Tiểu luận Cơ hội và thách thức của các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ở nước ta hiện nay

MỤC LỤC

LỜI NÓI ĐẦU

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA

1.1. Khái niệm, vai trò và đặc điểm .3

1.1.1. Khái niệm và phân loại doanh nghiệp nhỏ và vừa .3

1.1.1.1. Khái niệm .3

1.1.1.2. Phân loại .3

1.1.2. Vai trò . .4

1.1.3.Đặc điểm của DNNVV .4

1.1.4.Những thuận lợi và khó khăn .6

a. Thuận lợi .6

b.Khó khăn .6

CHƯƠNG II: CƠ HỘI VÀ THÁCH CỦA DNNVV

2.1.Tổng quan về WTO . .9

2.2. Những cơ hội và thách thức .9

2.2.1. Những cơ hội 10

2.2.2. Những thách thức .12

CHƯƠNG III: MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHO DNNVV

Thứ nhất:Cần phải tăng cường năng lực quản trị .17

Thứ hai:Phát triển năng lực quản trị chiến lược . .17

Thứ ba:Xây dựng hệ thống kế toán quản trị . 18

Thứ tư:Tăng cường vai trò của các hiệp hội .18

Thứ năm:Bồi dưỡng khả năng kinh doanh quốc tế .18

Thứ sáu:tăng cường sự hỗ trợ của Chính phủ . .19

Thứ bảy:Hỗ trợ tư vấn về thiết bị, công nghệ .20

Thứ tám:Xây dựng chiến lược Maketing và chiến lược hậu mãi .21

Thứ 9: Các hình thức hỗ trợ của Nhà nước 23

KẾT LUẬN

MỤC LỤC

TÀI LIỆU THAM KHẢO

pdf28 trang | Chia sẻ: maiphuongdc | Ngày: 06/09/2013 | Lượt xem: 9183 | Lượt tải: 112download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Tiểu luận Cơ hội và thách thức của các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ở nước ta hiện nay, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
các doanh nghiệp có cơ sản xuất nhỏ thì mặt bằng sản xuất đang là trở ngại, họ không dám đầu tư lâu dài vào nhà xưởng, lắp đặt máy móc kiên cố, đồngthời diện tích mặt bằng chưa đáp ứng được nhu cầu sản xuất, nhu cầu đảm bảo an toàn, vệ sinh, ảnh hưởng tới môi trường lao động của doanh nghiệp. Các công nghệ đang sử dụng tại Việt nam hầu hết được đánh giá là lạc hậu, không được cải tiến đổi mới nên còn nhiều bất cập d. Cơ cấu tổ chức gọn nhẹ Xuất phát từ quy mô của DNNVV là số lượng lao động ít dẫn đến cơ cấu tổ chức đơn giản, không phức tạp, chính vì sự nhỏ gọn nên khi cần có sự thay đổi sẽ rất dễ thích ứng, thay đổi dễ dàng e. Chu kỳ sản phẩm ngắn DNNVV tiếp xúc rất gần gũi với khách hàng, hiểu nhu cầu của khách hàng nên có thể dễ dàng thay đổi chỉnh sửa khi có bất kì vấn đề gì xảy ra. Ngày nay, khách hàng có nhu cầu ngày càng cao rút ngắn chu kỳ của sản phẩm Môn Quản trị DNNVV Nhóm 2 _ HQ1CK5 6 Đề tài: Cơ hội và thách thức của các DNNVV trong bối cảnh hội nhập KTQT ở nước ta hiện nay 1.1.4.Những thuận lợi và khó khăn a. Thuận lợi - Dễ dàng khởi sự và hoạt động nhạy bén theo cơ chế thị trường do vốn ít, lao động không đòi hỏi chuyên môn cao, dễ hoạt động cũng như dễ rút lui ra khỏi lĩnh vực kinh doanh - Khả năng thích ứng nhanh với những biến động thị trường : với đặc tính chu kỳ sản phẩm ngắn các doanh nghiệp có thể mạnh dạn sử dụng vốn tự có, vay mượn bạn bè, các tổ chức tín dụng để khởi sự doanh nghiệp - Dễ dàng thu hút vốn lao động với chi phí thấp do đó tăng hiệu suất sử dụng vốn, đồng thời do tính chất dễ dàng thu hút lao động nên DNNVV góp phần đang kể tạo công ăn việc làm, giảm bớt thất nghiệp cho xã hội. - Dễ phát huy bản chất hợp tác sản xuất - Ít xảy ra xung đột giữa người lao động và người sử dụng lao động. Chủ doanh nghiệp có điều kiện đi sâu, đi sát tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp cũng như tâm tư nguyện vọng của người lao động, ít có khoảng cách lớn như với các doanh nghiệp lớn, nếu có xảy ra xung đột thì cũng dễ giải quyết - Dễ tạo ra sự phát triển cân bằng giữa các vùng: vì DNNVV có thể khởi sự và phát triển ở mọi nơi và mọi lúc để lấp khoảng trống của doanh nghiệp lớn, góp phần tạo ra sự cân bằng giữa các vùng. - Dễ phát huy tiềm lực của thị trường trong nước. Nước ta đang ở trong giai đoạn hạn chế nhập khẩu, vì vậy các doanh nghiệp có cơ hội lựa chọn các mặt hàng sản xuất thay thế hàng nhập khẩu với chi phí và vốn đầu tư thấp b.Khó khăn - Thiếu vốn, tiếp cận vốn ngân hàng khó khăn - Quy mô hạn chế, thiếu tính bền vững: về vốn, cơ sở vật chất, máy móc thiết bị… Môn Quản trị DNNVV Nhóm 2 _ HQ1CK5 7 Đề tài: Cơ hội và thách thức của các DNNVV trong bối cảnh hội nhập KTQT ở nước ta hiện nay - Đội ngũ cán bộ quản lý nhiều hạn chế về chuyên môn và kỹ năng quản lý, lao động chủ yếu là lao động phổ thông. - Năng lực ứng dụng công nghệ hạn chế, ít có khả năng tiếp cận với công nghệ mới… . - Thiếu mặt bằng sản xuất kinh doanh ổn định, lâu dài - Sự yếu kém về thương hiệu . Môn Quản trị DNNVV Nhóm 2 _ HQ1CK5 8 Đề tài: Cơ hội và thách thức của các DNNVV trong bối cảnh hội nhập KTQT ở nước ta hiện nay CHƯƠNG II: CƠ HỘI VÀ THÁCH CỦA DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP KTQT 2.1.Tổng quan về WTO Tổ chức thương mại thế giới (WTO) là tổ chức quốc tế duy nhất dàn xếp các quy định mang tính toàn cầu về thương mại giữa các quốc gia với nhau. Sự thoả thuận của WTO là trung tâm của nó, bởi nó được đàm phán và kí kết bởi số đông các quốc gia và được thông qua bởi các quốc hội. Mục tiêu là để giúp các nhà sản xuất hàng hoá và dịch vụ, các hàng xuất khẩu và nhập khẩu quản lí công việc kinh doanh của họ . Trụ sở WTO: Geneva, Thụy Sỹ Thành lập vào ngày 01 tháng 01 năm 1995, sau Vòng đàm phán Uruguay (1986-1994) Thành viên: có 151 thành viên (tính đến ngày 27 tháng 7 năm 2007) và 30 quan sát viên Ngân sách: 182 triệu francs Thụy Sỹ cho năm 2007 WTO điều tiết 85% hàng tiêu dùng toàn cầu, chiếm trên 93% tổng giao dịch thương mại thế giới Ban thư ký: 625 người Tổng giám đốc: ông Pascal Lamy WTO được thành lập trên cơ sở kế thừa và mở rộng phạm vi điều tiết thương mại quốc tế theo Hiệp định chung về Thuế quan Thương mại (tên tiếng Anh thương mại là: General Agreement on Tarif and Trade - Viết tắt là GATT) GATT ra đời trong trào lưu hình thành hàng loạt cơ chế đa biên điều tiết các hoạt động hợp tác kinh tế diễn ra sôi nổi sau chiến tranh thế giới thứ II năm 1945. 2.2. Những cơ hội và thách thức của hội nhập kinh tế quốc tế đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa Môn Quản trị DNNVV Nhóm 2 _ HQ1CK5 9 Đề tài: Cơ hội và thách thức của các DNNVV trong bối cảnh hội nhập KTQT ở nước ta hiện nay Hội nhập kinh tế quốc tế có tác động sâu rộng đến nền kinh tế,với bất kỳ quốc gia nào khi gia nhập WTO đều có nhũng tích cực và tiêu cực tạo nên các cơ hội và thách thức mới. Việc tìm hiểu tác động của hội nhập kinh tế quốc tế đối với các doanh nghiệp nói chung và với các doanh nghiệp nhỏ và vừa nói riêng có vai trò rất quan trọng, nó sẽ giúp cho các doanh nghiệp tận dụng được các cơ hội, phát huy thế mạnh đồng thời sẽ có những chiến lược phát triển lâu dài và toàn diện. những chuyển biến mới và có bước đổi mới tương đối tốt nhưng cũng có những tồn tại rất lớn nhất là các vấn đề về kinh tế hạ tầng, vấn đề kinh tế vĩ mô, vấn đề thể chế, chất lượng nguồn lực, thủ tục hành chính… và tất cả đều dồn cho DNNVV một hệ thống là yếu thế trong cạnh tranh, khả năng tiếp thu tiếp cận và khả năng đáp ứng trong cơ chế thị trường yếu hơn so với các DN khác. Thêm vào đó, năm 2011, DNNVV phải chống đỡ với lạm phát, hậu lạm phát do có độ trượt từ năm 2010 sang. Hơn thế nữa, đối với nước ta thì chịu ảnh hưởng từ hậu quả của thiên tai dịch bệnh bão lũ rình rập thường xuyên sẽ chuyển sang năm 2011 và đây cũng là thử thách rất lớn đối với DNNVV. Bên cạnh đó, bối cảnh nền kinh tế thế giới cũng phát sinh những yếu tố mới như việc phát triển không đều, việc có những mâu thuẫn mới nhất là mâu thuẫn trong tiền tệ và thương mại Trước tình hình đó, hệ thống DNNVV cũng phải có sự chuyển biến để có những thích nghi thông qua nỗ lực của bản thân DN, đóng góp của Hiệp hội và những hỗ trợ về mặt chính sách của cơ quan quản lý… 2.2.1. Những cơ hội của hội nhập kinh tế quốc tế đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ. - Với mục đích tự do hóa thương mại để trở thành thành viên của WTO các nước thành viên đã tiến hành xóa bỏ hàng rào phi thuế quan, giảm thuế quan nhập Môn Quản trị DNNVV Nhóm 2 _ HQ1CK5 10 Đề tài: Cơ hội và thách thức của các DNNVV trong bối cảnh hội nhập KTQT ở nước ta hiện nay khẩu một cách mạnh mẽ, minh bạch hóa các chính sách và thực hiện cạnh tranh công bằng, tạo nên 1 thị trường rộng lớn có điều kiện thương mại thuận lợi cho hàng xuất khẩu Việt Nam. Đặc biệt là thành viên của WTO hàng hóa xuất khẩu VIệt Nam được hưởng thuế quan ưu đãi từ các nước thành viên như EU, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Trung Quốc…là thị trường xuất khẩu chính của Việt Nam, hàng hóa xuất khẩu Việt Nam được hưởng mức thuế nhập khẩu thấp và được đối sử công bằng theo các hiệp định của WTO. Đây là một cơ hội thuận lợi để các doanh nghiệp nhỏ và vừa đấy mạnh xuất khẩu hàng hóa, dịch vụ ra thị trường thế giới - Đặc biệt Việt Nam rất có lợi thế về hàng dệt may và hàng nông nghiệp sẽ được hưởng lợi từ hiệp định về hàng dệt may và hiệp định về hàng nông nghiệp. Từ khi Trung Quốc là thành viên của WTO tiếng nói của các nước đang phát triển có hiệu lực hơn, việc đàm phán về mở cửa thị trường hàng nông sản sẽ thuận lợi hơn. Hàng dệt may và hàng nông sản là 2 mặt hàng mà các nước đang phát triển như Việt Nam. Từ năm 2005 mặt hàng dệt may đã được xóa bỏ hạn ngạch và theo hiệp định hàng nông nghiệp cũng như kết quả đàm phán tại vòng đàm phán Đôha các nước phát triển cũng đã cam kết mở cửa dần hàng nông sản. Đây là cơ hội lớn với các doanh nghiệp nhỏ và vừa hoạt động trong lĩnh vực xuất khẩu hàng dệt may và hàng nông sản nước ta. -Việt Nam là nước đang phát triển sẽ được hưởng các ưu đãi đặc biệt của WTO dành cho các nước đang phát triền. + Thực hiện lộ trình cam kết chậm hơn. + Được hỗ trợ về mặt kỹ thuật để thực hiện các hiệp định của WTO. + Các hàng xơ chế xuất khẩu sang các nước phát triển không phải chịu thuế hoặc thuế rất thấp mà hàng xuất khẩu của Việt Nam chủ yếu là hàng xơ chế, càng Môn Quản trị DNNVV Nhóm 2 _ HQ1CK5 11 Đề tài: Cơ hội và thách thức của các DNNVV trong bối cảnh hội nhập KTQT ở nước ta hiện nay tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu. - Tham gia WTO các doanh nghiệp có điều kiện nhập khẩu các thiết bị, công nghệ, nguyên vật liệu, dịch vụ có chất lượng với giá rẻ tạo điều kiện phát triển sản xuất, sản xuất hàng hóa có chất lượng giá rẻ có khẳ năng cạnh tranh trên thị trường trong nước và xuất khẩu. - Gia nhập WTO góp phần kích thích các doanh nghiệp trong nước nâng cao khả năng cạnh tranh, tạo động lực để các doanh nghiệp tự hoàn thiện và phát triển. + Vì điều kiện xuất khẩu thuận lợi hơn kích thích các doanh nghiệp đẩy mạnh sản xuất và xuất khẩu hàng hóa làm tăng mức sống tạo thêm việc làm tạo động lực phát triển nền kinh tế đất nước. Các điều kiện thuận lợi đó là: Hàng xuất khẩu phải chịu mức thuế quan ở nước nhập khẩu thấp tạo được khẳ năng cạnh tranh cho hàng xuất khẩu và tạo điều kiện tăng lợi nhuận. Thị trường rộng lớn và điều kiện tiếp cận thuận lợi hơn. Không bị giới hạn bởi hạn ngạch. + Mặt khác khi là thành viên của WTO nước ta phải cam kết mở cửa thị trường hàng hóa, dịch vụ nước ngoài có điều kiện thuận lợi xâm nhập thị trường Viêt Nam. Hàng hóa dịch vụ từ các nước phát triển được sản xuất bằng công nghệ hiện đại chô nên chất lượng cao, giá hạ, dịch vụ sau bán tốt, có khẳ năng cạnh tranh cao. Do đó các doanh nghiệp muốn tồn tại phát triển chiếm lĩnh thị trường trong nước buộc phải nâng cao cạnh tranh và tự hoàn thiện mình để cạnh tranh với hàng nhập khẩu. Đây là động lực tích cực nâng cao khẳ năng cạnh tranh cho doanh nghiệp. - Tham gia vào WTO tạo điều kiện để Việt Nam thu hút vốn đầu tư nước ngoài. Môn Quản trị DNNVV Nhóm 2 _ HQ1CK5 12 Đề tài: Cơ hội và thách thức của các DNNVV trong bối cảnh hội nhập KTQT ở nước ta hiện nay - Việt Nam có lợi không trực tiếp từ các yêu cầu của WTO về cải cách hệ thống pháp luật và chính sách cho phù hợp với hệ thống thương mại đa phương của WTO sẽ loại bỏ dần được các bất hợp lý trong thương mại. - Tham gia vào WTO Việt Nam có điều kiện tiếp cận với hệ thống tự vệ và giải quyết tranh chấp công bằng và có hiệu quả hơn của WTO, đặc biệt là khi tranh chấp với các quốc gia thương mại chính. Trong hoạt động thương mại quốc tế rất dễ xẩy ra các tranh chấp thương mại giữa các quốc gia mà khi giải quyết tranh chấp các quốc gia thương mại chưa phát triển dễ bị thiệt thòi hơn. Hệ thống giải quyết tranh chấp của WTO là hệ thống mở, tự động, được đánh giá là có hiệu quả đối với các nước đang phát triển tương đương như đối với nước phát triển , điều này có ý nghĩa đối với một nước đang phát triển như Việt Nam. 2.2.2. Những thách thức đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa Để là thành viên của WTO phải cam kết mở cửa thị trường hàng hóa và dịch vụ, tạo điều kiện để các thành viên tiếp cận thị trường hàng hóa và dịch vụ của Việt Nam đây là điều khó khăn cho các doanh nghiệp Việt Nam khi khả năng cạnh tranh còn yếu và rất hạn chế. Năm 2011 lại là năm thách thức mới cho các DNNVV. Trước tình hình đó, hệ thống DNNVV phải có sự chuyển biến để có những thích nghi mới, vai trò của Hiệp hội và những hỗ trợ về mặt chính sách của cơ quan quản lý…là những yếu tố quan trọng để tin chắc chắn rằng, các DNNVV sẽ có đóng góp tốt hơn và thành công hơn nữa. Thứ nhất: Chất lượng và khả năng cạnh tranh về mặt quản lý còn yếu kém. Đội ngũ chủ DN, giám đốc và cán bộ quản lý DNNVV còn nhiều hạn chế về kiến thức và kỹ năng quản lý. Số lượng DNNVV có chủ DN, giám đốc giỏi, trình độ chuyên môn cao và năng lực quản lý tốt chưa nhiều. Một bộ phận lớn chủ DN và Môn Quản trị DNNVV Nhóm 2 _ HQ1CK5 13 Đề tài: Cơ hội và thách thức của các DNNVV trong bối cảnh hội nhập KTQT ở nước ta hiện nay giám đốc doanh nghiệp tư nhân chưa được đào tạo bài bản về kinh doanh và quản lý, còn thiếu kiến kinh doanh quốc tế. Từ đó, khuynh hướng phổ biến là các DN hoạt động quản lý thức kinh tế - xã hội và kỹ năng quản trị kinh doanh, đặc biệt là yếu về năng lực theo kinh nghiệm, thiếu tầm nhìn chiến lược, thiếu kiến thức trên các phương diện: Quản lý tổ chức, chiến lược cạnh tranh, phát triển thương hiệu, sử dụng máy tính và công nghệ thông tin. Một số chủ DN mở công ty chỉ vì có sẵn tiền vốn và thích kinh doanh, trong khi đó thiếu kiến thức và kỹ năng về kinh doanh, vì vậy đã dẫn đến rủi ro và thất bại. Thứ hai: Năng xuất lao động thấp, chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm cao làm yếu khả năng cạnh tranh của các DNNVV. So sánh giữa sản phẩm trong nước với các nước như Trung Quốc, Thái Lan, Malaysia, Philipines,... thì các sản phẩm sản xuất của các DN Việt Nam có giá thành cao hơn từ 1,58 đến 9,25 lần mặc dù giá nhân công lao động thuộc loại thấp so với các nước trong khu vực. Thứ ba: Các doanh nghiệp nhỏ và vừa hiện nay do những hạn chế về quy mô nhỏ, chi phí sản xuất cao, kiểu dáng sản phẩm đơn điệu, chất lượng sản phẩm chưa cao và thiếu mạng lưới phân phối, tiếp thị nên các doanh nghiệp vừa và nhỏ rất khó tiếp cận trực tiếp được với thị trường nước ngoài. + Theo số liệu của Bộ Kế hoạch và Đầu tư và Tổng cục Thống kê, số lượng doanh nghiệp đăng ký mới (chủ yếu là doanh nghiệp vừa và nhỏ) đã là 97% trong tổng số gần 300000 doanh nghiệp, đóng góp khoảng 26% GDP, nhưng lượng doanh nghiệp có số vốn dưới 5 tỷ đồng còn chiếm tỷ lệ rất lớn + Mặc dù tăng nhanh về số lượng nhưng quy mô về vốn của các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong những năm gần đây lại rất thấp, mới ở mức trung bình trên 2 tỷ đồng/doanh nghiệp. Môn Quản trị DNNVV Nhóm 2 _ HQ1CK5 14 Đề tài: Cơ hội và thách thức của các DNNVV trong bối cảnh hội nhập KTQT ở nước ta hiện nay Như vậy, quy mô về vốn và lao động của doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam còn quá nhỏ so với quy mô doanh nghiệp thông thường của các nước phát triển và có nền kinh tế mới nổi. Đặc điểm này là bất lợi trong cạnh tranh của các doanh nghiệp nhỏ và vừa của Việt Nam hội nhập hoàn toàn vào WTO. - Bên cạnh đó, các doanh nghiệp vừa và nhỏ chủ yếu tập trung vào các ngành thương mại, sửa chữa động cơ, xe máy (chiếm 40,6% doanh nghiệp của cả nước), tiếp đến là các ngành chế biến (20,9%), xây dựng (13,2%) và các ngành còn lại như kinh doanh tài sản, tư vấn, khách sạn, nhà hàng (25,3%). Thứ tư: Nhận thức và sự chấp hành luật pháp còn hạn chế. Một số khá lớn DNNVV còn chưa chấp hành nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật, đặc biệt là các quy định về thuế, quản lý tài chính, quản lý nhân sự , chất lượng hàng hoá và sở hữu công nghiệp. Tình trạng các DNNVV bị các cơ quan chức năng phàn nàn, xử phạt vi phạm các chế độ về thuế, tài chính còn phổ biến. Nguyên nhân của tình trạng vi phạm pháp luật trong lĩnh vực này cũng là do việc nhận thức, hiểu biết của DN về luật pháp còn nhiều hạn chế. Tâm lý làm ăn chuôi vẫn còn khá phổ biến. Thứ năm: Phải có sự hỗ trợ của cộng đồng giúp đỡ các DN bằng cách trao đổi kinh nghiệm để cùng nhau sản xuất tốt hơn. Trong thời gian qua, Hiệp hội cũng đã tạo điều kiện để các DN có cơ hội trao đổi kinh nghiệm thông qua các hoạt động hội thảo, triển lãm... Thứ sáu: Sự yếu kém về thương hiệu đã góp phần làm yếu khả năng cạnh tranh. Hầu hết các DNNVV ở Việt Nam chưa xây dựng được các thương hiệu mạnh chưa khẳng định được uy tín và khả năng cạnh tranh trên thị trường khu vực và quốc tế. Nhiều DN ở Việt Nam, đặc biệt là các DNNVV chưa có chiến lược xây dựng thương hiệu, chưa tạo được uy tín về chất lượng sản phẩm và dịch vụ, do đó khả năng cạnh tranh còn yếu. Theo số liệu khảo sát của VCCI, chỉ có gần 10% số Môn Quản trị DNNVV Nhóm 2 _ HQ1CK5 15 Đề tài: Cơ hội và thách thức của các DNNVV trong bối cảnh hội nhập KTQT ở nước ta hiện nay doanh nghiệp là thường xuyên tìm hiểu thị trường nước ngoài và trong số này chủ yếu là các doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp có hoạt động xuất nhập khẩu; Khoảng 42% doanh nghiệp tìm hiểu thị trường nước ngoài không thường xuyên và khoảng 20% doanh nghiệp, chủ yếu là các doanh nghiệp nhỏ và vừa, không có các hoạt động tìm hiểu thị trường nước ngoài. Hội nhập quốc tế đã buộc các DN phải nâng cao khả năng cạnh tranh để đủ sức đứng vững trên thương trường. Năng lực của các nhà quản lý DN là một trong những nhân tố quan trọng nhất có ảnh hưởng quyết định đến khả năng cạnh tranh của DN. Doanh nhân ngày nay cần có những năng lực tổng hợp và ở mức độ cao hơn hẳn 5 năm trước; trong đó cần đặc biệt chú trọng bồi dưỡng kiến thức và kỹ năng về xây dựng và phát triển thương hiệu, về chiến lược cạnh tranh. Theo quy định của WTO, Việt Nam phải mở cửa thị trường bán lẻ cho các nhà phân phối nước ngoài, do đó, với quy mô lớn, mạng lưới phân phối toàn cầu và có tính chuyên nghiệp cao, các công ty nước ngoài sẽ là những đối thủ lớn, đe doạ sự tồn tại của nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ trong lĩnh vực thương mại của Việt Nam. Môn Quản trị DNNVV Nhóm 2 _ HQ1CK5 16 Đề tài: Cơ hội và thách thức của các DNNVV trong bối cảnh hội nhập KTQT ở nước ta hiện nay CHƯƠNG III: MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHO DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ KHI VIỆT NAM GIA NHẬP WTO Cộng đồng DN Việt Nam, trong đó có các DNNVV đã và đang đóng góp ngày càng quan trọng hơn trong công cuộc đổi mới và phát triển kinh tế của đất nước. Các DNNVV đang đứng trước những thách thức và cơ hội to lớn, đòi hỏi phải đáp ứng yêu cầu ngày càng gay gắt của cơ chế kinh tế thị trường và sức ép hội nhập quốc tế. Nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của các DNNVV Việt Nam trong bối cảnh hội nhập, các DN cần phải giải quyết một số vấn đề sau: Thứ nhất: Cần phải tăng cường năng lực quản trị của các giám đốc và cán bộ quản trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa Tăng khả năng cạnh tranh của các DN trong đó có DNNVV bằng cách nâng cao năng lực lãnh đạo của các chủ DN là yếu tố thiết yếu. Hai yếu tố thiết yếu hình thành năng lực tổng hợp của một doanh nhân đó là tố chất nghiệp chủ và năng lực quản lý.Tuy nhiên, ở nước ta trong nhiều trường hợp, một doanh nhân có được yếu tố thứ nhất lại thiếu yếu tố thứ hai; hoặc phát triển các yếu tố đó không đồng đều, không theo kịp sự phát triển nhanh chóng và sự đòi hỏi khắc nghiệt của hoạt động kinh doanh với mức độ cạnh tranh quốc tế hoá ngày càng cao. Để phát triển các năng lực nói trên, cần có sự nỗ lực của bản thân DN và sự hỗ trợ của các cơ quan, tổ chức hữu quan; nhưng sự chủ động, tích cực phấn đấu của bản thân mỗi giám đốc và nhà kinh doanh phải là nhân tố quyết định. Doanh nhân cần được chú trọng nâng cao những kỹ năng cần thiết và cập nhật những kiến thức hiện đại để đủ sức bước vào nền kinh tế tri thức. Một số kiến thức và kỹ năng có thể đã có nhưng cần được hệ thống hoá và cập nhật, trong đó, cần đặc biệt chú ý những kỹ năng hữu ích như: Kỹ năng quản trị hiệu quả trong môi trường cạnh tranh; kỹ năng lãnh đạo của Môn Quản trị DNNVV Nhóm 2 _ HQ1CK5 17 Đề tài: Cơ hội và thách thức của các DNNVV trong bối cảnh hội nhập KTQT ở nước ta hiện nay nghiệp chủ và giám đốc DN; kỹ năng quản lý sự thay đổi; kỹ năng thuyết trình, đàm phán, giao tiếp và quan hệ công chúng; kỹ năng quản lý thời gian. Những kỹ năng này kết hợp với các kiến thức quản trị có hiệu quả sẽ có tác động quyết định đối với các doanh nhân, các nghiệp chủ và các nhà quản lý DN trong đó có DNNVV, qua đó làm tăng khả năng cạnh tranh của các DN. Thứ hai: Phát triển năng lực quản trị chiến lược của cán bộ quản lý trong các DNNVV. Sự yếu kém về tầm nhìn chiến lược trong phát triển kinh doanh là một trong những nguyên nhân của sự thất bại trong phát triển dài hạn. Có DN hoạt động rất thành công ở quy mô nhỏ nhưng thất bại ngay khi bước vào giai đoạn mở rộng quy mô. Các DNNVV đều phải xây dựng khả năng phát triển một cách bền vững, nếu không sẽ khó trụ vững trong cuộc cạnh tranh. Những trường hợp DN phát triển rầm rộ trong một vài năm, sau đó suy yếu nhanh, thậm chí tan vỡ là các minh chứng. Để bồi dưỡng, phát triển năng lực quản lý chiến lược và tư duy chiến lược cho đội ngũ giám đốc và cán bộ kinh doanh trong các DNNVV, cần chú trọng đặc biệt những kỹ năng: Phân tích kinh doanh, dự đoán và định hướng chiến lược, lý thuyết và quản trị chiến lược, quản trị rủi ro và tính nhạy cảm trong quản lý. Về mặt chiến lược cạnh tranh, các DN Việt Nam còn rất yếu về liên kết nhóm, đặc biệt là trên phạm vi quốc gia. Vừa cạnh tranh vừa hợp tác, hợp tác để tăng cường khả năng cạnh tranh; nếu các DN chỉ thuần tuý chú ý đến mặt cạnh tranh mà bỏ qua mặt hợp tác thì rất sai lầm. Phải biết hợp tác đi đôi với cạnh tranh để giảm bớt căng thẳng và tăng cường năng lực cạnh tranh của DN. Thứ ba: Xây dựng hệ thống kế toán quản trị cho các DN Việt Nam và khuyến khích các DN áp dụng. Môn Quản trị DNNVV Nhóm 2 _ HQ1CK5 18 Đề tài: Cơ hội và thách thức của các DNNVV trong bối cảnh hội nhập KTQT ở nước ta hiện nay Hệ thống kế toán quản trị có thể giúp cho DN đánh giá được năng lực cạnh tranh của mình, giúp cho các chủ DN đưa ra các quyết định ngắn hạn và dài hạn một cách khoa học. Đồng thời có thể chỉ ra các nguyên nhân yếu kém trong khâu sản xuất, đánh giá được trách nhiệm quản lý của các bộ phận quản lý. Nó cho phép doanh nghiệp lập các dự toán sản xuất và kinh doanh, cung cấp thông tin cho việc ra quyết định của nhà quản trị nhanh chóng. Khi DNNVV phát triển mở rộng phạm vi hoạt động thì việc xây dựng hệ thống kế toán quản trị giúp các DN này dể dàng thích nghi. Và việc quản lý theo kiểu gia đình sẽ không còn phù hợp nữa, việc phát triển này là một tất yếu và phù hợp với xu thế phát triển của các DN. Thứ tư: Tăng cường vai trò của các hiệp hội, các câu lạc bộ giám đốc và các tổ chức chuyên môn đối với sự phát triển của các DNNVV. So với nhiều nước có nền kinh tế phát triển, vai trò của các hiệp hội chuyên ngành, các câu lạc bộ... ở nước ta trong việc giao lưu, xúc tiến thương mại, trao đổi thông tin và hỗ trợ phát triển chuyên môn còn hạn chế, mờ nhạt cả về số lượng, quy mô và nội dung hoạt động. Vì vậy cần chú trọng hơn nữa việc tổ chức các buổi trao đổi sinh hoạt, giới thiệu kinh nghiệm trong nước và quốc tế, cập nhật thông tin về ngành và về hoạt động kinh doanh. Những hoạt động đó tuy đơn giản nhưng rất bổ ích, tạo điều kiện phát triển và hoàn thiện năng lực của các giám đốc và cán bộ quản lý kinh doanh. Thứ năm: Bồi dưỡng khả năng kinh doanh quốc tế và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc tế của DNNVN Hiện nay, mặc dù đã có những bước tiến lớn nhưng nếu so với trình độ quốc tế thì hầu hết các DNNVV Việt Nam còn tụt hậu một khoảng cách đáng kể. Muốn Môn Quản trị DNNVV Nhóm 2 _ HQ1CK5 19 Đề tài: Cơ hội và thách thức của các DNNVV trong bối cảnh hội nhập KTQT ở nước ta hiện nay nâng cao năng lực cạnh tranh của các DN trên thương trường quốc tế thì chính bản thân các giám đốc và cán bộ quản lý DN trước hết cần tăng cường khả năng đó. Đây là đòn bẩy nhân tố con người trong các tổ chức kinh doanh. Điều này các doanh nhân và nhà quản lý trong các DNNVV có thể thực hiện được (bằng chứng là đã có những doanh nhân Việt Nam thành công trên thương trường quốc tế). Tuy nhiên, con số này còn quá ít và phát triển còn mang tính tự phát. Đã đến lúc ở cấp vĩ mô cần quan tâm có tính hệ thống nhằm tăng cường năng lực cạnh tranh quốc tế. Những kinh nghiệm và sự thành công của Hàn Quốc và Đài Loan trong lĩnh vực này rất đáng được chúng ta nghiên cứu và chọn lọc. Đối với giám đốc và nhà quản lý DN, để nâng cao khả năng làm việc và giao dịch quốc tế, tiếp cận các tiêu chuẩn, các thông lệ của thế giới thì cần chú trọng phát triển những kiến thức, kỹ năng chủ yếu như: - Năng lực về ngoại ngữ (mặc dù có thể sử dụng người phiên dịch nhưng cần có ngoại ngữ tối thiểu và nên hạn chế sự phụ thuộc hoàn toàn vào phiên dịch). Đ ây có lẽ là một trong những điểm đáng chú ý nhất đối với các DN ở nước ta, đặc biệt là các DNNVV - Kiến thức cơ bản về văn hoá, xã hội, lịch sử trong kinh doanh quốc tế. - Giao tiếp quốc tế và xử lý sự khác biệt về văn hoá trong kinh doanh. - Thông lệ quốc tế trong lĩnh vực /ngành kinh doanh. Thứ sáu: Tăng cường sự hỗ trợ của Chính phủ và các cơ quan quản lý nhà nước trong quá trình thúc đẩy sự phát triển của các DNNVV Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, mục tiêu của kế hoạch phát triển DNNV 2006- 2010 là đến năm 2010, các DNNVV tạo thêm được 2, 5 triệu chỗ làm việc mới, Môn Quản trị DNNVV Nhóm 2 _ HQ1CK5 20 Đề tài: Cơ hội và thách thức của các DNNVV trong bối cảnh hội nhập KTQT ở nước ta hiện nay xuất khẩu trực tiếp 3-6%. C

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfCơ hội và thách thức của các DNNVV trong bối cảnh hội nhập KTQT ở nước ta hiện nay.pdf
Tài liệu liên quan