Luận văn Tiềm năng và hiện trạng phát triển Du lịch sinh thái ở Vườn quốc gia U Minh Thượng – Tỉnh Kiên Giang

MỤC LỤC

Trang phụ bìa

Lời cảm ơn

Mục lục

Danh mục các bảng

Danh mục các biểu đồ

Danh mục các hình

Danh mục viết tắt

MỞ ĐẦU .1

Chương 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ DU LỊCH SINH THÁI.8

1.1. Cơ sở lý luận về Du lịch sinh thái .8

1.1.1. Khái niệm du lịch sinh thái.8

1.1.2. Các đặc trưng của du lịch sinh thái.16

1.1.3. Các nguyên tắc của du lịch sinh thái .18

1.1.4. Những yêu cầu của du lịch sinh thái.18

1.1.5. Du lịch sinh thái trong các vườn quốc gia.24

1.2. Cơ sở thực tiễn về Du lịch sinh thái .31

1.2.1. Một số kinh nghiệm phát triển du lịch sinh thái trong các vườn quốc gia

trên thế giới.31

1.2.2. Du lịch sinh thái trong các vườn quốc gia của Việt Nam.37

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1.40

Chương 2. TIỀM NĂNG VÀ HIỆN TRẠNG PHÁT TRIỂN DLST VƯỜN

QUỐC GIA U MINH THƯỢNG TỈNH KIÊN GIANG.41

2.1. Giới thiệu về VQG U Minh Thượng .41

2.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển VQG U Minh Thượng .41

2.1.2. Mục tiêu thành lập VQG U Minh Thượng .42

2.1.3. Cơ cấu tổ chức và bộ máy quản lý VQG U Minh Thượng .42

2.1.4. Các khu chức năng.43

2.2. Tiềm năng phát triển DLST.44

2.2.1. Vị trí địa lý và phạm vi lãnh thổ.44

2.2.2. Tài nguyên du lịch tự nhiên .44

2.2.3. Tài nguyên du lịch nhân văn.57

2.2.4. Cơ sở hạ tầng .63

pdf117 trang | Chia sẻ: mimhthuy20 | Ngày: 19/09/2020 | Lượt xem: 109 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Luận văn Tiềm năng và hiện trạng phát triển Du lịch sinh thái ở Vườn quốc gia U Minh Thượng – Tỉnh Kiên Giang, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
U Minh Thượng Nguån: Ban qu¶n lý VQG U Minh Thượng 2.1.4. Các khu chức năng Ngày 14/01/2002, quyết định số 11/2002/QĐ-TTg của Thủ Tướng Chính phủ về chuyển hạng khu BTTN U Minh Thượng thành VQG. Theo quyết định này,có các phân khu chức năng như sau: Bảng 2.1: Các phân khu chức năng tại VQG U Minh Thượng Phân khu chức năng Diện tích Phân khu bảo vệ nghiêm ngặt 7838 ha Phân khu phục hồi sinh thái 200ha Phân khu hành chính và dịch vụ 15 ha Tổng diện tích 8053ha (Theo quyết định số 11/2002/QĐ-TTg) Bộ Nông Nghiệp và PTNT VQG U Minh Thượng Phòng quản lý bảo vệ tài nguyên rừng Phòng Nghiên cứu Khoa học và Môi trường UBND Tỉnh Kiên Giang Phòng du lịch sinh thái và giáo dục môi trường Phòng tổ chức hành chính Ban Giám Đốc Phòng kế hoạch tài chính 44 2.2. Tiềm năng phát triển DLST 2.2.1. Vị trí địa lý và phạm vi lãnh thổ VQG U Minh Thượng nằm trên địa bàn xã An Minh Bắc và xã Minh Thuận, huyện U Minh Thượng, tỉnh Kiên Giang có toạ độ địa lí là: Từ 9°31 đến 9°39' vĩ Bắc và từ 105°03' đến 105°07' kinh độ Đông. Phạm vi ranh giới: - Phía Đông giáp huyện Vĩnh Thuận. - Phía Tây giáp huyện An Biên, An Minh. - Phía Bắc giáp huyện Gò Quao. - Phía Nam giáp huyện Thới Bình của tỉnh Cà Mau. Rừng nằm trong địa giới của huyện U Minh Thượng tỉnh Kiên Giang, thuộc vùng bán đảo Cà Mau. Với tổng diện tích là 8053ha, ở phía Bắc một vùng đầm lầy than bùn rộng lớn thuộc 2 tỉnh Kiên Giang và Cà Mau. VQG U Minh Thượng nằm trong vùng ngập nước ngọt bao gồm trên vùng đất than bùn, trảng cỏ ngập nước theo mùa và vùng đầm lầy trống. Đến U Minh Thượng, du khách sẽ được tận hưởng không khí trong lành cùng với không gian khoáng đãng, tha hồ nhìn ngắm chim muông, thú rừng, và các loài động thực vật. Nhiều địa chỉ để các bạn tham quan như mảng chim, mảng dơi quạ, tràm nguyên sinh, quần thể heo rừng, rái cá, kỳ đà, và đặc biệt là khu giải trí câu cá Hồ Hoa Mai... 2.2.2. Tài nguyên du lịch tự nhiên 2.2.2.1. Tài nguyên sinh vật Lớp phủ thực vật Mặc dù rừng tràm chiếm ưu thế trong phần lớn khu vực đầm lầy than bùn, nhưng hệ thực vật trong VQG U Minh Thượng cũng khá đa dạng. Dựa vào mật độ che phủ và thời gian sinh trưởng của tràm, sự chen lẫn của các loài thực vật với nhau và các quần xã thực vật khác, có nhiều đơn vị lớp phủ được ghi nhận trong khu vực VQG U Minh Thượng. Dưới đây là một số kiểu lớp phủ thực vật chính trong VQG U Minh Thượng: 45 Bảng 2.2: Diện tích các kiểu lớp phủ thực vật VQG U Minh Thượng STT Kiểu lớp phủ Diện tích (ha) 1 Rừng tràm 3446,43 2 Rừng tràm chen lấn cây bụi và thực vật thủy sinh 2851,39 3 Thực vật thủy sinh 1404,63 4 Mặt nước và thực vật thủy sinh 213,10 5 Sậy và cây tạp 137,45 Tổng 8053,00 (Lớp thực vật của tỉnh Kiên Giang. Nxb Kiên Giang, Tr 68-129) Rừng Tràm: Hiện trạng cho thấy rừng tràm với độ che phủ từ 20-80% chiếm ưu thế trong toàn bộ khu vực VQG U Minh Thượng. Với diện tích 3446,43 ha trong đó với 1595,04 ha trồng rừng tràm với mật độ từ thưa đến dày. Mặc dù phần lớn tràm bị chết do trận cháy năm 2002, nhưng vẫn còn lại một lượng lớn tràm được xem là rừng tràm bán tự nhiên còn lại trên đầm lầy than bùn. Theo kết quả phân chia trong đơn vị rừng tràm, có 5 đơn vị lớp phủ rừng tràm trong khu vực VQG: 1, tràm trưởng thành mật độ dày ; 2, tràm trưởng thành mật độ trung bình ; 3, tràm trưởng thành mật độ thưa ; 4, tràm nhỏ mật độ dày ; 5, tràm vừa mật độ trung bình. Trong đó tràm trưởng thành mật độ dày là dãy rừng tràm còn sót lại sau trận cháy năm 2002, với diện tích khoảng 370,75 ha. Hầu hết tràm có mật độ trung bình với độ che phủ trên 70% và có độ tuổi trên 17 năm. Một dãy tràm nằm cạnh kênh Ngang là chỗ cho cộng đồng Dơi làm nơi trú ngụ. Đối với tràm trưởng thành mật độ trung bình thì đây cũng là dãy tràm còn lại sau trận cháy năm 2002, với diện tích khoảng 182,30 ha. Tràm có độ tuổi trên 14 năm và độ che phủ trung bình từ 40-60%. Phần lớn dãy rừng tràm này nằm cạnh dãy rừng tràm trưởng thành có mật độ dày. Giữa những cụm tràm có sự sống của những nhóm thực vật khác như sậy, bèo tai chuột, bèo cáinhưng mật độ không nhiều. 46 Tràm trưởng thành mật độ thưa đây là những dãy tràm có chiều ngang khá nhỏ phần lớn tràm đều lớn tuổi phân bố không đều theo các kênh rạch nhỏ bên trong VQG. Chiếm diện tích khoảng 358,05 ha, các cụm tràm này qua quan sát cho thấy đều có độ tuổi trên 14 năm. Tràm nhỏ mật độ dày, đây là cánh rừng tràm có độ tuổi từ 9-10 năm, có độ che phủ trên 70% ở khu trung tâm của VQG, với diện tích khoảng 243,89 ha. Tràm phát triển trên khu vực tầng than bùn có độ dày lớn nhất (>1m), nên có địa hình cao nhất khu vực VQG U Minh Thượng. phía ngoài là những cánh tràm thưa chen lẫn cây bụi hoặc cây thủy sinh. Tràm tuổi trung bình mật độ trung bình bao bọc xung quanh rừng tràm có mật độ dày hoặc hoặc một số cụm tràm nằm rải rác trên các con rạch nhỏ trong khu vực VQG U Minh Thượng. Là cánh rừng tràm tái sinh trung bình có độ che phủ từ 40-60%. Diện tích của cánh rừng này chiếm khoảng 200,33 ha. Do mật độ tràm trung bình nên chen giữa thường có những cây bụi như sậy, bèo cái Rừng tràm chen lấn cây bụi và thực vật thủy sinh Trong khu vực VQG U Minh Thượng có một diện tích khá lớn khoảng 2851,39 ha rừng tràm phát triển chen lấn cây bụi và thực vật thủy sinh. Chính sự hiện diện của các loài thực vật khác đã làm tăng sự đa dạng sinh học thực vật trong khu vực đất than bùn U Minh Thượng. Dựa vào mật độ tràm và mật độ các thực vật khác chen lấn có thể chia làm 7 đơn vị phụ được ghi nhận: 1, tràm nhỏ, mật độ dày xen sậy ; 2,tràm lớn xen sậy và bèo cái ; 3,tràm nhỏ mật độ trung bình xen sậy ; 4,tràm nhỏ thưa xen với bèo cái ; 5,tràm trung bình mật độ thưa xen với choại ; 6, tràm trung bình mật độ thưa xen với bồn bồn ; 7,tràm thưa xen sậy ; 8,tràm nhỏ, mật độ thưa xen sậy. Thực vật thủy sinh Trong điều kiện ngập nước quanh năm ngoài tràm cộng đồng thực vật thủy sinh với nhiều loài phát triển trong khu vực VQG U Minh Thượng. Phổ biến nhất là bèo cái, bèo tai chuột, bồn bồn, rong đuôi chồn, súng ma, thủy nữ ấn 47 Dựa vào tính đồng nhất và ưu thế của một số loài thực vật khác nhau trong quần xã, một số lớp phủ của quần xã thực vật thủy sinh được phân chia trong khu vực VQG U Minh Thượng. Trong đó quần xã bèo cái xen lẫn thủy sinh khác lên đến 1404,63ha. Bèo cái phát triển khá nhiều trong khu vực VQG U Minh Thượng hiện diện từ các kênh rạch đến các cánh rừng, những vùng ngập nước. Theo những khu vực kênh, rạch bèo cái làm trở ngại việc đi lại, di chuyển tàu ghe. Mặt nước và thực vật thủy sinh Do địa hình thấp và bị ngập nước nhiều năm nên một khu vực có diện tích khá lớn khoảng 213,1 ha. Được đánh giá là vùng mặt nước với một ít loài thực vật thủy sinh đang sinh sống. Quần xã thực vật thủy sinh chủ yếu đang sinh sống được ghi nhận ở khu vực này chủ yếu là bồn bồn, súng ma, bèo cái, rong đuôi chồn. Vài nơi trong khu ngập nước cao có súng ma phát triển, loài Năng Ống vẫn thấy xuất hiện từng đốm nhỏ. Những nơi như vậy là dấu vết của một khu đồng cỏ ngập nước theo mùa trước đây bi ngập từ năm 2003 đến nay. Tràm cũng xuất hiện với từng cụm nhỏ phân bố rải rác với mật độ khoảng 1-2% diện tích vùng mặt nước. Sậy và cây tạp Một quần xã thực vật gồm sậy và những cây tạp phân bố dọc 2 bên bờ kênh bên trong và kênh rãnh của VQG. Với diện tích khoảng 137,45 ha. Ngoài cây sậy còn nhiều loài thực vật từ than gỗ đến cây bụi, thân leo. Nhóm cây gỗ chiếm ưu thế là tràm, có nơi có Trâm Bầu, Gáo Vàng, Khuynh Điệp được trồng xen lẫn vào những dãy Sậy. Sậy chiếm ưu thế trong loài thân thảo, trên bờ nếu có trảng trống thì thường gặp cỏ ống, những thực vật ký sinh có thể gặp như Choại, Giây Giác, Bòng bongđeo bám những thân cây gỗ ngay cả những thân cây sậy. Hệ thực Vật Trần Triết đã nghiên cứu về thảm và hệ thực vật dựa vào ảnh vệ tinh landsat chup tháng 11/1998, kết hợp với khảo sát thực địa tác giả đã xác định được 243 loài thuộc 84 họ và khẳng định về sự phong phú của các thành phần loài thuộc họ: Họ 48 Hòa thảo 42 loài, họ cói 28 loài, họ Cúc 12 loài, họ đậu 12 loài, họ cafe 7 loài. U Minh Thượng có khu hệ thực vật đa dạng và phong phú bao gồm nhiều loại hiếm và đặc hữu. Năm 2000 Trần Triết đã ghi nhận 226 loài thực vật bậc cao có mạch. Trong số đó có loại bèo tấm nhọn là loại hiếm trong khu vực Đông Nam Á, nhưng trong khu vực VQG UMT thì lại rất phổ biến. Năm 2003 Viện sinh thái và tài nguyên sinh vật đã kế thừa những thông tin này và bổ sung nâng số lượng thực vật lên 299 loài, 102 họ. Đợt khảo sát tháng 8/2009 đã bổ sung thêm nâng tổng số loài đã ghi nhận trên toàn khu vực 387 loài thuộc 108 họ, gồm 13 loài đặc hữu và 5 loài quý hiếm. Đây là khu vực đồng bằng, dải đất ven biển nên độ phong phú cao thuộc những họ thích hợp với hệ sinh thái đồng bằng, đất chua phèn, than bùn, chịu ngập nước như: họ cúc, họ cỏ, họ cói. Nhiều loại rừng ngập mặn như: họ Đước, họ cỏ roi ngựa, chi Mắm. Trong khu vực chỉ có duy nhất 1 loài được ghi trong SĐVN, 2007, bậc VU sẽ nguy cấp: Côm Cánh Ướt, họ côm, cây phân bố hẹp vùng Đồng Tháp Mười, chịu ngập úng về mùa mưa. Khu hệ động vật Những kết quả khảo sát bước đầu đã thống kê được cho thấy hệ động vật ở VQG U Minh Thượng được đánh giá là có tính đa dạng sinh học cao nhất khu vực Đồng Bằng Sông Cửu Long thể hiện như sau: Nhóm Thú: Qua kết quả nghiên cứu đã ghi nhận được ở VQG U Minh thượng có 32 loài thuộc 13 họ, 7 bộ, 12 loài nằm trong Sách Đỏ Việt Nam và IUCN. Trong đó có 10 loài thú ăn thịt thuộc 4 họ, 4 loài trong số đó được xếp trong sách đỏ Việt nam 2007, 7 loài có trong nghị định 32/2006/ND/CP của chính phủ. Một số loài rất hiếm trong cả nước cũng có ở đây như: Rái cá lông mũi, rái cá vuốt bé, mèo cá, cầy going đốm lớn 49 Bảng 2.3: Danh sách các loài thú ăn thịt ở VQG U Minh Thượng STT Tên Bộ ăn thịt thuộc họ Độ quý hiếm SĐ 2007 NĐ 32 1 Rái cá vuốt bé Họ Chồn VU IB 2 Rái cá lông mũi Họ Chồn EN IB 3 Cầy vòi hương Họ Cầy 4 Cầy Giông đốm lớn Họ Cầy VU IIB 5 Cầy giông Họ Cầy 6 Cầy hương Họ Cầy 7 Cầy móc cua Họ Cầy lỏn 8 Cầy lỏn Họ Cầy lỏn 9 Mèo rừng Họ mèo IB 10 Mèo cá Họ mèo EN IB (Theo tạp chí khoa học ĐHQGHN, khoa học tự nhiên và công nghệ 25 (2009) Trg 40-44) Độ quý hiếm: SĐ 2007, sách đỏ Việt Nam 2007 VU: Sẽ nguy cấp EN: Nguy cấp NDD32: danh sách động thực vật rừng quý hiếm ban hành theo nghị định 32/2006/NĐ-CP ngày 30 thang 3 năm 2006 của chính phủ. IB: nghiêm cấm khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại IIB: hạn chế khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại Như vậy ở VQG U Minh Thượng có số thú ăn thịt chiếm 25,6% tổng số loài thú ăn thịt của Việt Nam (10/39), cao nhất trong các VQG và khu bảo tồn thiên nhiên thuộc khu vực Đồng Bằng Sông Cửu Long, nhưng ít hơn nhiều so với các vùng khác trong cả nước ( so với 22 loài ở vùng núi Tà Đùng thuộc Tây Nguyên, 27 loài ở VQG Phong Nha- Kẻ Bàng thuộc miền Trung, 22 loài thuộc khu bảo tồn thiên nhiên Hữu Liên). Tuy nhiên số lượng cá thể của 1 loài thú ở đây lại khá cao so 50 với các vùng khác, đặc biệt là một số loài quý hiếm như: rái cá vuốt bé, rái cá lông mũi, mèo cá, cầy giông đốm lớn. Sự phong phú và đa dạng của khu hệ thú tại VQG U Minh Thượng được chứng minh qua bảng dưới đây: Bảng 2.4: Tài nguyên thú rừng ở một số VQG trong cả nước TT Tên VQG Loài Họ Bộ % số loài toàn quốc 1 VQG UMT 32 13 7 14 2 VQG Ba Vì 43 21 8 19 3 VQG Cát Bà 20 10 5 9 4 VQG Bến En 53 21 10 23 5 VQG Bạch Mã 55 23 9 24 (Theo báo cáo hội thảo du lịch sinh thái bền vững tại Việt Nam) Nhóm chim Qua báo cáo đánh giá khu hệ chim VQG U Minh Thượng của Trần Văn Thắng (tháng 5 năm 2011). Tổng số có 152 loài chim thuộc 39 họ đã được ghi nhận quá trình điều tra. Kết hợp với kết quả giám sát khu hệ chim trước đây của Nguyễn Phúc Bảo Hòa và Trần văn Thắng (1999-2003), Buckton et al (1999), saford (1997), có thêm 20 loài chim. Tổng cộng thành phần loài chim ở VQG U Minh Thượng tính đến thời điểm này lên đến 172 loài thuộc 42 họ. Trong đó 152 loài chim được ghi nhận trong đợt khảo sát trên có 2 loài chim (Bói cá nhỏ Ceryle rudis và Cốc đế Phalacrocorax carbo) được ghi nhận bổ sung cho khu hê chim VQG U Minh Thượng. Hai loại chim Sả rừng và Diều mào do safford ghi nhận năm 1996-1997 cũng được ghi nhận trong đợt khảo sát này mà không được ghi nhận trong các đợt khảo sát và giám sát khu hệ chim trước đây. Trong 172 loài chim ghi nhận tại VQG U Minh Thượng, 19 loài được xem là có giá trị quan trọng trong bảo tồn. Trong 19 loài này, 9 loài nằm trong danh sách đang hoặc sắp bị đe dọa tuyệt chủng trên toàn cầu do IUCN đề cử, trong đó 3 loài thuộc cấp đánh giá “sắp nguy cấp”, 7 loài đánh giá “ sắp bị đe dọa”. Sáu loài nằm trong sách đỏ Việt Nam(2007) đều với mức độ đe dọa bậc R. Bảy loài có số lượng cá thể trong quần thể vượt quá ngưỡng 1% so với quần thể của chúng trong vùng 51 Đông Nam Á và trên Thế Giới. Quần thể vùng Đông Nam Á và thế giới dựa trên con số ước tính của Wetlands international (2000). Bảng 2.5: Những loài chim quan trọng trong bảo tồn tại VQG UMT STT Tên Việt Nam Sách đỏ UICN 2000 Sách đỏ Việt Nam 2007 1 Choắt mỏ thẳng đuôi đen Near-threatened 2 Diều cá đầu xám Near-threatened 3 Đại bàng đen Vulnerable 4 Cổ rắn Near-threatened 5 Diệc lửa 6 Cò ngàng lớn 7 Cò ngàng nhỏ 8 Cò ruồi 9 Cò hương 10 Quắm đen 11 Cò quắm đầu đen Near-threatened 12 Bồ nông chân xám Vulnerable R 13 Cốc đen 14 Cốc đế R 15 Cò lạo Ấn độ Near-threatened R 16 Cò nhạn R 17 Hạc cổ trắng R 18 Già đẩy Java Vulnerable R 19 Rồng rộc vàng Near-threatened (Theo Báo cáo đánh giá khu hệ chim Vườn Quốc Gia U Minh Thượng) 52 Nhóm bò sát và lưỡng cư Bảng 2.6: So sánh bò sát giữa VQG U Minh Thượng với các VQG, khu bảo tồn thiên nhiên khác. Địa điểm Diện tích (ha) Bậc phân loại Số bộ Số họ Số loài Cát tiên 74.219 3 17 79 VQG UMT 21.107 2 11 31 A Lưới (TT Huế) 116.642 2 13 49 Lò xò- Xa mát 18.806 2 15 56 Nguồn: Tạp chí sinh học 24(2A),2000 Qua bảng ta thấy VQG U Minh Thượng có diện tích tương đối nhỏ so với các VQG, khu bảo tồn thiên nhiên khác. Tuy nhiên nhìn chung số loài bò sát ở đây tương đối phong phú về số loài, thể hiện là 31 loài thuộc 11 họ, 2 bộ. Ngoài 31 loài bò sát thì VQG U Minh Thượng có 7 loài lưỡng cư khác, tổng cổng là 38 loài. Trong đó 20 loài đang bị đe dọa diệt vong trong cả nước và trên thế giới. Các loài cần đặc biệt ưu tiên gồm: trăn gấm, rắn hổ chúa, rùa răng, rùa hộp lưng đen, rùa ba giờ và cua đinh. Nhóm thuỷ sinh Vườn quốc gia U Minh Thượng là khu rừng ngập nước có hệ động thực vật phong phú, là nơi giao lưu và chuyển tiếp giữa hai khu hệ sinh vật nước mặn và nước ngọt, chứa đầy đủ các yếu tố sinh thái mặn, lợ, ngọt khiến khu hệ sinh vật ở đây trở nên phức tạp. Tháng 3 năm 2002 xảy ra trận cháy rừng, khu hệ sinh vật biến đổi nhiều, sau một thời gian dài bơm nước mặn chống cháy và giữ ấm cho rừng đã chuyển toàn bộ hệ thống thủy vực nước ngọt của VQG U Minh Thượng sang hệ sinh thái lợ mặn (độ mặn 5-15%). Khu hệ thủy sinh vật biến đổi nhiều, theo xu thế bất định hình bởi sự pha trộn các khu hệ ngọt-lợ-mặn, nghiêng về mặn nhiều hơn. Song tài nguyên thủy sinh vật nói chung và khu hệ động vật nổi nói riêng luôn luôn biến đổi dưới tác 53 động của khí hậu, chế độ mưa nắng trong năm và tác động của con người, khả năng phục hồi của khu hệ sinh vật, trong đó có thuy sinh vật là một hiện hữu. Qua hai đợt khảo sát tháng 8 và tháng 11 năm 2004 ở VQG U Minh Thượng, đã xác định được 75 loài động vật nổi, thuộc 6 nhóm: Protozoa, Rotatoria, cladocera, Copepoda,Ostracoda và larvae. Trong đó nhóm có số lượng loài cao nhất là Rotatoria: 29 loaì chiếm 38,7%, tiếp đến là Cladocera với 21 loài chiếm tỷ lệ 28,0%. Các nhóm còn lại như Protozoa, Copepoda, Ostracoda và Larvae có số lượng loài ít hơn, chỉ dao động trong khoảng từ 2-10 loài, đạt tỷ lệ từ 2,7%-13,3%. Bảng 2.7 : Cấu trúc thành phần loài động vật nổi ở VQG U Minh Thượng TT Nhóm loài Năm 2002 Năm 2004 Số loài Tỷ lệ (%) Số loài Tỷ lệ (%) 1 Protozoa( Động vật nguyên sinh) 0 0 2 2.7 2 Rotatoria (Luân trùng) 5 14.3 29 38.7 3 Cladocera ( giáp xác râu ngành) 5 14.3 21 28.0 4 Copepoda (giáp xác chân chèo) 18 51.4 10 13.3 5 Ostracoda (giáp xác có vỏ) 0 0.0 4 5.3 6 Larvae ( Ấu trùng) 7 20.0 9 12.0 Tổng 35 100 75 100 (Theo Báo cáo đánh giá khu hệ động vật nổi Vườn Quốc Gia UMT) Nhóm côn trùng Trên cơ sở các Danh pháp dựa theo Bingham (1897) – Bộ Hymenoptera, Distant (1906) – Rhynchota, Pautian (1945) - Bộ Coleoptera, Akinobu (1967) – Bộ Coleoptera, Đặng Thị Đáp (1981) – Bộ Coleoptera, Liyongxi Zhou Zhihong et al. (1990), Shusiro Ito et al. (1993) và Lê Xuân Huệ (2000) - Hymenoptera. Kết quả định danh được như sau: Tổng cộng 172 loài thuộc 53 Họ, 12 Bộ. Bộ Coleoptera có số họ và loài nhiều nhất (57 loài thuộc 14 họ). Các Bộ lớn tiếp theo là Bộ Heteroptera (39 loài, 10 họ), Bộ Hymenoptera (24 loài, 8 họ), Bộ Diptera (21 loài, 4 họ), Bộ Orthoptera (11 54 loài, 4 họ), Bộ Mantoidea (6 loài, 2 họ), Bộ Homoptera (6 loài, 5 họ), và Bộ Odonata (5 loài, 2 họ). Ba Bộ Blattoidea, Neuroptera và Dermapter chỉ có 1 loài. Bộ Ephemeroptera có 2 mẫu vật thu được nhưng chưa định danh. Chỉ có sáu loài sinh vật thủy sinh được định danh, hai loài thuộc Họ Belostomatidae và Dytiscidae, và một loài trong mỗi họ Hydrophilidae và Gerridae. Bảng 2.8 : Các Bộ Côn Trùng ở VQG UMT cùng với số loài và họ tương ứng TT Bộ( tên khoa học và tên VN Số tiêu bản định danh Số họ định danh được Số loài định danh được 1 Orthoptera - Bộ Cánh Thẳng 103 4 11 2 Blattoidea - Bộ Gián 12 1 1 3 Mantoidea - Bộ Bọ Ngựa 15 2 6 4 Neuroptera - Bộ Cánh Gân 12 1 1 5 Homoptera - Bộ Cánh Giống 34 5 6 6 Heteroptera - Bộ Cánh Nửa 105 10 39 7 Coleoptera - Bộ Cánh Cứng 265 14 57 8 Hymenoptera - Bộ Cánh Màng 98 8 24 9 Diptera - Bộ Hai Cánh 72 4 21 10 Odonata - Bộ Chuồn Chuồn 35 2 5 11 Dermaptera - Bộ Cánh Da 3 1 1 12 Ephemeroptera - Bộ Phù Du 2 1 0 Tổng cộng 756 53 172 (Theo Báo cáo Dự án bảo tồn và phát triển khu dự trữ sinh quyển Kiên Giang) Hai loài côn trùng tại VQG U Minh Thượng được ghi nhận là bị đe dọa theo Sách đỏ Việt Nam (2000): Loài Mantis religiosa (Bọ ngựa) – Cấp V (Vulnerable_sắp nguy cấp), được tìm thấy ở các trảng cỏ gần trụ sở Ban Quản Lý và Chốt 4, độ phong phú thấp. Loài Lethocerus indicus (Cà cuống) – Cấp R (Rare_hiếm). Chỉ ghi nhận theo quan sát thấy của người dân địa phương. Cà cuống đặc trưng nơi tuyến hương của nó được sử dụng ưa chuộng trong các món ăn Việt Nam. Cà cuống bị đe dọa do các 55 ảnh hưởng tìm bắt quá mức; do thuốc trừ sâu và thuốc diệt cỏ; hoặc do cường độ ánh sáng đèn mạnh cũng làm hại cho loài côn trùng này. Nhóm cá Khu bảo thiên nhiên U Minh Thượng được thành lập năm 1992 tại tỉnh Kiên Giang, đây là khu hệ đất ngập nước được bao bọc bởi hệ thống đê bao và kênh đào. Nguồn lợi thủy sản ở đây có vai trò rất quan trọng so với các nguồn tài nguyên thiên nhiên khác, đó là nguồn cung cấp đạm và thu nhập cho cộng đồng dân cư trong khu vực. Kết quả nghiên cứu cho thấy có 66 loài cá trong đó 9 loài cá có giá trị kinh tế được khai thác trong khu bảo tồn thiên nhiên U Minh Thượng là Cá Lóc, Dầy, Sặc Rằn, Rô Đồng, Trê Vàng, Trê Trắng, Thát Lát, Sặc Bướm và Sặc Điệp. 2.2.2.2. Địa hình, địa mạo - Cấu trúc địa hình nơi đây khá phức tạp, nó phản ánh lịch sử địa chất phức tạp khu vực. Rừng úng phèn U Minh cũng như các khu rừng úng phèn ở ĐBSCL liên quan chặt chẽ với lịch sử thành tạo nên vùng đồng bằng rộng lớn này. Từ hoạt động địa chất tân kiến tạo vào cuối Đại Tân sinh tạo ra hai khối nâng Nam Trung Bộ và Đông Nam Bộ Việt Nam cùng với miền Đông Cam Pu Chia, khối sụt ở giữa với dòng chảy hạ Mê Kông (bao gồm các sông chính Mê Kông - Bassac và hệ thống phụ lưu), bồi lắp với các lớp trầm tích cách đây gần một triệu năm. Tiếp theo các chuyển động tân kiến tạo này là thời kỳ biển tiến vào thềm lục địa, sau đó biển lùi, để lại phần đất mới lộ ra trên những hố trũng như Đồng Tháp Mười, Tứ Giác Long Xuyên và sâu hơn cả là vùng U Minh. Khối lượng phù sa và vật chất trầm tích khổng lồ của lưu vực sông Mê Kông dồn tập trung và thành tạo nên ĐBSCL, đặc biệt do tác động cộng hưởng của dòng hải lưu ở nam biển Đông, phần lớn phù sa này được chuyển tải vòng xuống và hướng về phía tây nam, tạo nên phần đất được gọi là bán đảo Cà Mau (đã hình thành từ hơn mười ngàn năm nay). Lớp rừng thực sự là nguyên sinh ở U Minh đã bị sụt xuống và sau đó bị vùi lấp, dần dần lại xuất hiện lớp thực vật mới trên tầng trầm tích, cũng có thể gọi là lớp rừng nguyên sinh trên tầng đất thành tạo kế tiếp. Những cánh rừng bị vùi lấp trước 56 đó đã dần dần thành lớp than bùn hiếm khí oxy, nằm dưới tầng trầm tích và lớp rừng “hậu sinh”, chính là rừng úng phèn ngày nay. Từ quá trình kiến tạo của hoạt động địa chất vùng cửa sông ven biển cũ, nước biển mặn bị các hố sụt ngăn cách, tác động chuyển hóa các thành phần hóa lý của nước và đất, trở thành chua phèn. Một số loài cây thích nghi với điều kiện tự nhiên chua phèn đã hình thành rừng úng phèn. - Thổ nhưỡng VQG U Minh Thượng thuộc vùng đồng bằng sông Cửu Long. Độ cao của cả vùng chỉ một vài mét, với một địa hình bằng phẳng nhưng sình lầy, ngập nước. U Minh thượng ở phía bắc một vùng đầm lầy than bùn rộng lớn của 2 tỉnh Kiên Giang và Cà Mau. U Minh Thượng nằm trong vùng ngập nước ngọt, bao gồm rừng trên đất than bùn, trảng cỏ ngập nước theo mùa và vùng đầm lầy trống. Đất chiếm phần lớn diện tích UMT, kiểu đất này lộ ra trong không khí bị oxy hóa tạo nên axit sunfuric. Mặc dù là vùng đất phèn nhưng nước ở vùng lõi hầu hết là nước trung tính (PH 6-7) do có tỷ lệ che phủ rừng cao. Tuy nhiên ở vùng đệm, rừng bị phát quang trên diện rộng nên nước mang tính axit rất cao (PH 3-4). Tầng đất mặt bao bởi lớp than bùn dày 1-3m, những nơi mới bị đốt cháy, lớp than bùn bị cháy và tầng đất mặt mỏng hơn và thường hình thành dạng đầm lầy. ở những vùng bị phát quang để lấy đất canh tác nông nghiệp lớp than bùn bị oxy hóa và độ dày giảm. Vùng lõi của U Minh Thượng được bao quanh bởi hệ thống kênh rạch và đê với nhiều cửa cống để điều chỉnh mức nước. Nước được tháo ra trong mùa mưa và giữ lại vào các thời điểm khác nhau trong năm. Điều này làm giảm sự oxy hóa và giữ cho lớp than bùn không bị mỏng đi và giảm nguy cơ cháy rừng. Đất đai vùng U Minh Thượng tuy trũng, nhưng ít chịu tác động của triều cường từ biển và ảnh hưởng của lũ lụt từ sông Cửu Long. 2.2.2.3. Khí hậu, thủy văn VQG U Minh Thượng nằm trong vùng có lượng mưa hàng năm gần như lớn nhất đồng bằng sông Cửu Long (2200-2400mm). Mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 11, tháng nhiều nhất là tháng 8, mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau, tháng ít mưa 57 nhất là tháng 2. UMT không chịu ảnh hưởng trực tiếp cuả bão, nhưng lượng nước mưa do bão chiếm một tỷ trọng đáng kể, nhất là vào cuối mùa mưa. Song phân bố không đều theo năm, gây thiếu hụt cho cán cân cân bằng nước thẳng đứng. Đối với lớp than bùn ở vùng lõi, ngoài khả năng giữ nước kém còn bốc hơi nhanh vào mùa khô,gây ra sự thiếu hụt độ ẩm trong đất. U Minh Thượng là một trong những khí hậu tiêu biểu cho tỉnh Kiên Giang, khí hậu mang tính chất nhiệt đới gió mùa nóng ẩm. Mặt khác, khí hậu U Minh Thượng còn mang tính chất hải dương, hàng năm có 2 mùa khí hậu tương phản một cách rõ rệt (mùa khô tháng 12-tháng 4 và mùa mưa tháng 5 – tháng 11). U Minh Thượng có khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ khá cao và ổn định. Nhiệt độ trung bình hàng năm 270C biên độ nhiệt hàng năm là 30C, tháng có nhiệt độ trung bình cao nhất là tháng 4 (290C), tháng có nhiệt độ trung bình thấp nhất là tháng 1 (25,60C). Tổng lượng nhiệt hàng năm cao: 9.928 - 10.0740C. U Minh Thượng có độ dài của ngày lớn. Trong mùa khô, số giờ nắng trung bình mỗi ngày là 7-8 giờ/ngày. Vào mùa mưa, số giờ nắng trung bình 4-6 giờ/ngày. Số giờ nắng nhiều, nhiệt độ cao nên năng lượng bức xạ nhận được khá lớn, trung bình hàng năm là 130-150 kcal/cm2. Độ ẩm tương đối bình quân trong năm thường đạt 80-83%, sự chênh lệch độ ẩm giữa các tháng trong năm trên 10%. Thời kỳ ẩm nhất trong năm rơi vào tháng 7- 8 (mùa mưa), độ ẩm cao nhất 86%, thời kỳ độ ẩm thấp nhất rơi vào tháng 2-3 độ ẩm thấp nhất 76%. Ngoài ra, UMT chịu ảnh hưởng của chế độ gió mùa từ tháng 5 đến tháng 11 có hướng gió thịnh hành là hướng Tây-Nam, mang theo nhiều hơi nước và gây mưa, tốc độ gió trung bình 3-4,8m/s. Từ tháng 12 đến tháng 4 có gió Đông-Bắc, tốc độ gió trung bình 3m/giây. Ngoài chế độ gió theo mùa, Kiên Giang còn có gió thổi theo ngày và đêm, đó là gió đất và gió biển, tốc độ trung bình 2,5-3m/s. 2.2.3. Tài nguyên du lịch nhân văn 2.2.3.1. Dân số và lao động VQG U Minh Thượng nằm ở xã An Minh Bắc và xã Minh T

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdftvefile_2013_01_25_5899701231_7516_1869344.pdf
Tài liệu liên quan