Tiểu luận Biện chứng cái đẹp, cái đẹp trong trang phục Việt Nam (dân tộc Việt)

MỤC LỤC

 

A. BIỆN CHỨNG CÁI ĐẸP 1

PHẦN I: TÌM HIỂU CHUNG VỀ CÁI ĐẸP 2

1. Cái đẹp là gì ? 2

1.1. Vị trí của cái đẹp trong quan hệ thẩm mĩ 2

1.2. Bản chất của cái đẹp 3

1.3. Đặc điểm cơ bản của cái đẹp 4

2. Cái đẹp trong xã hội 4

PHẦN II: BIỆN CHỨNG CÁI ĐẸP TRONG XÃ HỘI QUA NGŨ LUÂN 5

1. Quan hệ vua tôi 5

2. Quan hệ thầy trò 8

3. Quan hệ cha mẹ - con cái 9

4. Quan hệ vợ - chồng 11

5. Quan hệ anh em, bạn bè, hàng xóm 12

5.1. Quan hệ anh em 12

5.2. Tình bạn bè 13

PHẦN III: KẾT LUẬN CHUNG 14

B. CÁI ĐẸP TRONG VĂN HÓA MẶC CỦA DÂN TỘC VIỆT 15

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 27

 

 

doc28 trang | Chia sẻ: maiphuongdc | Ngày: 23/01/2014 | Lượt xem: 2138 | Lượt tải: 11download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Tiểu luận Biện chứng cái đẹp, cái đẹp trong trang phục Việt Nam (dân tộc Việt), để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ông Kinh, sông Vị, không dám quên phận của mình, ấy chính cũng chỉ quyết giữ trọn cái nghĩa ấy thôi… Thà chịu tội với quý quốc, quyết không chịu tội với nhà vua … chúng tôi cam lòng chịu chết vì nghĩa vua tôi…” Là một người con của đất Việt, lẽ nào bạn lại không cảm thấy tự hào trước những tấm lòng đầy nghĩa khí như vậy? Không chỉ có thế, thấm nhuần tư tưởng trung quân, các đế vương Việt Nam đều coi nước là của mình, Lí Thường Kiệt viết : “Sông núi nước Nam vua Nam ở Rành ranh định phận ở sách trời…”. Lê Thánh Tông cũng nói: “Một thước núi, một tấc sông của ta lẽ nào tự tiện vứt bỏ đi được… Kể nào dám đem một thước núi, một tấc đất của vua Lê Thái Tổ để làm mồi cho giặc thì kẻ đó phải bị trừng trị nặng”. Hết lòng vì nước, vì dân, rất nhiều bậc đế vương đã hoàn thành tốt trách nhiệm cao cả của mình - trách nhiệm “thay trời hành đạo”. Ví như Vua Thuấn bên Tàu, vua Pie ở nước Nga, vì muốn hiểu rõ đời sống của thần dân, muốn biết dân có hài lòng về mình không đã cải trang làm dân thường đi vi hành khắp nơi. Hay như dưới thời vua Hammurabi ở Lưỡng Hà cổ đại, người dân nơi đây đã thực sự được sống trong cảnh thanh bình, no ấm, lòng đầy tự hào về vị vua anh minh của mình. Cũng với tinh thần như vậy, ở Việt Nam ta, hiểu rõ tầm quan trọng của dân trong việc trị nước, suốt cả cuộc đời mình, vua Minh Mệnh đã nêu tấm gương làm việc bền bỉ không biết mỏi: “Ta là vua của một nước, vẫn nghĩ sâu sắc rằng, mình là gốc của phong hoá phải làm gương cho thiên hạ”. Khi nghe tin Bắc Kì bị tai nạn lũ lụt, Minh Mệnh đã ra chỉ dụ: “Trẫm là cha mẹ của dân, sao nỡ vui nơi yến tiệc. Bắt đầu từ hôm nay, dâng cơm ngự thiện phải giảm một nửa, bãi bỏ tất cả các việc ca nhạc…”. Tuy nhiên, có lẽ cũng là việc thường tình, trong lịch sử nhân loại, chuyện những vị vua dựa vào quyền lực của mình, hà hiếp dân lành, ăn chơi trác táng, ham mê tửu sắc, không quan tâm đến triều chính cũng không phải là hiếm. Chẳng hạn, ở Việt Nam ta, đó là hình ảnh của chúa Trịnh Sâm, Lê Long Đĩnh hay bù nhìn Khải Định… và dĩ nhiên, những vị vua ấy đã không thể ngồi vững trên ngai vàng của mình hẳn những câu ca dao này đã phần nào phản ánh được quy luật tất yếu đó. “Con vua thì lại làm vu Con sãi ở chùa lại quét lá đa Bao giờ dân nổi can qua Con vua thất thế lại ra quét chùa”. Việc vua thì đã vậy, còn long dân ? Bên cạnh những tấm gương cương trực như chúng ta đã biết, còn có những kẻ vì lợi ích cá nhân, vì cái lợi trước mắt đã làm những việc trái lương tâm, đạo đức của con người. Chắc chắn những kẻ bán mình, phản bội nhân dân, đất nước sẽ mãi bị lên án, người người căm ghét. 2. Quan hệ thầy trò Đã từ lâu, những câu tục ngữ như : “Không thầy đố mày làm nên”, “nhất tự vi sư, bán tự vi sư”… đã trở thành những câu cửa miệng, quen thuộc với mọi người dân Việt Nam. Qua những câu nói ấy, vai trò to lớn của người thầy, truyền thống “tôn sư trọng đạo” được bộc lộ rõ nét. Trong Ngũ luân, mối quan hệ thầy trò được đặt lên trước mối quan hệ cha mẹ với con cái bởi: cha mẹ cho ta thân xác, hình hài - cái đó được gọi là tiểu ngã; còn người thầy cho ta kiến thức, vốn sống để làm người- cái đó được gọi là đại ngã. Vì thế, đại ngã được đề cập trước tiểu ngã là điều đương nhiên. Người thầy cần phải có đủ đức và tài để truyền đạt kiến thức cho học trò của mình, phải là tấm gương sáng để trò mình noi theo. Còn trò, phải biết lòng kính trọng thầy, học hành chăm chỉ và đỗ đạt cao để không phụ công thầy. Trong câu chuyện “Người thầy đầu tiên” của nhà văn Ai-ma-dốp, hình ảnh người thầy giáo Duy xen đã tự nguyện về một vùng quê nghèo, vận động các gia đình cho con em mình đi học chữ đầy gian truân, khó khăn hẳn đã làm không ít người trong chúng ta cảm phục về tấm lòng của một người thầy. Người thầy ấyđã tự mua sách vở cho các em, đã tự mình sửa lại đường đi để các em đi học được dễ dàng… Người thầy ấy đã được học trò của mình hết sức yêu mến và kính trọng. Ở Việt Nam ta, người thầy giáo Chu Văn An sẽ còn sống đến muôn đời. Học trò của Thầy, ai cũng đỗ đạt cao, làm quan to, song với thầy, họ lúc nào cũng hết mực kính trọng, biết ơn. Tôi chắc tất cả chúng ta còn nhớ như in câu chuyện về người con trai Thuỷ thần được lưu truyền rộng rãi trong dân gian. Cảm phục trước tài đức của thầy, người con ấy đã xin thầy theo học. Khi trần thế bị hạn hán lâu ngày, tưởng chừng như không thể chịu nổi, người học trò ấy đã làm theo tâm nguyện của thầy, sẵn sàng hi sinh tính mạng để đem lại cuộc sống bình yên, no ấm cho tất cả mọi người. Ngày 20/11 hàng năm, nhà nước ta lấy đó làm ngày Nhà giáo Việt Nam - ngày mà toàn xã hội hướng về những người thầy, người cô hết mình cống hiến cho sự nghiệp giáo dục nước nhà. 3. Quan hệ cha mẹ - con cái Nho giáo coi sơi dây thiêng liêng ràng buộc người này với người khac sau khi ra đời là tình nghĩa người con với người mẹ. Khi bắt đầu có tình cảm, tư duy, trẻ con phải bắt đầu học tập để giữ đạo làm con. Người có hiếu trước hết phải là người biết nuôi cha mẹ. Nuôi thì phải kính, chứ không kính thì không phải là hiếu. Khi cha mẹ còn sống, không bao giờ làm điều gì để cho cha mẹ lo buồn. Bởi vậy không nên đi đâu xa, có đi xa thì phải nói cho cha mẹ biết chỗ đi để cha mẹ khỏi lo. Khi cha mẹ có làm điều gì trái đạo thì con phải dùng cách ôn hoà mà can ngắn. Việc giữ cái danh tiết của cha mẹ được trong sạch là bổn phận người con hiểu đạo hiếu. Hiếu là thước đo của đạo đức, là gốc của nhân luân, tạo nên phẩm cách con người. Nói về đạo làm con, ca dao Việt Nam ta phản ánh rất sinh động và chân thực. “Công cha như núi Thái sơn Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra Một lòng thờ mẹ kính cha Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con”. Hay : “Đói lòng ăn bát chà là Để cơm nuôi mẹ, mẹ già yếu răng”. Hoặc: “Dẫu con đi hết cuộc đời cũng không đi hết những lời mẹ ru…” Không chỉ trong ca dao, trong tất cả các lĩnh vực nghệ thuật khác, ví như trong các tác phẩm văn chương ở các thể loại khác, đạo làm con cũng được bộc lộ rõ. Nàng Thuý Kiều trong tác phẩm Truyện Kiều của Nguyễn Du đã hi sinh tuổi thanh xuân của mình để cứu cha. Hay như trong tích chèo Trương Viên- Thị Phương, cô con dâu Thị Phương đã thay chống làm tròn đạo hiếu với người mẹ già. Người con dâu ấy đã chấp nhận mọi nguy hiểm, tai ương để cứu lấy mẹ, them chí cô còn lấy thịt từ người mình cho mẹ ăn để mẹ khỏi chết đói. Trong cổ tích Việt Nam, chuyện Chử Đồng Tử nhường cho cha cái khố duy nhất khi cha mất cũng phản ánh sâu sắc lắm tấm lòng của người làm con… Phận làm con thì đã hẳn là như vậy, phận làm cha mẹ cũng phải biết sửa mình để ngay thẳng gia đình, lấy nghĩa lí dạy con trai, lấy nữ công nữ tắc dạy con gái… Cha mẹ còn luôn dành những tình cảm thương yêu nhất cho những đứa con của mình. Hình ảnh Lão Hạc ăn uống kham khổ, tiết kiệm, thu nhặt từng đồng, từng hào danh dụm cho con hẳn không phải là vô nghĩa. Rồi như bà cụ Tứ, trước cái khổ, cái đói, với tấm lòng nhân hậu, thương con của một người mẹ, bà vừa lo lắng cho con, vừa động viên con nhằm mang lại niềm tin vào cuộc sống cho những đứa con của mình, và có ai trong chúng ta lại không lớn lên từ tiếng à ơi, ru hời ngọt ngào, nồng ấm của mẹ: “Gió mùa thu, mẹ ru con ngủ Năm canh dài, mẹ thức đủ năm canh…” … Mạch cảm hứng khơi nguồn sáng tạo từ mối quan hệ giữa cha mẹ với con cái là vô tận, không cùng; nhưng cái chính là chúng ta đã cảm nhận được cái vẻ đẹp chân thành, đầy ý nghĩa trong cách ứng xử của mối quan hệ đó. 4. Quan hệ vợ - chồng Cái đạo vợ chồng cũng là một mối cương thường rất quan trọng trong Ngũ luân. Ở với nhau mà biết thương yêu nhau, quý trọng nhau thì rất là phải đạo lắm. Tục ngữ ta có câu. “Thuận vợ thuận chồng tát biển đông cũng cạn” Hay : “Qua đình ngả nón trông đình Đình bao nhiêu ngói thường mình bấy nhiêu”. Rồi : “Chồng em áo rách em thương Chồng người áo gấm xông hương mặc người” Trong truyện Phạm Công - Cúc Hoa, đôi vợ chồng ấy dù gặp bao trắc trở, dù kẻ âm người dương, nhưng họ vẫn luôn hướng về nhau và cuối cùng hạnh phúc thực sự đã m,ỉm cười với họ. Chiến tranh - sự kiện ấy cũng là một thử thách khắc nghiệt trong quan hệ vợ chồng. Tôi đã cực kì xúc động khi nghe kể về chuyện một ngươidf vợ đằng đẵng chờ chồng trong suet hai mươi năm dù không một lá thư, không chút tin tức (vì anh là một tình báo). Hai mươi năm sau, anh trở về, chi ôm anh vào lòng, không giấu được nước mặt, chị nói : “Cảm ơn cuộc đời, cuộc đời đã cho chị nhiều lắm!”. Một hình tượng nữa, dù hết sức giản dị song tình cảm vợ chồng cũng được biểu hiện rất sâu sắc - đó chính là hình tượng núi vọng phu. Nhưng tục ta lại trọng nam khinh nữ. Người vợ trên phải phụng dưỡng cha mẹ, có khi phải nuôi chống; giữa thì giúp chồng lo lắng công kia việc khác, gánh vác giang sơn cho nhà chồng, dưới thì săn sóc nuôi em… trong khi đó nghĩa vụ của người chồng chỉ ở cho đúng đắn, biết yêu vợ, quí trọng vợ. Đối với người phụ nữ, chỉ cần có một người chồng hiểu mình, thương mình, thông cảm cho những nỗi gian truân, vất vả của mình đó đã là một điều vô cùng hạnh phúc. Họ sẵn sàng làm tất cả, hi sinh tất cả để làm tròn bổn phận của mình : “Quanh năm buôn bán ở mom sông Nuôi đủ năm con với một chồng Lặn lội thân cò khi quãng vắng Eo sèo mặt nước buổi đò đông” “Thương vợ - Tú Xương). Đó là những nét đẹp trong quan hệ vợ chồng 5. Quan hệ anh em, bạn bè, hàng xóm 5.1. Quan hệ anh em Đi lion với đức hiếu là đức đễ. Đễ là mối quan hệ giữa anh chị em trong một gia đình. Bổn phận của người anh là phải quan tâm, chăm sóc và nhường nhịn đàn em. Ngược lại, người làm em phải hết lòng kính trọng và ngoan ngoãn vâng lời anh chị của mình. Tục ngữ ta vẫn nói “Anh em như chân với tay”, “Môi hở răng lạnh”, “chị ngã, em nâng”, “Một giọt máu đào hơn ao nước lã”… Ca dao cũng đề cập đến mối quan hệ này. “Khôn ngoan đối đáp người ngoài Gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau”. Hoặc : “Anh em như chân với thay Rách lành đùm bọc, dở hay đỡ đần”… Và những người làm anh, làm chị chắc sẽ không thể quên được tích “Trầu cau” của dân tộc ta- một tích truyện đầy xúc động về tình anh em, nghĩa vợ chồng gắn bó keo sơn, thuỷ chung muôn đời; hay như câu chuyện “Tình anh em” chẳng hạn, đức đễ đã thật sự được toả sáng. Cha mẹ mất đi để lại cho anh em một mảnh ruộng. Hai anh em làm chung, đến mùa thu hoạch lúa, họ chia làm hai đống đều nhau và để ở ngoài đồng. Đêm đến, người em nghĩ : mình chỉ có một thân một mình, chẳng phải lo lắng cho ai cả, còn anh trai mình đang có cả một gia đình phải lo, mình sẽ khuân bớt đống lúa của mình sang đống của anh, làm thế anh sẽ không biết mà từ chối. Người anh thì lại nghĩ: Ta thì chẳng sao, nhưng em ta chỉ có một thân một mình, vì thế ta sẽ nhường cho em một ít lúa của ta. Sáng hôm sau ra đồng, cả hai anh em đều vô cùng ngạc nhiên khi thấy cả hai đống vẫn rất bằng nhau. Sau một vài đêm như vậy, hai anh em quyết tìm hiểu rõ nguyên nhân và họ đã gặp nhau trong cảnh mỗi người đang ôm những bó lúa của mình sang đống của nhau… Hai anh em họ đã ôm lấy nhau mà khóc… 5.2. Tình bạn bè Sống ở đời ai cũng cần có bạn. Khổng Tử dạy: Bạn với người nhân từ, trung chính thì học được nết hay, bạn với người gian tà quỷ quyệt thì nhiếm lấy điều dở. Bởi thế cho nên ta phải chọn bạn mà chơi. Bạn hữu chơi với nhau phải lấy điều phải trái hay dở mà khuyên bảo nhau, nhưng việc gì cũng phải giữ cho phải nghĩa thì thôi. Chưa thấy một người nào không có bạn mà thành người được bao giờ. Bá Nha đã đập hang cây đàn của mình khi Chung Tử Kì - người bạn tri âm - đi sang một thế giới khác. Dương Lễ cũng không hề ngần ngại khi để người vợ thứ ba của mình là Châu Long đi nuôi bạn ăn học. Cụ Nguyễn Khuyến đã khóc cụ Dương Khuê khi cụ mất: “Ai chả biết chán đời là phải Vội vàng chi đã mải lên tiên. Rượu ngon không có bạn hiền Không mua không phải không tiền không mua! Câu thơ nghĩ đắn đo không viết Viết đưa ai, ai biết mà đưa ? Giường kia treo những hững hờ Đàn kia gẩy cũng ngẩn ngơ tiếng đàn”… Tình bạn giúp cho mỗi người thấyđược niềm tin vào cuộc sống. 5.3. Tình làng nghĩa xóm : Nhân dân ta vẫn nói : “Bán anh em xa mua láng giềng gần”, “Hàng xóm tối lửa tắt đèn có nhau”… Bởi vậy, mỗi người cần phải sống đúng mực để thắt chặt tình làng nghĩa xóm. Mỗi khi mình có việc cần họ hàng, làng xóm nhiệt tình đến giúp; ngược lại, nếu mọi người cần mình, chúng ta cũng không nên do dự, ngại ngần gì cả. Làm được như vậy, cuộc sống của tất cả chúng ta có ý nghĩa hơn rất nhiều. Trong truyện Lều Chõng của Ngô Tất Tố, ngày Văn Hạc sắp đi thi, bà con hàng xóm ai cũng đến nhà. Người cho quà, người cho tiền, người khuyên nhủ… ai ai cũng đều vui vẻ với chính sự quan tâm của mình… Trong làng, gia đình nào đó tổ chức đám cưới cho con cái, mọi người trong xóm đều đến góp mặt choc mừng, chia vui, nếu gia đình nào đó có đám tang, có chuyện buồn, mọi người cũng tự nguyện đến chia buồn, đưa tiễn… Không ai có thể sống tách ra khỏi xóm làng, bởi vậy, thắt chặt mối quan hệ với hàng xóm láng going là một việc cần thiết. PHẦN III: KẾT LUẬN CHUNG Tìm hiểu các mối quan hệ trong Ngũ Luân, chúng ta thấy được những nét đẹp, mực thước trong cách ứng xử giữa con người với con ngươidf trong một phạm vi hẹp là gia đình, và trong một phạm vi rộng hơn là xã hội. Tuy nhiên, thế giới hiện thực luôn luôn vận động, biến đổi và phát triển; hơn nữa bản thân các quan niệm mà Ngũ Luân đề cập đến không phải là không có những hạn chế, bởi vậy những quan niệm mà nó đưa ra có thể phù hợp với thời kì này, xã hội này song trở nên lạc hậu, bảo thủ trong thời kì khác, xã hội khác là điều không thể tránh khỏi. Đối với đất nưcớ ta, hiện nay đang ở trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội, chúng ta đang phấn đấu xây dựng chế độ mới, nền kinh tế mới, nền văn hoá mới và con người mới. Sự nghiệp đó đòi hỏi những quan hệ giữa người với người trên đất nước chúng ta phải từng bước xã hội hoá theo hướng xã hội chủ nghĩa. Nói xã hội hoá những quan hệ giữa người với người không có nghĩa là tách nghĩa cha con, mẹ con, vợ chồng… trong gia đình và tình bạn ý hợp tâm đầu riêng không còn nữa. Trái lại, trong xã hội xã hội chủ nghĩa, quqn hệ và tình cảm gia đình, quan hệ và tình cảm bạn hữu càng lành mạnh, trong sáng hớn. Cái chính là lợi ích và tình nghĩa riêng (gia đình, bạn hữu) không cao hơn, càng không lấn át lợi ích công cộng và tình cảm gắn bó với xã hội, với tập thể, mà phải phục tùng một cách trung thực lí tưởng và lợi của ích tập thể, của xã hội. B. CÁI ĐẸP TRONG VĂN HÓA MẶC CỦA DÂN TỘC VIỆT (Qua các thời kỳ lịch sử) Trang phục là một nhu cầu thiết yếu trong đồi sống con người. Nó quan hệ đến nhiều lĩnh vực trong xã hội như địa lý, lịch sử, kinh tế, lễ giáo, đẳng cấp, phong tục tập quán v.v... Nhất là ở lĩnh vực văn hóa tinh thần nó thể hiện cụ thể rõ nét về trình độ và thị hiếu them mỹ của mỗi con người, mỗi dân tộc, mỗi thời đại... Quả thật trang phục (là kiểu cách quần áo, mũ, khăn, giầy dép, đồ trang sức...), có tầm ảnh hưởng rất lớn tới đời sống con người - các mối quan hệ xã hội thị hiếu them mỹ, đời sống tinh thần của con người Việt Nam , Ông cha ta đã tong dạy rằng: “Hơn nhau tấm áo manh quần Thả ra bóc trần ai cũng như ai. Đó là bằng “con mắt trang phục”, và xét ở góc độ bình đẳng của cogt. Nhưng thực tế phũ phàng ta cho cho ta thấy, trong xã hội cũ, chỉ vì “cái ao, manh quần “ấy” mà biết bao người lao động nghèo đã phải đau khổ lên tiếng. “Cha đì cái áo cách này Mất chúng mất bạn vì mày áo ơi” Nhưng nếu chỉ nhìn nhận cái áo, cái quần ở góc độ là những vật che thân đơn thuần thì tức là chỉ nhìn bằng con mắt thực dụng. Bởi nó còn mang những ý nghĩa sâu sắc về mặt văn hóa xã hội, về xu hướng them mỹ, của tong dân tộc, của từng con người lịch sử cho thấy đã bao lần quân xâm lược phương Bắc xâm lược nước ta, và cố gắng bằng mọi cách đề đồng hóa lối sống, phong tục của dân ta, bắt dân ta ăn mặc theo kiểu phương Bắc nhưng đã gặp phải sự đấu tranh mãnh liệt của dân ta để bảo vệ đất nước, bảo vệ phong tục cổ truyền. “Đánh cho để dài tóc đánh cho để răng đen”... Vì vậy trang phục (hay văn hóa mặc): không chỉ là vật để che thân mà còn mang những ý nghĩa lịch sử, ý nghĩa tinh thần dân tộc. Đó là vẻ đẹp tinh túy của mỗi dân tộc, là bàn tay khéo léo, khối óc tinh tế của người Việt xưa trong việc cố kết hợp trang phục, sự cách điệu tinh tế cho trang phục của mình trở nên đẹp đẽ hơn để phù hợp đời sống xã hội hiện đại. Trong bài tiểu luận này, tôi muốn trình bày sâu vào vấn đề “Cái đẹp trong văn hóa mặc của dân tộc Việt – qua các thời kỳ lịch sử”. -Trang phục thời Hùng Vương -Trang phục thời phong kiến -Trang phục từ cách mạng tháng 8 đến nay. TRANG PHỤC THỜI HÙNG VƯƠNG Cách đây khoảng 2500 – 2700 năm, thời đại Hùng Vương (với sự ra đời của nhà nước đầu tiên – nhà nước Văn Lang – văn hóa đồng thau). Người dân đã biết sinh sống, bằng săn bắn, trồng trọt biết rang gai, đay, dâu, nuôi tằm, ươm tơ dệt vải không còn phải dùng vỏ cây làm quần áo nữa). Theo một số hiện vật còn gìn giữ và thu được ở một số di chỉ, và theo nghiên cứu của các nhà văn hóa học – khảo cổ học trang phục thời kỳ này khó phong phú. Phụ nữ mặc áo ngắn đến bong, xẻ ngực, bó sát vào người, phía trong mặc yếm kín ngực. Chiếc yếm có cổ tròn rất cổ, có trang trí hình chấm hạt gạo. Cũng có những dạo áo cánh ngắn, cổ vông, để hở một phần vai và ngực hoặc kín ngực, hổ một phần vai và trên lưng. Trên áo có hoa văn trang trí. Thắt lưng có 3 hàng chấm trang trí, cách điệu nhau, quấn ngang bong, làm cho thân hình thêm tròn lẳn. Đầu và cuối thắt lưng thả xống phía trước và sau người, tận cùng bằng những tua rua. Váy kín bó sát sát vào thân cũn cỡn trang trí đẹp. Đàn ông đóng khố là một dải vải, ciều ngang khoảng 10cm (20cm thì gập đôi lại), chiều dài khoảng 1,2m hoặc dài hơn. Tùy theo chiều dài của khổ, người ta quấn thành một hoặc nhiều vòng quanh bong, thả đuôi khố về phía sau hoặc phía trước. Đàn ông Đông Sơn thường cởi trần. Đàn ông và đàn bà đều búi tóc tròn sau gáy. Một hình thức khác là tóc búi ngược một phần lên đỉnh đầu, một phần thả ra sau lưng. Cũng có thể cả nam và nữ đều xòa tóc sau lưng (nam thường xõa tóc kín cổ, nữ thường xõa tóc sau lưng). Qua quan sát trên trống đồng ta thấy: trong các hoạt động tập thể, các ngày lễ hội người ta còn mặc những chiếc váy làm bằng lông vũ, hoặc bằng lá cây xòa ra rất đẹp, trên đầu họ là chiếc mũ cũng bằng lông vũ có trang trí thêm những bông lau ở phía trước. Người dân thời kỳ này cũng đeo rất nhiều loại trang sức. Những vòng đeo tai đa dạng: có loại đơn giản chỉ là một sợi dây đồng uốn tròn sơ sài, hay được đúc lion, có loại vòng tròn có hang khóa. Đặc biệt là có những vòng hoa tai gắn quả nhạc hay đôi hoa ai bằng đá, hình con thú. Những chuỗi hạt thường thấy. Gồm các loại hạt hình tru, trái xoan, hình cầu. Ngoài ra còn có nhẫn bằng đồng đeo ở ngón tay có gắn quả nhạc. Đàn ông thường có tục săm mình (ban đầu với mục đích vẽ lên mình để khi xuống nước nó không bị giao long hãm hại. Sau được nâng lên thành hình thức trang điểm cho cơ thẻ). Đàn ông đàn bà đều nhuộm răng đen, và có tục ăn trầu. Tuy rằng những trang phục thời kỳ nào còn đơn giản, đồ trang sức còn tô sớ, nhưng với điều kiện chế tác hạn chế, ta thấy được rằng; con người thời khỳ bấy giờ đã có trình độ thẩm mỹ, óc tưởng tượng cao, đã quan tâm nhiều tới vấn đề làm đẹp cho cơ thể, đồng thời khi thể hiện bàn tay khéo léo cần căn cứ hoạt động. Thời nhà Lý. Có nền kinh tế phát triển tạo điều kiện phát triển mọi mặt của đời sống xã hội. Với ý thức dân tộc, nhà vua chủ trương dùng gấm vó trong nước: Năm 1059 Vua Lý Thánh Tông định triều phục cho các quan vào chầu vua các quan phải đi tất, đi hia, đội mũ phác đầu, mặc áo bào tía, cầm hốt ngà, thắt đai da. Vu mặc áo màu vàng, quần tía, búi tóc, cài trâm vàng. Trang phục võ tướng thời Lý khá hoàn chỉnh: mũ chùn kín tai, áo dài đến đầu gối, cánh tay áo được may gọn gàng, chật, bó sát cổ tay, có những mảnh giáp, hoặc diềm vải trang trí hình xoắn ốc hay hình bông hao nhiều cánh to ở trước ngực. Rất nhiều đường viên song song, hình cong hoặc xoắn ốc, tiếp dưới là những quả nhạc nhỏ, hoặc những tua rủ rồi mới đến hàng quả nhạc. Dây lưng bằng vải thì buông rủ hai đầu xuống phía trước. Nếu là đai lưng bằng da thì sát vào bụng, đều làm nổi lên đường nét khoẻ, đẹp cho cơ thể. Đôi hia ở dưới chân cao đến đầu gối và được trang trí đơn giản. Các vũ nữ, tóc thường búi cao lên đỉnh dầu, trên trán có một điểm trang trí, cổ đeo những chuỗi hạt, mặc váy ngán có nhiều nếp. Trang phục của nhân dân: thời kỳ này “quá nửa người dân làm sư sãi”. Tượng phật ADi Đà (từ năm 1057) còn lại tại chùa Phật Tích cho ta thấy: tấm áo pháp khoác ngoài có đường cong, đường thẳng gấp khúc hay buông rủ, rất sinh động. Nếp áo nổi lên như những đường gân của tấm lá ren dính sát cơ thể. Khi đi dồn dập chảy suôi, chỗ thì vắt chéo mềm mại, hay chạy vòng như sóng lượn, chỗ thì nhẹ nhàng, vài đường nằm ngang cho thấy tấm áo vừa rộng, vừa gợi tả được độ mỏng và mịn của vải dù tượng làm bằng đá. Người dân cũng có tục săm mình, đàn bà đeo khuyên bạc vũ nữ thường búi tóc xao và buộc diềm hoa trên đầu. Trang phcu thời Trần. Đây là thời kỳ có nhiều loại vải mới. Vải bông, vải gai, lụa lĩnh, sa, the, nái, sồi, đoạn, gấm vóc,… Nghề thêu cũng phát triển. Năm Hưng Long thứ 8 (1300). Quan võ dùng kiểu mũ áo mới. Quan văn đội mũ chữ Đinh ( ) màu đen. Cửa tay áo các quan văn, võ rộng từ 9 tấc đến 1 thước 2 tấc. Năm 1395 Lịch Triều tạp kỷ quy định: Nhất phẩm thì màu tía, nhị phẩm màu đại hồng, tam phẩm màu đào hồng, tứ phẩm, ngũ phẩm màu lục; thất phẩm màu biếc, bát cửu phẩm màu xanh. “Trang phục nhân dân: Đàn ông thường cởi trần hoặc mặc áo tứ thân màu đen, cổ cáo tròn bằng the, quần mỏng bằng lụa thâm. Đại đa số trọc đầu, đi đất, có người đi giầy da. Tục xăm mình cũng rất phổ biến. Trang phục thời Lê-Mạc. Trang phục triều đình: Đời vùa Lý Thánh Tông (từ năm 1934) khi hành đại lễ: vua mặc áo long cổn, đầu đội mũ miện, còn lễ thượng triều thì mặc áo hoàng bào, đội mũ xung thiên. Chúa Trịnh trong các đại lễ, và ngày thường không khác vua Lê là mấy chỉ khác về màu ắc (vua dùng màu vàng, chúa dùng màu tía) thể hiện sự lấn quyền nghiêm trọng. 1486 định kiểu mũ chầu: các quan van võ vào chầu, đội mũ ô sa, hai cánh chuồn phải nhất luật hơi hướng về đằng trước, khong được tự ý làm ngang, hay lệch. Triều đình lại định thể trang phục khi tiếp sứ nhà Minh các công hầu, bá, nh phò mã, và các quan văn võ, đều phải màu sẫm, cáo có cổ bằng gai, tơ, sa là sắc xanh dài cách đất một tấc (3,3cm) tay rộng 1 thước hai tấc (40cm). Sự quy định về trang phục thể hiện lòng tự tôn dân tộc, không để cho nước ngoài coi thường. Mũ của hoàng thân trang sức bằng vàng, quan văn quan võ trang sức bằng bạc: áo dùng áo tía, hinh con kỳ lân: quan văn có hình con tiên hạc; quan võ hình con sư tử. Mệnh phu mặc theo với phẩm trật của chồng - người đàn bà nào chính bản thân làm nên sang hiển thì không phải kém mũ áo của chồng. Đến năm 1720 đổi lại: áo của hoàng thânm, vương thân mùa xuân mùa hạ dùng sa tầu; đội mũ lông đuôi ngựa, màu thu, mùa đông dùng đoạn tầu màu trầm trượng. Trang phục người dân: Đàn bà lao động thường mặc yếu cổ xây, cánh tay để trần, mặc váy ngắn, thắt lưng thả phía trước. Đầu thường dùng khăn lượt để cuốn tóc lúc yết kiến bậc tôn trưởng lại xoà xuống để kính lễ. Đàn ông lao động cởi trần, đóng khố. Đàn ông - đàn bà đội nón xuân lôi, tiểu lạp (nón rọ nhỏ). Người ở kinh thành đội nón liên diệp. Các ông già đội nón ngoan sác, con nhà quan và học trò đội nón phương đẩu đại. Họ hàng nhà quan và một số ông già đội nón cổ câu v.v… Trang phục thời này khá phong phú, độc đáo cảu sức sống mãnh liệt được gìn giữ tới ngày nay. Trang phục thời Nguyễn - Pháp thuộc. Đầu thời Nguyễn trang phục cũng được quy định rất ỉ mỉ. Nhưng đầu thời Nguyễn trang phục cũng được quy định rất tỉ mỉ. Nhưng do sự pha tạp của yếu tố Đông - Tây càng làm trang phục thêm lố bịch lai căng (đặc biệt là tầng lớp thống trị). Trang phục triều đình: Vua có mũ miện, xiêm, đai, hia, hốt, mũ miện: thân hình tròn ống, đan bằng dây thau, canh trước canh sau, đeo 24 dây tua bằng vàng, sâu 300 hột san hô. Trân châu pha lê và 400 hạt vàng. Đỉnh mũ đính 2 chữ vạn thọ. Xung quanh mũ có 12 hình rồng vàng, 6 hình ngọn lửa cũng bằng vàng lại dát hình hoa sen, đám mây bằng 256 hột vàng. Áo long cổn bằng sa tanh màu thanh niên thêu nhiều hoạ tiết, mặt trời trăng sao, rồng. Đai làm bằng da bọc đoạn màu vàng, giữa đính một viên ngọc hình vuông, xung quanh gắn 6 viên ngọc hình quả trám, bịt vàng, 392 hạt châu ngọc bên trong có 6 khuy để dính vào áo. Hốt bằng ngọc dài một thước hai tấc ngang ba tấc có túi gấm đưng. Quan quan lính triều Nguyễn cũng có quy định rõ rệt. Càng về sau trang phục của giai cấp phong kiến triều Nguyễn đặc biệt là tầng lớp trên, càng biểu hiện sự lố lang kệch cỡm lai căng (như hình ảnh Khải Định). Trang phục người dân cũng có nhiều thay đổi. Các bà các cô ở miền Bắc và Bắc Trung Bộ thường mặc áo cánh ngắn bên trong là tấm yếm màu vàng tơ tằm hay bằng vải màu hoa hiên hoặc màu nâu non. Hai đầu cổ yếm có hai dải nhỏ để buộc ra sau gáy. Áo dài Áo ài: là loại áo hai vạt phía trước đều nhau buông thả xuống không cài khuy. Người nào cũng nuôi tóc dài và vấn khăn. Nếu đuôi tóc dài hơn khăn, sẽ rủ xuống cạnh tai trái của người phụ nữ. Tác đuôi gà là hình thức trang điểm được ưa chuộng thời đó: “Một

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docMyhoc (21).doc
Tài liệu liên quan