồng từ những ngành phi nông nghiệp, đây là những trang trại có chủ trang trại

đang làm việc ở chính quyền địa phương hay làm những công việc khác có khả

năng tạo ra giá trị cho trang trại

pdf108 trang | Chia sẻ: lavie11 | Ngày: 11/12/2020 | Lượt xem: 57 | Lượt tải: 1download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Luận văn Phát triển kinh tế trang trại ở huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
giảm xuống còn 17 trang trại trong năm 2009. Cơ cấu các loại hình trang trại 51,1% 12,8% 36,2% CN NTTS SXKD TH Biểu đồ 2.2: Cơ cấu các loại hình trang trại điều tra ĐA ̣I H ỌC KI NH TÊ ́ HU Ế 48 Xét về cơ cấu các loại hình trang trại, với kết quả tổng hợp từ điều tra trang trại ở huyện, ta thấy trang trại chăn nuôi chiếm hơn nửa trong tổng số với 51,1%, trang trại nuôi trồng thủy sản 12,8%; trang trại sản xuất kinh doanh tổng hợp 36,2%. Qua việc xét cơ cấu của từng loại hình thì ta cũng thấy được phần nào trong việc ưu tiên đầu tiên sản xuất của người dân, đó chính là sản xuất những sản phẩm nào đem lại rủi ro thấp. Bảng 2.6: Phân bố các loại hình trang trại theo vùng sinh thái ĐVT: Trang trại Các vùng Tỷ lệ(%) Tổng số Phân theo loại hình TT Chăn nuôi Nuôi trồng thủy sản SXKD tổng hợp Tổng số 100 47 24 6 17 Vùng cát ven biển 10,6 5 - 5 - Vùng cát nội đồng 29,8 14 8 1 5 Vùng đất thục 59,6 28 16 - 12 (Nguồn: Số liệu điều tra năm 2009) So với số lượng trang trại ở các huyện đồng bằng trong Tỉnh thì Quảng Điền có số lượng trang trại ít hơn nhiều, tuy nhiên việc phân bố các loại hình trang trại lại được trải đều trên các vùng sinh thái khác nhau, vùng cát ven biển với 5 trang trại tập trung loại hình nuôi trồng thủy sản chiếm 10,6% tổng số. Vùng cát nội đồng với 14 trang trại chiếm 29,8%, vùng đất thục đây là vùng có điều kiện cho trang trại phát triển, số trang trại ở vùng này lên đến 28 trang trại chiếm 59,6%. 2.2.1.2. Chủ trang trại Để phát triển kinh tế trang trại, một trong những yếu tố quan trọng có tính quyết định, đó là khả năng tổ chức quản lý sản xuất kinh doanh của chủ trang trại. Nghiên cứu đặc điểm của chủ trang trại từ số liệu điều tra, tác giả tổng hợp và tính toán một số chỉ tiêu cụ thể như sau: - Về giới tính: đa số các chủ trang trại là nam chiếm 91,5% tổng số, nữ chỉ chiếm tỷ lệ 8,5%. Có tỷ lệ phần lớn nam làm chủ trang trại là do các trang trại ở đây ĐA ̣I H ỌC KI NH TÊ ́ HU Ế 49 phát triển từ kinh tế hộ, theo tập quán Việt Nam chủ hộ thường là nam nên khi hình thành trang trại thì chủ trang trại cũng mang giới tính là nam. Bảng 2.7: Thông tin về chủ trang trại ĐVT: % Chỉ tiêu Tổng số Phân theo loại hình TT Chăn nuôi Nuôi trồng thủy sản SXKD tổng hợp 1.Giới tính chủ trang trại - Nam 91,5 91,7 83,3 94,1 - Nữ 8,5 8,3 16,7 5,9 2. Xuất thân - Nông dân 83,0 83,3 83,3 82,4 - Khác 17,0 16,7 16,7 17,6 3. Trình độ chuyên môn - Không có TDCM 76,6 70,8 100,0 76,5 - Có TDCM 23,4 29,2 - 23,5 4. Độ tuổi - Dưới 40 tuổi 8,5 4,2 - 17,6 - Từ 40 đến dưới 60 tuổi 76,6 75,0 83,3 76,5 - Trên 60 tuổi 14,9 20,8 16,7 5,9 5. Số năm kinh nghiệm - Dưới 5 năm 19,1 20,8 16,7 17,6 - Từ 5 đến dưới 10 năm 57,4 50,0 66,6 64,7 - Trên 10 năm 23,4 29,2 16,7 17,6 (Nguồn: Số liệu điều tra năm 2009) - Nguồn gốc xuất thân của chủ trang trại phần lớn từ thành phần nông dân chiếm tỷ lệ 83%, điều này thể hiện việc hình thành các trang trại chủ yếu xuất phát từ kinh tế hộ nông dân tại địa phương. Một số chủ trang trại có nguồn gốc xuất thân khác là những người có điều kiện về vốn, có ý chí làm giàu thực hiện đầu tư phát triển kinh tế trang trại. - Về trình độ chuyên môn: phần lớn các chủ trang trại đều không có bằng cấp chuyên môn, số có bằng chuyên môn từ sơ cấp trở lên chỉ có 23,4%. Thực tế này cho thấy năng lực quản lý sản xuất kinh doanh và khả năng ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất kinh doanh ở các trang trại sẽ rất hạn chế. ĐA ̣I H ỌC KI NH TÊ ́ HU Ế 50 - Độ tuổi của chủ trang ở mức 40 đến 60 tuổi chiếm tỷ lệ 76,6 %, điều này cho thấy phần lớn chủ trang trại là các lão nông tri điền, với tỷ lệ có độ tuổi cao như vậy nên số năm kinh nghiệm trong sản xuất của các chủ trang trại này cũng chiếm tỷ lệ cao, với 5 đến 10 năm kinh nghiệm chiếm 57,4%. Số chủ còn lại có độ tuổi dưới 40 chiếm 8,5% và trên 60 tuổi chiếm 14,9%, đây là những chủ trang trại còn quá trẻ hoặc những người đã lớn tuổi hoặc các cán bộ đã về hưu nên chỉ có việc quản lý, còn tham gia sản xuất là các lao động khác nên số năm kinh nghiệm của các chủ này cũng chiếm tỷ lệ thấp, dưới 5 năm kinh nghiệm chiếm 19,1% và trên 10 năm kinh nghiệm chiếm 23,4%. 2.2.1.3. Lao động của trang trại Kinh tế trang trại ở Quảng Điền phần lớn mang tính tự phát, được hình thành do tính tất yếu khách quan, do xu thế của của nền kinh tế sản xuất hàng hoá, cùng với chủ trương đổi mới cơ chế quản lý trong nông nghiệp, phát triển kinh tế đa thành phần và đặc biệt coi trọng kinh tế hộ nông dân, là thành phần kinh tế chủ yếu trong nông nghiệp. Hình thức là kinh tế trang trại nhưng bản chất của nó vẫn là thành phần kinh tế hộ, nên lao động của kinh tế trang trại không khác so với kinh tế hộ. Lao động làm việc thường xuyên trong trang trại phần lớn là lao động của chủ hộ trang trại, chỉ có một số trang trại có qui mô lớn hoặc do đặc tính đặc thù nên cần phải bổ sung vào nguồn lao động thường xuyên bằng cách thuê mướn, bên cạnh đó do đặc điểm là ngành sản xuất nông nghiệp nên có tính thời vụ do vậy vào điểm cao của mùa vụ cũng cần thuê thêm lao động. Qua số liệu tổng hợp từ kết quả điều tra, số lao động bình quân làm việc thường xuyên hiện có của các trang trại là 2,4 lao động, trong đó lao động của chủ trang trại là 1,9 lao động, lao động thuê mướn 0,5 lao động, lao động thuê mướn ở thời điểm cao nhất là 3,1 lao động, điều này cho thấy việc thuê lao động làm việc trong các trang trại ở Quảng Điền hiện còn hạn chế, bởi vì ngày công lao động trong nông nghiệp thấp nhưng lại mất sức lực, việc làm không ổn định do sản xuất mang tính rủi ro cao, chỉ có lao động thời vụ là nhiều hơn hẳn vì do tính chất sản xuất trong nông nghiệp là có tính thời vụ nên lao động cũng có tính cùng đặc điểm trên. ĐA ̣I H ỌC KI NH TÊ ́ HU Ế 51 Bảng 2.8: Tình hình sử dụng lao động của các trang trại ĐVT: Lao động Chỉ tiêu Bình quân chung Phân theo loại hình TT Chăn nuôi Nuôi trồng thủy sản SXKD tổng hợp 1. Tổng số lao động thường xuyên 2,4 2,1 2,8 2,6 + Lao động của hộ chủ trang trại 1,9 1,5 2,6 2,3 + Lao động thuê mướn 0,5 0,6 0,2 0,3 2. LĐ thuê mướn thời vụ ở thời điểm cao nhất 3,1 2,0 6,7 3,5 (Nguồn: Số liệu điều tra năm 2009) Xét về các loại hình trang trại: ở Quảng Điền lao động gia đình vẫn chiếm chủ yếu đối với tất cả các loại hình, trong đó trang trại chăn nuôi có số lao động thuê mướn bình quân 0,6 số lao động làm việc trong loại hình này, có được tỷ lệ cao như vậy là do trong chăn nuôi ngoài việc cho vật nuôi ăn vệ sinh chuồng trại thì việc thu hoạch sản phẩm không qua giết thịt cũng chiếm rất nhiều thời gian đặc biệt trong chăn nuôi gia cầm. Ngoài ra đến thời điểm cao nhất mùa vụ các trang trại cũng thuê mướn lao động trả tiền lương theo ngày làm để thu hoạch sản phẩm cho kịp tiến độ sản xuất. Đặc biệt, đối với trang trại nuôi trồng thủy sản đến kỳ thu hoạch sản phẩm thì cần một số lượng lớn lao động để đảm nhiệm công việc này bình quân mỗi trang trại thuê đến 6,7 lao động. Đối với trang trại chăn nuôi số lao động thời vụ chỉ bình quân 2 lao động đều này phản ánh đúng với thực tế, vì các trang trại chăn nuôi công việc thu hoạch phần lớn là các nhà thu gom đảm trách, còn việc thuê lao động thời vụ ở các trang trại này chỉ diễn ra khi thời tiết xấu vật nuôi dễ ốm nên cần bổ sung số lao động để chăm sóc. ĐA ̣I H ỌC KI NH TÊ ́ HU Ế 52 2.2.1.4. Tình hình sử dụng đất của trang trại Trong sản xuất nông nghiệp đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt không thể thay thế được. Không có đất thì không có sản xuất nông nghiệp, vì vậy quy mô và trình độ phát triển của sản xuất nông nghiệp phụ thuộc rất nhiều vào tính chất và mức độ tập trung đất cho sản xuất. Các loại hình kinh tế trang trại vẫn dựa vào đất đai là chủ yếu, tuỳ theo đặc thù của từng loại hình trang trại mà qui mô diện tích sử dụng đất cho sản xuất cũng khác nhau. Để hiểu rõ hơn việc sử dụng nguồn tài nguyên quý giá này tại các trang trại ở Quảng Điền ta xem xét phân tích số liệu trong bảng 2.9: Bảng 2.9: Tình hình sử dụng đất của các trang trại ĐVT: Trang trại Loại đất Bình quânchung Phân theo loại hình TT Chăn nuôi Nuôi trồng thủy sản SXKD tổng hợp Tổng diện tích bình quân 4,4 1,3 6,3 8,0 1. Đất trồng cây hàng năm 1,1 0,1 0,1 2,2 - Trong đó Đất trồng Lúa 0,2 - 0,1 0,6 2. Đất trồng cây lâu năm 0,3 0,1 - 0,7 - Trong đó Đất trồng cây ăn quả 0,2 - - 0,4 3. Đất lâm nghiệp 1,9 0,7 - 4,2 - Trong đó Đất rừng trồng 1,9 0,7 - 4,2 4. Đất nuôi trồng thủy sản 0,9 0,1 6,2 0,3 5. Đất khác 0,2 0,3 - - (Nguồn: Số liệu điều tra năm 2009) Diện tích đất nông nghiệp bình quân mỗi trang trại ở Quảng Điền sử dụng 4,4 ha để phục vụ cho việc sản xuất trong trang trại của mình, trong khi đó bình quân chung của cả tỉnh là 9,5 ha, như vậy diện tích bình quân 1 trang trại ở Quảng Điền là rất thấp nên việc sử dụng hợp lý đối với tài nguyên này ở địa bàn huyện là vấn đề cấp thiết để có thể mở rộng qui mô của trang trại. ĐA ̣I H ỌC KI NH TÊ ́ HU Ế 53 Xét từng loại hình trang trại: Kết hợp với bảng 2.10, ta thấy đối với trang trại chăn nuôi thì việc sử dụng đất nông nghiệp vào việc sản xuất là rất ít bình quân 1,3 ha, khi nhìn vào cơ cấu từng loại đất thì chỉ có những trang trại có đất lâm nghiệp thì có diện tích lớn, còn lại phần lớn đất đai ở đây năm trong diện đất khác đó là đất vườn trong trang trại, qua bảng số liệu ta cũng thấy được chỉ có 1 trang trại có diện tích từ 3 đến dưới 5 ha và 2 trang trại có từ 5 đến dưới 10 ha đất còn lại là 21 trang trại có diện tích dưới 3 ha. Đối với trang trại nuôi trồng thủy sản diện tích bình quân mỗi trang trại là 6,3 ha, đất chính của loại hình này là đất có mặt nước phụ vụ chính cho việc nuôi thủy hải sản, số trang trại có 3 đến dưới 5 ha có 2 trang trại, 5 đến dưới 10 ha có 2 trang trại, 10 đến dưới 15 ha có 1 trang trại. Với việc nuôi tôm công nghiệp thì qui mô diện tích là hợp lý không qua lớn, dễ thâm canh, là điều kiện tốt để loại hình trang trại này phát triển. Bảng 2.10: Phân tổ qui mô sử dụng đất của các trang trại ĐVT: Trang trại Các tổ Phân theo loại hình TT Số trang trại Tỷ lệ (%) Chăn nuôi Nuôi trồng thủy sản SXKD tổng hợp Dưới 3 ha 21 1 - 22 46,8 Từ 3 đến dưới 5 ha 1 2 6 9 19,1 Từ 5 ha đến dưới 10 ha 2 2 6 10 21,3 10 ha đến dưới 15 ha - 1 3 4 8,5 Trên 15 ha - - 2 2 4,3 (Nguồn: Số liệu điều tra năm 2009) Đối với loại hình sản xuất kinh doanh tổng hợp bình quân mỗi trang trại sử dụng 8 ha đất dùng cho việc sản xuất, do đặc điểm là sản xuất ra nhiều loại sản phẩm nên đất dùng trong loại hình này không chuyên về một sản phẩm nào mà bao gồm nhiều loại đất và cơ cấu từng loại đất trong trang trại cũng phân bổ hợp lý, số trang trại có 3 đến dưới 5 ha có 6 trang trại, 5 đến dưới 10 ha có 6 trang trại, 10 đến dưới 15 ha có 3 trang trại, trên 15 ha có 2 trang trại. ĐA ̣I H ỌC KI NH TÊ ́ HU Ế 54 Qua phân tích tình hình sử dụng đất của các loại hình trang trại ta thấy số trang trại có diện tích đất sử dụng dưới 3 ha cho sản xuất chiếm tỷ lệ lớn, có đến 22 trang trại chiếm tỷ lệ 46,8% nên qua khảo sát thì đây là những trang trại chăn nuôi, nên việc phân bố đất như vậy là hợp lý, số trang trại còn lại có qui mô diện tích lớn là do đặc trưng của ngành sản xuất. 2.2.1.5. Trang thiết bị của trang trại Sử dụng trang thiết bị máy móc trong sản xuất nông nghiệp là những phương tiện cần thiết, không thể thiếu được khi các trang trại tiến hành sản xuất kinh doanh. Với việc áp dụng máy móc vào sản xuất sẽ tăng năng suất lao động, sản xuất ra nhiều sản phẩm hàng hoá chất lượng cao, giá thành hạ thu được nhiều lợi nhuận. Qua tổng hợp tình hình trang bị và sử dụng máy móc, thiết bị nêu trên, có thể thấy bước đầu các trang trại đã tập trung đầu tư mua sắm, trang bị những máy móc, thiết bị thiết yếu để phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh của mình. Tuy nhiên, việc trang bị máy móc trong các trang trại điều tra nêu trên còn nhiều hạn chế và yếu kém, thể hiện chỉ có 25,5% tỷ lệ trang trại có sử dụng máy phát động cơ, 63,8% tỷ lệ trang trại có trang bị bình phun thuốc trừ sâu. Một số khâu như bơm tát, tuốt lúa,... chủ yếu được trang bị không khác so với quy mô kinh tế hộ. Còn lại một số khâu cơ bản như vận chuyển, làm đất, chế biến, thì có 19,1% tỷ lệ trang trại có dùng máy kéo phục vụ cho sản xuất nông nghiệp và 4,3 % tỷ lệ trang trại có sử dụng ô tô phục vụ vận chuyển hàng hóa, hầu như chưa có sự quan tâm đầu tư để đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh trong các trang trại. Lao động làm việc trong trang trại sử dụng bằng phương pháp thủ công truyền thống và còn phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên, đây cũng là một trong những yếu kém, bất cập hiện nay cần phải có chính sách hỗ trợ của nhà nước để các trang trại nhanh chóng đầu tư trang bị để nâng cao trình độ cơ giới hoá, điện khí hoá và hiện đại hoá trong các khâu của quá trình sản xuất kinh doanh. Công việc bảo quản thu hoạch sản phẩm sau thu hoạch chủ yếu bằng thủ công, thiếu những hệ thống máy móc hiện đại, quy mô lớn, qua điều tra thì chưa thấy một trang trại nào dùng đến hệ thống này. ĐA ̣I H ỌC KI NH TÊ ́ HU Ế 55 Bảng 2.11: Tình hình sử dụng thiết bị, máy móc của các trang trại Thiết bị, máy móc ĐVT Phân theo loại hình TT cộng Tỷ lệ trang bị chung (%) Chăn nuôi Nuôi trồng thủy sản SXKD tổng hợp 1. Máy kéo Chiếc - - 9 9 19,1 2. Ô tô Chiếc 2 - - 2 4,3 3. Máy phát có động cơ Cái 3 3 6 12 25,5 4. Máy c.biến trong NLTs Cái 4 17 9 30 63,8 5. Bình phun thuốc trừ sâu Cái 1 - - 1 2,1 6. Máy vi tính dùng cho SX Cái 1 - - 1 2,1 (Nguồn: Số liệu điều tra năm 2009) Máy vi tính một phương tiện giúp cho việc sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả cao, là phương tiện để các trang trại tìm hiểu thông tin trên đó vẫn chưa được đưa vào sử dụng, qua điều tra chỉ có 1 trang trại chiếm tỷ lệ rất nhỏ 2,1% là đưa vào sử dụng nhưng chỉ nhằm tính toán còn việc sử dụng internet để tìm hiểu thông tin kiến thức thì còn bị bỏ quên, đây cũng chính là nguyên nhân dẫn đến sự thiếu hiểu biết thông tin của các trang trại. Tóm lại, hiện nay các trang thiết bị là các nhân tố góp phần nâng cao năng suất cây trồng vật nuôi, giảm đi sức lao động nhưng nhìn chung ở các trang trại ở huyện Quảng Điền vẫn chưa được đầu tư đúng mức, chưa tương xứng với sự phát triển của một mô hình kinh tế trang trại. 2.2.1.6. Vốn đầu tư của trang trại Vốn là yếu tố hạn chế đối với mọi hoạt động sản xuất kinh doanh, để phát triển kinh tế trang trại đòi hỏi phải có vốn, trong đó các chủ trang trại cần phải tích lũy một lượng vốn tự có nhất định. Đó là một trong những điều kiện tiên quyết, bởi vì nếu có nhiều vốn thì có thể thuê đất đai, sức lao động làm kinh tế trang trại. Theo kết quả điều tra, vốn bình quân một trang trại ở Quảng Điền khá cao, chủ yếu là vốn tự có, các trang trại chưa tận dụng được nguồn vay từ các tổ chức tín dụng. Hiện nay các tổ chức tín dụng khá phổ biến, tạo điều kiện cho người dân có thể vay vốn ĐA ̣I H ỌC KI NH TÊ ́ HU Ế 56 với số lượng lớn, nên đây là thiệt thòi lớn cho các trang trại trong việc huy động để mở rộng qui mô sản xuất. Xét bảng 2.12 ta thấy: Bảng 2.12: Tình hình sử dụng vốn của các trang trại ĐVT: Triệu đồng Chỉ tiêu Bình quânchung Phân theo loại hình TT Chăn nuôi Nuôi trồng thủy sản SXKD tổng hợp Tổng số vốn SXKD 283,6 290,3 540,8 183,4 Trong đó: thực hiện trong năm 2009 81,7 118,3 58,8 38,0 - Vốn chủ sở hữu 229,1 237,5 393,6 159,2 - Vốn vay 50,5 46,8 147,2 21,8 - Vốn khác 3,9 6,0 - 2,4 (Nguồn: Số liệu điều tra năm 2009) Vốn sản xuất kinh doanh bình quân của trang trại ở Quảng Điền khá cao 283,6 Triệu đồng, trong đó cao nhất là loại hình trang trại nuôi trồng thủy sản lên đến 540,8 triệu đồng, các trang trại nuôi trồng thủy sản phần lớn là nuôi tôm theo hình thức thâm canh với qui mô công nghiệp nên đòi hỏi người nuôi phải bỏ ra nguồn vốn rất lớn vì chi phí đầu tư trên mỗi ha đất để nuôi tôm lên đến cả trăm triệu đồng. Loại hình trang trại chăn nuôi có số vốn 290,3 triệu đồng, đối với loại hình trang trại này, trên địa bàn huyện có hai trang trại chăn nuôi gà công nghiệp ở xã Quảng Vinh đã có vốn đầu tư lên đến cả tỷ đồng để chăn nuôi gia cầm với số lượng lên đến gần 10.000 con. Trang trại sản xuất kinh doanh tổng hợp có vốn đầu tư 183,4 triệu đồng, với mức vốn đầu như vậy cho việc đầu tư sản xuất nhiều sản phẩm thì nguồn vốn này đối với trang trại SXKD tổng hợp xem ra còn hạn chế, qua đây ta cũng thấy được các trang trại đã có sự chú trọng đầu tư cho việc sản xuất kinh doanh của mình. Trong năm qua nhìn chung các trang trại cũng có xu hướng đầu tư mở rộng qui mô về vốn khá lớn bình quân mỗi trang trại là 81,6 triệu đây là con số khá ấn tượng, nhiều nhất vẫn là trang trại chăn nuôi 118,3 triệu đồng đây là tín hiệu đáng ĐA ̣I H ỌC KI NH TÊ ́ HU Ế 57 mừng vì chủ trang trại đang dần thấy được tầm vóc của nguồn trong sản xuất, mặc dù diện tích không lớn nhưng nếu có đủ vốn thì có thể áp dụng nhiều máy móc tăng thâm canh, dẫn đến hiệu quả sản xuất tăng lên chứ không nhất thiết diện tích phái lớn. Bảng 2.13: Cơ cấu vốn sản xuất kinh doanh của các trang trại ĐVT: % Chỉ tiêu Tỷ lệ chung Phân theo loại hình TT Chăn nuôi Nuôi trồng thủy sản SXKD tổng hợp Tổng số vốn SXKD 100 100 100 100 - Vốn chủ sở hữu 80,8 81,8 72,8 86,8 - Vốn vay 17,8 16,1 27,2 11,9 - Vốn khác 1,4 2,1 - 1,3 (Nguồn: Số liệu điều tra năm 2009) Xét về Cơ cấu vốn sản xuất của trang trại thì vốn tự có chiếm phần lớn trong tổng số vốn sản xuất của chủ trang trại, nó chiếm đến 80,8%, vốn vay chỉ chiếm 17,8%, tuy nhà nước đã có chính sách tín dụng tạo điều kiện cho kinh tế trang trại vay vốn mở rộng qui mô sản xuất nhưng nhìn chung các trang trại vẫn chưa tiếp cận được nhiều, họ vẫn sử dụng vốn gia đình là chính. 2.2.2. Tình hình sản xuất kinh doanh của trang trại điều tra 2.2.2.1. Kết quả sản xuất kinh doanh của trang trại a. Tổng giá trị sản xuất Kết quả sản xuất của trang trại được đánh giá trên tổng giá trị sản xuất do trang trại đó làm ra, tuy nhiên tổng giá trị sản xuất của các loại hình trang trại có sự khác nhau đáng kể vì nó phụ thuộc vào quy mô và đặc điểm, tính chất của sản phẩm sản xuất kinh doanh, mặt khác nó cũng phụ thuộc vào năng lực, trình độ tổ chức quản lý sản xuất kinh doanh của các chủ trang trại. Xét bảng 2.14 ta thấy: Tổng giá trị sản xuất bình quân mỗi trang trại tạo ra 240,5 triệu đồng. Với ĐA ̣I H ỌC KI NH TÊ ́ HU Ế 58 khối lượng sản xuất ra bình quân trên một trang trại ở Quảng Điền như vậy được xem là khá thành công, Nhưng nhìn vào tổng giá trị sản xuất của từng ngành tạo ra thì ta thấy ngành nông nghiệp cho tổng giá trị sản xuất cao nhất 184,8 triệu đồng chiếm 76,8% cơ cấu sản xuất, trong đó chăn nuôi vẫn chiếm tỷ lệ lớn 68,1% bình quân mỗi trang trại tạo ra 163,8 triệu đồng, đều này phản ánh đúng thực tế của việc chuyển đổi cơ cấu trong nông nghiệp, tuy nhiên ngành thủy sản một ngành cũng thuộc vào thế mạnh của huyện nhưng tổng giá trị sản xuất bình quân mỗi trang trại tạo ra chỉ 45,7 triệu đồng, chiếm tỷ lệ 19% trong cơ cấu, riêng lâm nghiệp chỉ bình quân 5 triệu đồng có kết quả thấp như vậy là do rừng ở Quảng Điền chủ yếu là rừng Dương nhằm phục vụ việc bảo vệ vùng ven biển nên việc khai thác rừng này là rất hạn chế. Bên cạnh giá trị sản xuất của các trang trại còn tạo ra bình quân 5 triệu đồng từ những ngành phi nông nghiệp, đây là những trang trại có chủ trang trại đang làm việc ở chính quyền địa phương hay làm những công việc khác có khả năng tạo ra giá trị cho trang trại. Xét cụ thể từng loại hình, ta thấy trang trại nuôi trồng thủy sản cho tổng giá trị sản xuất cao nhất bình quân đạt 285,4 triệu đồng, do là loại hình nuôi trồng thủy sản nên giá trị tạo ra chủ yếu là nuôi tôm cá đạt bình quân 274,7 triệu đồng chiếm tỷ lệ 96,3% trong cơ cấu, còn lại giá trị được tạo ra từ nông nghiệp là rất thấp chỉ có bình quân 6 triệu đồng và từ các hoạt động phi nông nghiệp là 4,7 triệu đồng. Đối với loại hình trang trại sản xuất kinh doanh tổng hợp có tổng giá trị sản xuất bình quân mỗi trang trại là 212,7 triệu đồng, cấu thành tổng giá trị sản xuất của trang trại thì ngành nông nghiệp tạo ra tổng giá trị sản xuất là 172,3 triệu đồng chiếm 81,1% cơ cấu sản xuất, trong đó chăn nuôi 120,7 triệu đồng chiếm 56,8% và trồng trọt 51,6 triệu đồng chiếm 24,3%, ngành thủy sản cũng chiếm tỷ lệ khá cao 24,5% tương đương 56,8 triệu đồng. Trang trại chăn nuôi có tổng giá trị sản xuất bình quân là 248,9 triệu đồng, do đặc điểm là thuộc ngành chăn nuôi nên giá trị từ chăn nuôi đạt bình quân 234,3 triệu đồng chiếm tỷ lệ 94,2%, số giá trị còn lại chiếm tỷ lệ nhỏ thì chia đều cho tất cả các hoạt động còn lại. ĐA ̣I H ỌC KI NH TÊ ́ HU Ế 59 Bảng 2.14: Tổng giá trị sản xuất và cơ cấu tổng giá trị sản xuất của các trang trại ĐVT: Triệu đồng Chỉ tiêu Tổng số Phân theo loại hình TT Chăn nuôi Nuôi trồng thủy sản SXKD tổng hợp Tổng giá trị sản xuất 240,5 248,9 285,4 212,7 Cơ cấu chung(%) 100,0 100,0 100,0 100,0 1. Nông nghiệp 184,8 238,2 6,0 172,3 Cơ cấu(%) 76,8 95,8 2,1 81,1 - Trồng trọt 21,0 3,9 2,5 51,6 Cơ cấu(%) 8,7 1,6 0,9 24,3 - Chăn nuôi 163,8 234,3 3,5 120,7 Cơ cấu(%) 68,1 94,2 1,2 56,8 2. Lâm nghiệp 5,0 2,1 - 10,8 Cơ cấu(%) 2,1 0,8 - 5,1 3. Thủy sản 45,7 3,5 274,7 24,5 Cơ cấu(%) 19,0 1,4 96,3 11,5 4. Phi NLNTS 5,0 5,1 4,7 5,1 Cơ cấu(%) 2,1 2,0 1,6 2,3 (Nguồn: Số liệu điều tra năm 2009) Qua phân tích tổng giá trị sản xuất của trang trại ta thấy hiện nay các trang trại ở Quảng Điền đang có thế mạnh về chăn nuôi, giá trị của loại hình này đóng góp vào trong tổng giá trị trị sản xuất của trang trại là rất lớn, đây chính là điểm ĐA ̣I H ỌC KI NH TÊ ́ HU Ế 60 mạnh cần chú ý trong qui hoạch và phát triển trang trại ở Quảng Điền, tuy nhiên cũng qua phân tích giá trị sản xuất của các trang trại ta cũng thấy được các trang trại ở đây là thuần nông, ngoài việc sản xuất nông nghiệp, trang trại ít tham gia vào các hoạt phi nông nghiệp, đây cũng chính là điểm cần quan tâm khi phát triển trang trại, do đó cần phải phát triển hoài hòa giữa các hoạt động kinh doanh. b. Thu nhập hỗn hợp Đánh giá kết quả sản xuất của các trang trại dựa vào chỉ tiêu tổng giá trị sản xuất cho ta thấy được qui mô của trang trại, còn dựa vào chỉ tiêu thu nhập hỗn hợp của trang trại cho ta đánh giá được kết quả cuối cùng của một quá trình sản xuất. Xét bảng 2.15 ta thấy: Bảng 2.15: Thu nhập hỗn hợp và cơ cấu thu nhập hỗn hợp của các trang trại ĐVT: Triệu đồng Chỉ tiêu Tổng số Phân theo loại hình TT Chăn nuôi Nuôi trồng thủy sản SXKD tổng hợp Thu nhập hỗn hợp 66,5 68,6 36,2 74,0 Cơ cấu chung(%) 100,0 100,0 100,0 100,0 1. Nông nghiệp 50,3 60,8 1,9 52,2 Cơ cấu(%) 75,6 88,6 5,3 70,7 - Trồng trọt 6,7 1,2 0,8 16,5 Cơ cấu(%) 10,1 1,8 2,2 22,3 - Chăn nuôi 43,6 59,6 1,1 35,7 Cơ cấu(%) 65,5 86,8 3,1 48,4 2. Lâm nghiệp 3,7 1,5 - 8,1 Cơ cấu(%) 5,6 2,2 - 10,9 3. Thủy sản 7,5 1,2 29,6 8,6 Cơ cấu(%) 11,3 1,8 81,8 11,6 4. Phi NLNTS 5,0 5,1 4,7 5,1 Cơ cấu(%) 7,5 7,4 12,9 6,8 (Nguồn: Số liệu điều tra năm 2009) ĐA ̣I H ỌC KI NH TÊ ́ HU Ế 61 Bình quân mỗi trang trại cho thu nhập hỗn hợp là 66,5 triệu đồng, ngành nông nghiệp đem lại thu nhập hỗn hợp cao 50,3 triệu đồng chiếm 75,6% cơ cấu thu nhập, trong đó ngành chăn nuôi đem lại thu nhập hỗn hợp cao nhất 43,5 triệu đồng chiếm 65,5% tổng cơ cấu thu nhập, ngành phi NLNTS thấp nhất bình quân chỉ 5 triệu đồng chiếm 7,5% cơ cấu thu nhập. Xét từng loại hình, ta có thu nhập hỗn hợp của loại hình trang trại nuôi trồng thủy sản cho thu nhập hỗn hợp thấp nhất mặc dù tổng giá trị sản xuất đem lại bình quân mỗi trang trại là cao, qua đây ta cũng thấy được chi phí sản xuất trong loại hình này chiếm tỷ lệ cao, trong cơ cấu thu nhập của loại hình này thì thủy sản chiếm lớn 81,8% tương đương 29,6 triệu đồng, từ trồng trọt là thấp nhất 0,8 triệu đồng chiếm 2,2%. Trái ngược với trang trại nuôi trồng thủy sản ta thấy trang trại SXKD tổng hợp mặc dù có tổng giá trị sản xuất thấp nhưng thu nhập hỗn hợp bình quân mỗi trang trại lên đến 74 triệu đồng, do đặc điểm sản xuất nhiều loại sản phẩm nên trong quá trình sản xuất loại hình trang trại này đã tiết kiệm được chi phí sản xuất nên kết quả đem lại cao, trong cơ cấu các ngành thì chăn nuôi đem lại 48,4% trong tổng cơ cấu thu nhập, tương đương 35,8 triệu đồng và ngành phi NLNTS chỉ có 5,1 triệu đồng chiếm tỷ lệ 6,8% là rất thấp. Đối với loại hình chăn nuôi, bình quân mỗi trang trại cho thu nhập hỗn hợp 68,6 triệu đồng, do là hình trong chăn nuôi nên cơ cấu của ngành chăn nuôi chiếm lên đến 86,8%, thấp nhất trong cơ cấu thu nhập là ngành trồng trọt chỉ có 1,8% tương dương 1,2 triệu đồng. Xét về thu nhập tạo ra từ các ngành, đối với ngành trồng trọt thu nhập hỗn hợp bình quân của trang trại SXKD tổng hợp là cao nhất 16,5 triệu đồng, còn lại loại hình còn lại thì rất thấp. Đối với ngành chăn nuôi thì thu nhập hỗn hợp của các trang trại chăn nuôi là cao, bình quân 59,6 triệu đồng. Đối với ngành thủy sản thì c

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfphat_trien_kinh_te_trang_trai_o_huyen_quang_dien_tinh_thua_thien_hue_631_1912323.pdf
Tài liệu liên quan