Thực trạng nông nghiệp và bảo hiểm nông nghiệp ở Việt Nam

 

PHẦN I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ BẢO HIỂM NÔNG NGHIỆP 1

I. Sự cần thiết khách quan và vai trò của bảo hiểm nông nghiệp: 1

1. Đặc điểm và sự cần thiết của bảo hiểm: 1

2. Tác dụng bảo hiểm nông nghiệp: 3

II. Đặc điểm của bảo hiểm nông nghiệp 4

1. Bảo hiểm cây trồng: 4

2. Bảo hiểm chăn nuôi. 7

3. Giám định và bồi thường tổn thất. 8

PHẦN II: THỰC TRẠNG NÔNG NGHIỆP VÀ BẢO HIỂM NÔNG NGHIỆP Ở VIỆT NAM. 10

I. Tình hình nông nghiệp ở việt nam giai đoạn 1996 đến 2002. 10

II. Những thành tựu và tổn thất trong nông nghiệp 12

1.Những thành tựu nông nghiệp đạt được trong giai đoạn (1996-2000) 12

2.Tình hình phát triển mô hình phát triển trang trại ở vịêt nam. 15

3.Những tổn thất trong nông nghiệp. 16

III.Thực trạng bảo hiểm nông nghiệp ở nước ta. 17

1. Tình hình triển khai bảo hiểm nông nghiệp ở việt nam. 17

2. Những kết quả mà bảo hiểm nông nghiệp đạt được. 18

3. Những vấn đề tồn tại 19

IV. Sự cần thiết phải triển khai bảo hiểm nông nghiệp ở việt nam. 19

V.Những khó khăn của công ty bảo hiểm khi triển khai bảo hiểm nông nghiệp 20

PHẦN III: KIẾN NGHỊ VÀ GIẢI PHÁP. 22

1.Phải thiết lập mô hình bảo hiểm nông nghiệp sao cho phù hợp với điều kiện ở việt nam. 22

2.Một số định hướng cho việc hình thành nghiệp vụ bảo hiểm nông nghiệp vụ bảo hiểm thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn. 24

3.Một số chương trình bảo hiểm mới. 25

KẾT LUẬN 27

TÀI LIỆU THAM KHẢO 28

 

 

doc29 trang | Chia sẻ: huong.duong | Ngày: 15/08/2015 | Lượt xem: 1292 | Lượt tải: 1download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Thực trạng nông nghiệp và bảo hiểm nông nghiệp ở Việt Nam, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
năm có tổn thất : sản lượng tổn thất bình quân tính trên 1 đơn vị diện tích bảo hiểm : diện tích gieo trồng năm t : sản lượng thu hoạch thực tế năm t tính trên một đơn vị diện tích bảo hiểm. -bước 3: xác định tỷ lệ phí bồi thường bình quân + Nếu bảo hiểm theo sản lượng thu hoạch thực tế bình quân thì mức phí thuần tính trên 1 đơn vị bảo hiểm sẽ là; + Nếu bảo hiểm theo giá trị sản lượng thu hoạch thực tế bình quân tính trên 1đơn vị bảo hiểm thì mức phí thuần đươc tính: s 2. Bảo hiểm chăn nuôi. a. Đối tượng và phạm vi bảo hiểm. -Đối tượng bảo hiểm trong chăn nuôi là các sản phẩm chăn nuôi và các loại vật nuôi. Đối với vât nuôi là tài sản cố định thường bảo hiểm từng con, còn đối với vật nuôi thường bảo hiểm cả đàn.(Vật nuôi là tài lưu động là nhưng vật nuôi được nuôi dưỡng trong thời gian ngắn) -Thời hạn bảo hiểm thường là 1năm hoặc là toàn bộ chu kỳ sản xuất. Nếu là toàn bộ chu kỳ sản xuất thì nó sẽ được bắt đầu từ khi vật nuôi được chuyển thành tài sản cố định đến khi kết thúc chu kỳ sản xuất. -Phạm vi bảo hiểm : Trong chăn nuôi thường gặp rất nhiều rủi ro, có cả rủi ro khách quan có cả rủi ro chủ quan…..Tuy nhiên chỉ có những rủi ro thông thường sau đây mới được bảo hiểm. +Thiệt hại do thiên tai, lũ lụt gây ra +Bệnh dịch bao gồm cả bệnh truyền nhiễm và cả bệnh không truyền nhiễm. +Buộc phải giết mổ để đề phòng lây lan.Hoặc là khi vật bị đau ốm không thể tiếp tục nuôi dưỡng và sử dụng được. +Và một số rủi ro khác như: các động vật ăn thịt đánh cắn lẫn nhau, hoặc bị tai nạn giao thông, hoả hoạn. b.Giá trị bảo hiểm và chế độ bảo hiểm. -Đối với súc vât vỗ béo và lấy thịt , giá trị bảo hiểm thường là giá trị xuất chuồng bình quân một số năm trước đó nhằm loại trừ những yếu tố ngẫu nhiên ảnh hưởng. - trồng trọt và chăn nuôi đều áp dụng các chế độ bảo hiểm khác nhau nhằm nâng cao tinh thần trách nhiệm của người tham gia bảo hiểm, làm giảm phí và phù hợp với tình hình tổ chức và quản lý của công ty bảo hiểm. c. Phương pháp xác định phí bảo hiểm chăn nuôi. -Khi tiến hành bảo hiểm các sản phẩm chăn nuôi, thì công tác tính phí giống như xác định phí bảo hiểm cho cây trồng hàng năm. Tuy nhiên ở đây, chỉ giới hạn trong phạm vi xác định phí bảo hiểm theo đầu con gia súc,gia cầm. -Phí bảo hiểm theo đầu con đối với từng loại súc vật thường được tính theo công thức sau. :phí bồi thường thiệt hại :phí đề phòng hạn chế tổn thất :phí dự trữ dự phòng : phí quản lý và lãi dự kiến Trong đó cách tính phí bồi thường thiệt hại được xác định như sau: : số vật nuôi năm i :số vật nuôi bị chết bị thải loại năm i :gía trị bình quân 1 con vật nuôi bị thải loại, chết, thuộc phạm vi bảo hiểm : giá trị tận thu 1 con vật nuôi sau khi bị thải loại, chết thuộc phạm vi bảo hiểm. :trọng lượng bình quân 1 con vật nuôi trước khi bị chết, bị thải loại, tai nạn năm i thuộc phạm vi bảo hiểm. :giá bình quân 1 đơn vị sản phẩm vật nuôi trước khi bị thải loại, tai nạn, chết năm i 3. Giám định và bồi thường tổn thất. -Đây là công việc của công ty bảo hiểm. Ngay sau khi được thông báo về tình hình tổn thất của người tham gia bảo hiểm, công ty bảo hiểm phải cử nhân viên của mình hoặc người được uỷ quyền đi giám định tổn thất. Khi giám định phải kiểm tra kỹ hiện trường nơi xảy ra tổn thất. xác định nguyên nhân tổn thất có thuộc phạm vi bảo hiểm hay không. Nếu thuộc phạm vi bảo hiểm phải xác định mức độ tổn thất, giá trị tổn thất, giá trị tận thu và lập biên bản giám định với sự chứng kiến của các bên có liên quan. -Sau đó căn cứ vào biên bản giám định, công ty bảo hiểm phải trả lời cho người tham gia bảo hiểm là chấp thuận hay từ chối bồi thường trong thời gian quy định theo như hợp đồng đã k‏‎y. phần II: thực trạng nông nghiệp và bảo hiểm nông nghiệp ở việt nam. I. Tình hình nông nghiệp ở việt nam giai đoạn 1996 đến 2002. 1. Điều kiện tự nhiên ở việt nam thuận lợi cho nông nghiệp phát triển. Nước ta năm gọn trong vùng nội chí tuyến bắc, bán cầu B và B, đồng thời nằm trong vùng hoạt động của gió mùa Đông Nam á nước ta có khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa, với đặc điểm nổi bật là nóng ẩm và mưa nhiều theo mùa và có những đặc điểm sau. -Sự phân mùa của nhiệt đới ẩm gió mùa. -Lãnh thổ kéo dài theo hướng kinh tuyến đã chi phối đặc điểm khí hậu giữa hai miền nam bắc. -Một số yếu tố khác của khí hậu là do địa hình hướng núi, độ cao chi phối hệ quả của khí hậu gió mùa. Mặc dù nước ta có sự phân hoá nhưng xét chung thì khí hậu nước ta vẫn là nguồn bức xạ dồi dào thuộc vùng nhiệt đới. Với nhiệt độ trung bình cả năm hơn c. Mỗi năm ít nhất cũng có trên 1200 giờ nắng, cán cân bức xạ dương quanh năm. Tổng lượng nhiệt xê dịch từ 8000 đến trên c.Lượng mưa trung bình hàng năm 1700 đến 1800mm, có nơi vượt quá 3000mm. Lượng bốc hơi lên tới 700 đến 800mm. Với đặc điểm như vậy khí hậu nước ta tác động mạnh mẽ đến sự phát triển của nông nghiệp nhờ lượng nhiệt cao quanh năm với lượng mưa dôi dào tạo điều kiện kéo dài thời gian sinh trưởng của cây cối suốt 12 tháng, nâng cao năng suất của hệ sinh thái. a.trồng trọt. -Do đặc tính cấu trúc địa hình và địa chất đã tạo cho nước có tổng diện tích là đất phù đồng bằng còn là đất ferarit. -Nước ta có 33161000ha đất trong đó chỉ có 8500000 ha đất đồng bằng (1743000hađất đồng bằng bắc bộ, 850000ha đất đồng bằng bắc trung bộ, 650000ha đất đồng bằng duyên hải trung và nam bộ, 4000000ha đất đồng bằng sông cửu long, một bộ phận đất xám đáng kể ở đông nam bộ) tạo điều kiện cho lúa phát triển. -Ngoài đất phù sa mầu mỡ thuận lợi cho trồng lúa, thì đất ferarit nâu đỏ cũng chiếm diện tích khá lớn 2000000ha chủ yếu phân bố ở tây nguyên, đông nam bộ, bắc quảng trị… -Đất ferarit là đất có độ xốp cao dữ nước mạnh có kết cấu tốt phù hợp để trồng các loại cây công nghiệp nhiệt đới quy như cao su, chè, cafê, hồ tiêu… b.Chăn nuôi -Do trồng trọt ở nước ta phát triển suốt 12 tháng tạo diều kiện thuận lợi cho việc cung cấp thức ăn trong chăn nuôi giúp cho nghành chăn nuôi phát triển. -Mặt khác diều kiện khí hậu nước ta cũng tạo điều kiện cho vật nuôi sinh trưởng và phát triển, nhưng nó cũng tạo điều kiện cho các loại vi khuẩn phát triển gây ra nhiều dịch bệnh cho vật nuôi. c.Thuỷ sản -Khi nói đến thuận lợi của điều kiện tự nhiên dành cho thuỷ sản chúng ta phải nói đến nguồn tài nguyên nước. -Hệ thống sông ngòi nước ta ,chảy trên nhiều miền tự nhiên tạo nên các hệ sinh thái khác nhau, đồng thời tạo nên môi trương sống thích hợp cho nhiều loại thuỷ sản trên những lưu vực sông khác nhau. ví dụ: trên lưu vực sông cửu long ,sông hồng do nhiệt độ nước ít chênh lệch trong năm, và lượng phù du sinh sống phong phú là nguồn thức ăn cho các loại tôm, cá tạo ra một sản lượng lớn cá tôm có thể đánh bắt và nuôi trồng d.lâm nghiệp -Do vị trí trung tâm khu vực hoạt động của gió mùa Đông Nam á với chế độ gió mùa lục địa và đại dương đã đưa đến lượng mưa lớn,độ ẩm cao tạo nên những thảm thực vật rất đa dạng từ rừng lá kim ôn đới đến rừng lá kim á niệt đới, rừng hỗn giao lá kim-lá rộng, rừng kín lá rộng nhiệt đới rừng thưa lá rộng nhiệt đới, rừng xích đạo, rừng ngập mặn,rừng ẩm… 2.Tầm quan trọng của nông nghiệp đối với kinh tế nước ta Nông nghiệp là nghành sản xuất vật chất cung cấp lương thực, thực phẩm và nguyên liệu cho nghành công nghiệp nhẹ cho nền kinh tế,ngoài ra đây còn là nguồn suất khẩu mạnh mẽ. Hàng năm mức đóng góp của nông nghiệp vào GDP ngày một giảm song vẫn cao hơn so với các nước trên thế giới . Đóng góp của nông nghiệp vào GDP đơn vị: % Năm chỉ tiêu 1996 1997 1998 1999 2000 Nông nghiệp 27,8 25,77 25,98 25,4 24,3 II. Những thành tựu và tổn thất trong nông nghiệp 1.Những thành tựu nông nghiệp đạt được trong giai đoạn (1996-2000) -sau 10 năm đổi mới (1986-1995) nông nghiêp và nông thôn việt nam đã đạt được nhiều thành tựu nổi bật và tiếp tục phát triển toàn diện theo hướng sản xuất hàng hoá trong kế hoạch 5 năm (1996-2000). Đó là những thành tựu. a.Sản xuất lương thực phát triển toàn diện Tăng ttương nhanh và vượt xa mục tiêu, lương thực bình quân đầu người qua các năm. Lương thực bình quân đầu người. đơn vị:kg Năm 1996 1997 1998 1999 2000 LTbq/ người 375 398 408 444 455 +Lương thực hàng hoá tăng nhanh từ 8(tr) tấn năm 1996 đến 13(tr) tấn năm 2000 đảm bảo thoả mãn mọi nhu cầu tiêu dùng của dân cư, với mức độ tăng dân số trên 1,3tr người /1năm, bổ sung thức ăn cho phát triển chăn nuôi và đáp ứng đầy đủ nguyên liệu cho công nghiệp chế biến với số lượng ngày càng tăng sản phẩm ngày càng đa dạng. +Không chỉ thoả mãn nhu cầu tiêu dùng, mà lương thực sản xuất còn dư thừa để xuất khẩu với số lượng ngày càng tăng. Lương thực xuất khẩu đơn vị :triệu tấn Năm 1995 1996 1997 1998 1999 2000 Lxk 1,98 3,0 3.6 3.7 4.6 3.6 Lxk:lượng gạo xuất khẩu Trong vòng 5 năm lượng gạo xuất khẩu của ta lên tới 20,5tr tấn đứng vị trí thứ 2 trên thế giới. -Đa dạng hoá cây trồng, xoá dần thế độc canh. +Năm 1996 diện tích gieo trồng cây lương thực chiếm 75,2% tổng diện tích gieo trồng và 87,2% diện tích gieo trồng cây hàng năm đến năm 2000 hai tỉ lệ tương ứng là 72,2%, 84,4% thay vào đó tỷ trọng diện tích cây lâu nâm tăng từ 11,6% lên 15,3% sự phát triển của các cây lâu năm như cây cafê, chè, cao su ở tây nguyên, đông nam bộ và miền núi phía bắc, điều này làm tăng hiệu quả trong nông nghiệp. +Diện tích gieo trồng cây công nghiệp hàng năm tăng lên ở từng vùng. Diện tích gieo trồng. Đơnvị:000ha Loại cây Năm1996 Năm 2000 đbsh đbscl đbsh đbscl Cây cn hàng năm 160 128 67 136 Cây ăn quả 37,5 177 48 200 +Ngoài ra cây trồng có sản phẩm xuất khẩu, như cafê, cao su, hồ tiêu… Tăng nhanh năm 2000 so với năm 1996, sản lượng cafê tăng 2,1 lần, sản lượng cao su tăng 50%. Xuất khẩu cafê, cao su việt nam(1996-2000) Đơn vị:1000 tấn Loại cây 1996 1997 1998 1999 2000 Cafê 283,7 391,6 382 482 698,0 Cao su 199,5 194,2 191 265 280 Tính đến năm 2000 việt nam là nước có sản lượng cafê xuất khẩu đứng thứ hai trên thế giới sau Brazin, còn cao su xuất khẩu sang thị trường 30 nước và vùng lãnh thổ có gía trị ngoại tệ nhiều thứ 3 sau gạo và cafê. +Cây công nghiệp ngắn ngày, ngày càng phát triển ổn định với xu hướng tăng dần năm sau cao hơn năm trước. Năm 2000 so với năm1996 diện tích tăng 198 nghìnha (25,8%). +Cây ăn quả là một thế mạnh của nước ta, đặc biệt là vùng ĐBSCL,ĐNB, Miền núi trung du phía bắc, thế mạnh này phát huy là nhờ tác động của cơ chế và các chính sách như kinh tế trang trại, tín dụng nông thôn, đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, cơ sở chế biến. Diện tích cây ăn quả tăng nhanh từ 375000ha năm 1996 lên 496000ha năm 1999 và 541000ha năm 2000, đã dẫn đến hình thành các vùng cây ăn quả với quy mô lớn mang tính sản xuất hàng hoá như ĐBSCL 205000ha, ĐNB 88000ha, BB 96,6 nghìnha. b.Chăn nuôi phát triển nhanh. Tính đến năm 2000 đàn lợn đạt 19,52 triệu con, đàn bò sữa đạt, cung với lợn, bò sữa nhiều ngành chăn nuôi mới tiếp tục phát triển theo hướng sản xuất hàng hoá như nuôi cừu, nuôi ong, nuôi gà công nghiệp, vịt siêu trứng…Đặc biết chăn nuôi theo mô hình trang trại phát triển mạnh, năm 2000 cả nước có 1634 trang trại chăn nuôi. c. Thuỷ sản Cùng với sự phát triển trong trồng trọt và chăn nuôi thì các hoạt động nuôi trồng và đánh bắt thuỷ sản 5 năm từ 1996-2000 có nhiều tiến bộ. Sản lượng nuôi trồng thuỷ sản tăng từ 389000tấn năm1996 lên 480000tấn năm 1999 và trên 589000tấn năm 2000. Cơ cấu mặt hàng và cơ sở chế biến thuỷ sản cũng được đa dạng hoá gắn với yêu cầu của cây trồng trong nước và xuất khẩu. Với chương trình đánh bắt cá trong 4năm (từ 1997-2000) nhà nước đã đầu 1300 tỷ đồng vốn tín dụng ưu đãi cho người dân vay, đóng mới sữa chữa 1000 tàu làm tăng 265 nghìn công việc góp phần làm tăng 54000 tấn sản lượng hải sản trong đó dã xuất khẩu đạt giá trị 15,26tr USD trong năm 1999, giá trị thuỷ sản trong năm 2000 đạt 1,47tỷ USD tăng gấp 2lần năm 1995, tăng gấp 5lần năm 1990 và 11 lần năm 1986 đây là thành tựu to lớn nổi bật của nghành thuỷ sản trong thời kỳ đổi mới Tóm lại nông nghiệp đã đạt được những thành tựu to lớn, sự chuyển biến trong mô hình sản xuất nông nghiệp cũng là vấn đề mà ta cần phải quan tâm. Hiện nay xu hướng sản xuất nông nghiệp theo mô hình trang trại đang được mở rộng . Theo em đây là thành phần Bảo Hiểm Nông Nghiệp các công ty bảo hiểm nên quan tâm. 2.Tình hình phát triển mô hình phát triển trang trại ở vịêt nam. Tính đến ngày 1/10/2001 cả nước ta có 60758 trang trại trong đó: +Có 21798 trang trại trồng cây hàng năm chiếm 35,9% +Có 16614 trang trại trồng cây lâu năm chiếm 27,3% +Có 1762 trang trại chăn nuôi chiếm 2,9% +có 1630 trang trại lâm nghiệp chiếm 2,7% +có 16951 trang trại nuôi trồng thuỷ sản chiếm 27,9% +có 2006 trang trại kinh doanh tổng hợp chiếm 3,3% -Qua điều tra ta thấy trang trại phát triển mạnh ở Nam Bộ và Tây Nguyên (6028 trang trại chiếm 9,9%), ĐBBSSCL có 31140 trang trại chiếm 51,2% trang trại cả nước, ĐNB có 12703 trang trại chiếm 48,3%, ĐB và BB có 1094 trang trại lâm nghiệp chiếm 67,1% tổng số trang trại lâm nghiệp cả nước. -Với số lượng trang trại lớn như vậy thì quy mô một trang trại có lớn không? Bình quân 1 trang trại có sử dụng 6,2 lao động với số vốn sản xuất 136 tr đồng và 6,08ha đất và mặt nước sử dụng. Nhưng trong số vốn sản xuất là 136,6tr thì vốn vay ngân hàng chỉ có 13,2% còn nguồn khác 2,2, vốn tự có 84,6%. -Năm 2000 tổng thu của các trang trại là 5360,9tỷ đồng bình quân 1 trang trại đạt 88,2 tr /năm. Thu nhập của các trang trại là 1905,8tỷđồng bình quân 1 trang trại 31,4tr, thu nhập 1lao động /1 tháng là 584000 đồng gấp 2,5 lần thu nhập bình quân một người /tháng khu vực nông thôn. -Như vậy phát triển kinh tế trang trại ưu việt hơn hẳn kinh tế hộ nông dân về khai thác lao động, huy động nguồn vốn đầu tư trong dân, áp dụng được thành tựu khoa học vào sản xuất nông nghiệp tao ra nhiểu sản phẩm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng và xuất khẩu. Bên cạnh mặt tích cực còn có mặt hạn chế đó chính là sự thiếu quy hoạch ,kế hoạch đồng bộ về kinh tế xã hội gắn liền với quy hoạch phát triển kinh tế trang trại.Quy mô trang trại còn nhỏ và trình độ quản l‏‎ y kỹ thuật của nhiều chủ trang trại còn thấp đặc bịêt là vốn vay ngân hàng bình quân một trang trại chỉ có 18,1 tr như vậy với số vốn nhỏ không đáp ứng được nhu cầu đầu tư cho trang trại. -Tuy nhiên khi nói đến vốn vay ngân hàng ta phải đặt câu hỏi tại sao lại chỉ cho trang trai vay ít như vậy? Phải chăng là khi cho chủ trang trại vay thì các ngân hàng không yên tâm vì họ sợ sẽ không thu hồi được vốn do chưa có sự đảm bảo chắc chắn.Vậy chủ trang trại lên lấy gì làm vật thế chấp để vay vốn ? Còn nhà nước sẽ tạo điều kiện thuận lợi như thế nào để mô hình trang trại hoạt động thật sự có hiệu quả. 3.Những tổn thất trong nông nghiệp. Chúng ta đã nghiên cứu và thấy rõ được thành tựu mà nông nghịêp đạt được rất to lớn.Nhưng tổn thất trong nông nghiệp cũng không phải nhỏ. -Trước hết ta phải kể đến những tổn thất do điều kiện tự nhiên gây ra +Năm 1996 mưa lớn trên diện tích rộng 41 tỉnh và lũ lụt lịch sử tàn phá ở 2 vùng trọng điểm lúa ĐBSCL và ĐBSH. +Năm 1997 lũ ĐBSCL về sớm hơn 1 tháng kéo dài nhấn chìm hàng trăm ngàn ha lúa hè thu. Cuối năm bão số 5 gây thiệt hại nghiêm trọng vùng bán đảo cà mau. +Năm 1998 hạn hán trên phạm vi cả nước nhất là tây nguyên và các tỉnh phía bắc do hiện tượng ELMINO. +Năm 1999 lũ lụt lịch sử ở miền trung. +Năm 2000 nạn hồng thuỷ ở ĐBSCL và Nam Trung Bộ, nạn chuột, ốc bươu vàng phá hoại mùa màng làm thiệt hại 200 ngàn tấn lúa vụ 3 ở vùng này. +Chỉ tính trong năm (1985-1989) cả nước bão lụt đã làm cho 522865 ha lúa mất trắng và 1269 nghìn ha lúa năng suất giảm từ 20-70%. +Riêng năm 1991 ở ĐBSCL boã lũ lụt làm cho 127300ha lũa bị ngẩp trong đó 72140ha mất trắng. Ước tính thiệt hại khaỏng 500tỷ đồng. ở tỉnh tiền giang nước lũ tràn về làm ngập 32 xã làm cho 27320ha lúa hè thu muộn bị ngập, trong đó 14077ha bị mất trắng thiệt khoảng 60000tấn thóc. +Năm 1991 ở miền bắc do đợt rét muộn vào lúc lúa đông xuân đang trổ bông cộng thêm sâu bệnh ở nhiều vùng, lũ lụt ở sơn la, lai châu, làm thu hoạch giảm 1,4 tr tấn.Đông Nam Bộ do ảnh hưởng của hạn hán sâu bệnh làm cho 235000ha lúa bị nhiễm rầy nâu.ở miền nam đợt lữ 6 tỉnh ở ĐBSCL đã cuớp mất của nông dân khoảng 30vạn tấn thóc. Tính chung cho cả nước năm 1991 do thiên tai đã làm mất 1,7 triệu tấn thóc. Như vậy thực tế cho thấy rằng sản xuất nông nghiệp cũng thường xuyên gặp rủi ro và tổn thất của mỗi lần rủi ro không phải nhỏ. Điều này gây ảnh hưởng không nhỏ tới tâm lý của người sản xuất nông nghiệp. Như vậy để khuyến khích họ tăng cường sản xuất nông nghiệp ta phải có biện pháp tối ưu. Theo thực tế cho thấy thì Bảo Hiểm Nông Nghiệp là biện pháp tối ưu cho vấn đề này.Để đánh giá vấn đề này ta hãy xem xét phần 3 sau. III.Thực trạng bảo hiểm nông nghiệp ở nước ta. 1. Tình hình triển khai bảo hiểm nông nghiệp ở việt nam. ở nước ta dịch vụ bảo hiểm trong xã hội cũng phát triển nhưng chưa rộng rãi, riêng bảo hiểm nông nghịêp thì càng hẹp. Việt Nam triển khai bảo hiểm nông nghịêp chậm hơn so với các nước trên thế giới.Mãi đến năm 1981,Tổng công ty bảo hiểm việt nam mới tiến hành thí điểm bảo hiểm mùa màng ở hai huyện:Vụ Bản và Nam Ninh, Tỉnh Hà Nam Ninh (cũ) . ở đây số hợp tác xã tham gia bảo hiểm vào năm 1981 khá đông (71htx) song năm 1982 giảm đi (còn 37htx) sau đó thì dừng lại. Mấy năm gần đây thì Tổng công ty bảo hiểm việt nam bắt đầu triển khai thí điểm bảo hiểm nông nghiệp ở một số địa phương với một số đối tượng cây trồng, vật nuôi,. a.Bảo hiểm cây lúa. Được thí điểm một số nơi như sóc trăng, hà tĩnh. +ở sóc trăng thí điểm bảo hiểm cây lúa chỉ tập trung vào những hộ có vay vốn ngân hàng để sản xúât.Mỗi hộ nông dân khi tham gia bảo hiểm phải kê khai diện tích gieo trồng của mình. Phí bảo hiểm nộp =số tiền bảo hiểm, số tiền bảo hiểm cũng là số tiền bồi thường tối đa khi mùa màng mất trắng. Khi mùa màng bị thiệt hại do thiên tai gây ra thì người tham gia bảo hiểm được bồi thường theo mức thiệt hại thực tế. +ở hà tĩnh do đây là vùng gặp rủi ro thường xuyên trong nông nghiệp nên bảo hiểm cây lúa đã được triển khai trên phạm vi toàn tỉnh. Phí bảo hiểm cho 1sào là 3kg thóc, trong đó tỉnh hỗ trợ là 20%, nông dân nộp 80%. Sau 3 vụ lúa toàn tỉnh đã triển khai được 30%diện tích, huyện kỳ anh là nơi khí hậu khắc nghiệt, hạn hán, lũ lụt, gió bão xảy ra liên tục nên có đến 60-70% hộ nông dân tham gia bảo hiểm nông nghiệp. +Tỉnh Minh hải từ năm 1995 công ty bảo hiểm tỉnh cũng bắt đầu triển khai bảo hiểm cho cây lúa với mức độ khác nhau để nông dân có quyền lựa chọn. Bảo hiểm khi thiệt hại 10-100% phí bảo hiểm là 10kg thóc Bảo hiểm khi thiệt hại trên 50% phí bảo hiểm là 6kg thóc Bảo hiểm khi thiệt hại 100% phí bảo hiểm là 4,5kg thóc b.Bảo hiểm chăn nuôi. Trong bảo hiểm chăn nuôi thì chỉ triển khai bảo hiểm cho hai con vật : con lợn và bò sữa. + Bảo hiểm con lợn. Người chăn nuôi tham gia bảo hiểm con lợn nộp phí bảo hiểm từ 1-3% số tiền bảo hiểm (đối với loại bảo hiểm ngắn ngày như bảo hiểm tiêm phòng từ 7-21ngày) hoặc phí bảo hiểm 3-8%( đối với bảo hiểm dài hạn 5-8 tháng là thời gian nuôi một lứa lợn thịt) Khi lợn chết do dịch bệnh người chăn nuôi có bảo hiểm được bảo hiểm được bồi thường 60% số tiền bảo hiểm, còn gia súc chết do tai nạn bồi thường 40% số tiền bảo hiểm. +Bảo hiểm bò sữa. Được thí điểm ở nông trường giống bò sữa Lâmđồng từ 1989 đến nay. Trong tổng số 1000 con bò sữa thì 200 con được bảo hiểm, phí bảo hiểm mỗi con là 7% giá trị con bò.Khi bò chết vì dịch bệnh được bồi thường 60% số tiền bảo hiểm. Với tình hình triển khai bảo hiểm nông nghiệp như vậy thì chúng ta thử xem kết quả mà bảo hiểm nông nghiệp đạt được. 2. Những kết quả mà bảo hiểm nông nghiệp đạt được. -Trong thời gian triển khai thí điểm bảo hiểm cây lúa ở tỉnh sóc trăng vào vụ hè 1994 có 10816 hộ nông dân ở hai huyện mỹ xuyên và mỹ tú tham gia bảo hiểm cho 7571 ha. Đến ngày 25/10/1994 công ty bảo hiểm đã bồi thường thiệt hại cho 662 hộ nông dân trên diên tích 630ha bị ngập úng , sâu bệnh và chuột phá . Đến vụ mùa 1994 và vụ đông xuân 1994-1995 có 2454 nhộ nông dân đăng k‏‎y bảo hiểm 1738ha. -ở hà tĩnh riêng vụ chiêm xuân 1994-1995 nông dân huyện kỳ anh đã nộp trên 300tr đồng và được công ty bồi thường 450tr đồng. -Trong bảo hiểm bò sữa thì tính đến năm 1994 công ty bảo hiểm thu được 130tr đồng nhưng phải chi ra 170tr đồng. Như vậy nếu nói đến hiêu quả mang tính xã hội thì công ty đã đạt được nhưng tất cả các công ty bảo hiểm khi triển khai một nghiệp vụ thì không chỉ đề ‏‎ y đến hiệu quả xã hội mà còn phải chú y đến tính hiệu quả kinh doanh, nhưng ở đây không đạt được hiệu quả kinh doanh. 3. Những vấn đề tồn tại Như trên đã nói chúng ta chưa đạt được hiệu quả kinh doanh và đó là do một số lí do sau. -Bảo hiểm lẽ ra phải được tiến hành trên một phạm vi rộng để đảm bảo quy luật số đông bù số ít, nhưng thí điểm chỉ được thực hiện trên phạm vi hẹp như vậy điều kiện bảo hiểm chưa được bảo đảm. -Do áp dụng hình thức tự nguyện nên xảy ra tình trạng lựa chọn bất lợi cho bảo hiểm, chỉ những hợp tác xã nào dễ bị tổn thất mới tham gia bảo hiểm còn hợp tác xã nào ít bị tổn thất thì không chịu tham gia bảo hiểm hoặc tham gia ít. -Nhận bảo hiểm hầu hết tất cả rủi ro chỉ loại trừ rủi ro do không thực hiện đúng quy trình canh tác. Trong quá trình thực hiện, không kiểm soát được mọi rủi ro, không xác định được đúng mức độ thiệt hại, cũng như không phân biệt rõ các nhân tố ảnh hưởng khách quan, chủ quan đến rủi ro. -áp dụng phí bảo hiểm bình quân giữa các hợp tác xã của huyện trong tỉnh. Sản lượng lương thực được tiến hành ngoài trời và trên địa bàn rộng với các điều kiện đất đai, khí hậu, thời tiết khác nhau nên mức phí bảo hiểm không thể giống nhau giữa các vùng. -Ngoài ra còn 1 số tồn tại khác như giám định tổn thất, đại lý bảo hiểm không được tốt. Mặc dù vẫn còn những tồn tại chưa giải quyết được nhưng không phải vì vậy mà không triển khai bảo hiểm nông nghiệp. Trong cơ chế thị trường như hiện nay thì bảo hiểm nông nghiệp cần được đặt ra cấp thiết hơn. IV. Sự cần thiết phải triển khai bảo hiểm nông nghiệp ở việt nam. -Như chúng ta đã biết bảo hiểm là biện pháp để phân tán rủi ro hạn chế mất mát nhiều người cứu một người, nhiều vùng cứu một vùng. Quỹ bảo hiểm được coi là cái phao vật chất để giúp nông dân khôi phục sản xuất và ổn định cuộc sống mỗi khi gặp nhiều thiên tai. -Ngoài ra để góp phần thúc đẩy sản xuất lương thực phát triển bình thường trong mọi tình huống cần thiết phải xác lập 1 quỹ tài chính để bảo hiểm cho sản xuất lương thực.Bảo hiểm cho sản xuất lương thực,vât nuôi không chỉ bồi thường vật chất do thiên tai gây ra đối với sản xuất đời sống của nông dân mà còn là điều kiện để ngân hàng yên tâm khi cho nông dân vay vốn. -S au mỗi vụ tổn thất xảy ra trong nông nghiệp thì nhà nước đều phải hỗ trợ 1 khoản không nhỏ. Nếu sử dụng công cụ bảo hiểm nông nghiệp trong quá trình đầu tư phát triển trong khu vực kinh tế nông thôn sẽ giảm được gánh nặng chi hỗ trợ từ ngân sách nhà nước nâng cao hiệu quả của các khoản chi từ ngân sách nhà nước đối với sản xuất nông nghiệp. -Để tạo điều kiện thuận lợi cho nông nghiệp nông thôn phát triển chính phủ đã đầu tư rất lớn bằng tín dụng ưu đãi cho nông thôn nhưng trên thực tế số vốn cho vay ở nhiều nơi hoạt động kém hiệu quả khoản nợ không có khả năng thu hồi ngày càng lớn (1998-2000 chính phủ cho vay 395tỷ nhưng chỉ thu về được 52tỷ) lại còn tâm lý ỷ lại trong ưu đãi của chính phủ mà đi đôi với yêu cầu mua bảo hiểm nông nghiệp sẽ có tác dụng giữ lại vốn đầu tư , và khoản bị thất thu từ tín dụng ưu đãi có thể chuyển sang cho hoạt động bảo hiểm ắt có hiệu quả hơn. -Kinh doanh bảo hiểm không ngoài mục đích lợi nhuận cho nên sự tham gia của bảo hiểm đối với nền kinh tế nông thôn không phải thụ động mà bảo hiểm luôn tìm những biện pháp ngăn ngừa rủi ro, tạo sự ổn định và phát triển kinh tế nông thôn đồng thời cũng là môi trường tốt của bảo hiểm phục vụ phát triển nông thôn. Có thể nói bảo hiểm nông nghịêp phát triển cũng là biện pháp thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hương công nghiệp hoá hiện đại hoá. -Hiện nay trong nông nghiệp đang có xu hướng phát triển kinh tế trang trại. Đối với một chủ trang trại mà nói thì vốn đầu tư lớn, nhân công không ít, vốn vay của nhà nước lại càng lớn, hơn nữa khả năng xảy ra rủi ro trong quá trình sản xuất cao và tổn thất của mỗi vụ rủi ro là cao vì vậy để hoạt động của trang trại được đảm bảo hơn thì bảo hiểm nông nghiệp là biện pháp cần thiết và tốt nhất. Tuy nhiên trong quá trình triển khai bảo hỉêm nông ngiệp cũng gặp không ít khó khăn sau đây là một vài ví dụ. V.Những khó khăn của công ty bảo hiểm khi triển khai bảo hiểm nông nghiệp -Mặc dù phải làm thay chức năng của bộ nông nghịêp và công nghiệp thực phẩm, khi gánh vác việc tiêm phòng cho vật nuôi, thuê thú y để chăm sóc vật nuôi đã tham gia bảo hiểm …Nhưng việc làm đó trước đây của bảo việt chưa đủ sức thuyết phục người tham gia bảo hiểm, vì những việc làm của tổ chức bảo hiểm chưa đủ sức thuyết phục, gây lòng tin trong dân. Người ta chưa nhận ra được lợi ích thiết thực của việc tham gia bảo hiểm. -Trình độ cán bộ bảo hiểm chưa đáp ứng được yêu cầu khai thác và giám định bảo hiểm ở cơ sở.Tổng c

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docD0137.doc
Tài liệu liên quan