Tiểu luận Vận dụng lý thuyết chủ nghĩa Mac-Lenin tìm hiểu về hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại Việt Nam

 

Mục lục

 

Lời mở đầu

Chương I: Lý luận chung về NHTM và hoạt động tín dụng ngân hàng

Ngân hàng thương mại

1. Khái niệm ngân hàng thương mại

2. Các nghiệp vụ của NHTM

II. Hoạt động tín dụng của NHTM

1. Khái niệm tín dụng ngân hàng

1.1. Định nghĩa tín dụng

1.2. Tín dụng ngân hàng

1.3. Đặc điểm của tín dụng ngân hàng

2. Phân loại tín dụng ngân hàng

3. Lãi suất tín dụng ngân hàng

3.1. Khái niệm

3.2. Các loại lãi suất tín dụng ngân hàng

4. Vai trò của tín dụng ngân hàng trong nền kinh tế thị trường

 

Chương II: Các yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến hoạt động tín dụng của NHTM và biểu hiện thực tế ở Việt Nam

I. Quy trình tín dụng

II. Các phương thức tín dụng

III. Lãi suất tín dụng

IV. Chính sách tín dụng

V. Rủi ro tín dụng

1. ảnh hưởng của rủi ro tín dụng đối với các NHTM

2. Nguyên nhân của rủi ro tín dụng

3. Một số nguyên tắc đảm bảo an toàn tín dụng

 

Chương III: Thực trạng hoạt động tín dụng trong các NHTM ở Việt Nam hiện nay và một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động tín dụng ngân hàng.

1. Một số kết quả đạt được

2. Những vấn đề còn tồn tại

3. Một số giải pháp khắc phục những vấn đề còn tồn tại và nâng cao hiệu quả của hoạt động tín dụng ngân hàng hiện nay

 

 

doc35 trang | Chia sẻ: maiphuongdc | Ngày: 06/09/2013 | Lượt xem: 2020 | Lượt tải: 4download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Tiểu luận Vận dụng lý thuyết chủ nghĩa Mac-Lenin tìm hiểu về hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại Việt Nam, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ệu quả của chúng trong phát triển tín dụng nói riêng và phát triển nền kinh tế nói chung. Thông thường hệ thống lãi suất trên thị trường có các loại lãi suất sau: - Lãi suất cơ bản: là lãi suất do ngân hàng trung ương công bố làm cơ sở cho các NHTM và các tổ chức tín dụng khác ấn định lãi suất kinh doanh. - Lãi suất sàn và lãi suất trần: là lãi suất thấp nhất và lãi suất cao nhất trong một khung lãi suất nào đó mà ngân hàng trung ương ấn định cho các NHTM hoặc do NHTM quy định trong hệ thống của nó nhằm thống nhất các hoạt động tín dụng trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân. - Lãi suất tái chiết khấu: là lãi suất cho vay ngắn hạn mà ngân hàng trung ương dành cho các NHTM, trong trường hợp cấp vốn cho chúng thông qua nghiệp vụ tái chiết khấu thương phiếu và giấy tờ có giá. Lãi suất tái chiết khấu là lãi suất gốc của các NHTM, để từ đó chúng ấn định lãi suất chiết khấu và lãi suất cho vay khác trong khung lãi suất được phép. - Lãi suất danh nghĩa và lãi suất thực: Lãi suất danh nghĩa là lãi suất mà người cho vay được hưởng, không tính đến sự biến động của giá trị tiền tệ, nó được xác định cho một kỳ hạn gửi hoặc vay, thể hiện trên quy ước giấy tờ được thoả thuận trước. Lãi suất thực là lãi suất sau khi đã loại trừ sự biến động của giá trị tiền tệ, như lạm phát hoặc lên giá tiền tệ. Do đó ta có công thức tính lãi suất thực như sau: Lãi suất thực= lãi suất danh nghĩa - tỷ lệ lạm phát dự đoán. Do vậy, lãi suất danh nghĩa luôn lớn hơn 0 nhưng lãi suất thực thì không phải lúc nào cũng dương, khi xảy ra lạm phát mà tỷ lệ lạm phát lại lớn hơn lãi suất danh nghĩa thì lúc đó lãi suất thực sẽ <0 điều này sẽ gây bất lợi cho người cho vay và người đi vay lại có lợi hơn. Chính lãi suất thực ảnh hưởng đến đầu tư, đến việc tái phân phối thu nhập giữa người cho vay và người đi vay, vì vậy ngân hàng chỉ thực sự thúc đẩy tích luỹ khi đưa ra được chính sách lãi suất thực dương. 4/ Vai trò của tín dụng ngân hàng trong nền kinh tế thị trường. 4.1/ Tín dụng ngân hàng góp phần thúc đẩy lực lượng sản xuất xã hội phát triển. Nhờ có nguồn vốn tín dụng của ngân hàng nên các doanh nghiệp có điều kiện bổ sung vốn thiếu hụt tạm thời hay mở rộng nguồn vốn đảm bảo được quá trình sản xuất bình thường và còn có thể mở rộng sản xuất, cải tiến kỹ thuật, áp dụng kỹ thuật công nghệ mới tăng tính cạnh tranh. Tín dụng đã giúp các doanh nghiệp đẩy nhanh quá trình sản xuất và tiêu thụ, tạo điều kiện để duy trì mối liên hệ hữu cơ giữa sản xuất, lưu thông hàng hoá và tiêu dùng xã hội. Ngày nay trong quá trình toàn cầu hoá, quan hệ quốc tế ngày càng tăng cường, mỗi quốc gia trở thành một bộ phận của thị trường thế giới, do đó tín dụng ngân hàng trên lĩnh vực tín dụng quốc tế cũng trở nên quan trọng giúp cho việc liên kết chuyển giao công nghệ giữa các nước trên thế giới được nhanh chóng, rút ngắn thời gian phát triển. Như vậy hoạt động tín dụng của các NHTM góp phần thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển nhanh chóng ngay cả trong nước và quốc tế. 4.2/ Tín dụng ngân hàng là công cụ tích tụ và tập trung vốn rất quan trọng, từ đó giúp cho việc tích tụ và tập trung sản xuất. Tín dụng ngân hàng tập trung các khoản tín dụng nhỏ lẻ thành các khoản vốn lớn, tạo khả năng đầu tư vào các công trình lớn hiệu quả cao. Đồng thời các doanh nghiệp cũng nhờ các khoản tín dụng mà có đủ vốn để mở rộng sản xuất rút ngắn thời gian tích luỹ vốn. Tóm lại, tín dụng đóng vai trò tích cực thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trung vốn cho sản xuất. Thông qua tín dụng ngân hàng các doanh nghiệp nhận được khối lượng vốn bổ sung rất lớn từ đó tăng quy mô sản xuất, tăng năng suất lao động, đổi mới thiết bị, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, tăng khả năng cạnh tranh làm cho doanh nghiệp lớn ngày càng lớn lên, doanh nghiệp nhỏ bị phá sản do không cạnh tranh nổi, từ đó các doanh nghiệp nhỏ phải liên kết với nhau tăng khả năng cạnh tranh, như vậy tín dụng đã góp phần thúc đẩy quá trình tập trung sản xuất. 4.3/ Tín dụng ngân hàng giúp cho việc điều hoà nguồn vốn góp phần ổn định thị trường tiền tệ, phát triển cân đối các ngành trong nền kinh tế quốc dân, và chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Thông qua tín dụng mà nguồn vốn dịch chuyển từ nơi thừa đến nơi thiếu, làm cho xã hội bớt lãng phí ở những nơi thừa vốn, giảm khó khăn ở nơi thiếu vốn, giúp cho việc sử dụng vốn có hiệu quả, góp phần làm cho tốc độ luân chuyển hàng hoá và tiền vốn tăng lên, tạo sự phát triển đồng đều trong các ngành. Việc điều hoà nguồn vốn, đồng thời thông qua khung lãi suất quy định giúp cho chính sách tiền tệ của Chính phủ được thực hiện, điều hoà lưu thông tiền tệ góp phần ổn định tiền tệ, và sự phát triển lành mạnh của thị trường tài chính tiền tệ. Hơn nữa, thông qua tín dụng ngân hàng, Chính phủ có những chính sách ưu tiên hỗ trợ phát triển các vùng, miền hay các ngành then chốt, trọng điểm nhờ vào việc đưa ra các ưu điểm tín dụng... do vậy đã kích thích thúc đẩy các doanh nghiệp đầu tư vào các vùng, ngành trọng điểm trong diện ưu tiên của Chính phủ, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo sự phát triển cân đối trong cả nước. CHƯƠNG II:CÁC YẾU TỐ CƠ BẢN ẢNH HƯỞNG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA NHTM VÀ THỰC TIỄN Ở VIỆT NAM. Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động tín dụng của NHTM, bao gồm cả yếu tố chủ quan và yếu tố khách quan, như: Môi trường kinh doanh, môi trường pháp luật, địa bàn hoạt động... Tuy nhiên trong chương này sẽ chỉ đề cập về một số yếu tố chủ quan, bản thân ngân hàng kiểm soát được có ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả và khả năng phát triển của hoạt động tín dụng trong các NHTM, và tình trạng của chúng trong thực tiễn ở Việt Nam như sau: I/ Quy trình tín dụng. Hoạt động cho vay là một hoạt động cơ bản của ngân hàng. Nó mang lại doanh thu và lợi nhuận cho ngân hàng tồn tại và phát triển. Tuy nhiên việc cho vay là một vấn đề không đơn giản, nó mang lại khá nhiều rủi ro, bất trắc, vì vậy để đảm bảo cho hoạt động này có hiệu quả tích cực thì cần phải đảm bảo thực hiện cho vay theo đúng quy trình thủ tục đã được quy định. Quy trình cho vay đối với các đối tượng khác nhau cũng khác nhau. Và ở Việt Nam có quy định cụ thể về quy trình cho vay đối với các tổ chức tín dụng như sau: 1/ Hình thành khoản vay. Đối với cá nhân thì hầu hết các khoản vay được bắt đầu bằng việc khách hàng xin vay vốn, họ đến gặp nhân viên ngân hàng và ghi những thông tin cần thiết vào đơn xin vay. Trong trường hợp cho vay kinh doanh, các doanh nghiệp thì thường bắt đầu bằng việc tiếp xúc giữa cán bộ tín dụng và đại diện các hãng. Đây chính là cơ hội đầu tiên để cán bộ ngân hàng tìm hiểu thông tin về doanh nghiệp và thuyết phục họ về một khoản vay. 2/ Xử lý yêu cầu vay vốn. Sau khi nhận được một yêu cầu vay vốn thì cán bộ ngân hàng cần xử lý yêu cầu vay vốn này. Với một khách hàng cá nhân thì anh ta cần trả lời đầy đủ các câu hỏi của cán bộ tín dụng, qua đó cán bộ có thể tìm hiểu về mục đích xin vay, tính cách và điều kiện, khả năng sử dụng vốn và khả năng trả nợ của khách hàng qua đó có thể chấp nhận hay từ chối khoản vay. Còn đối với doanh nghiệp, cán bộ tín dụng phải thu thập thông tin cần thiết về doanh nghiệp gồm các thông tin về quản lý, hành chính; thông tin về tình hình tài chính, về cá nhân; thông tin về khoản vay của doanh nghiệp. Việc thu thập thông tin không chỉ thông qua phỏng vấn, giấy tờ báo cáo của doanh nghiệp mà cán bộ còn phải đi xuống tận cơ sở sản xuất kinh doanh để quan sát, nghiên cứu. Ngoài ra còn phải điều tra thêm về các thông tin khác có liên quan đặc biệt là việc thực thi các quan hệ tín dụng trước đó của doanh nghiệp thông qua tiếp xúc với các chủ nợ trước đó. Xác định các thông tin doanh nghiệp để cung cấp và khám phá các thông tin mới cần thiết về hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Sau khi được xác định rõ thì ngân hàng còn có thể tư vấn cho khách hàng vay vốn về sự hợp lý của yêu cầu vay vốn và có thể gợi ý sự sửa đổi. 3/ Đưa ra quyết định cho vay. Sau khi đã tập hợp đầy đủ thông tin tài liệu thì bộ phận phân tích tín dụng sẽ tiến hành phân tích các báo cáo tài chính nhằm xác định xem dòng tiền và các tài sản dự phòng của khách có đủ hoàn trả món vay hay không, sau đó sẽ chuẩn bị một bản báo cáo tóm tắt có kèm theo kết quả phân tích để gửi cho người có thẩm quyền xem xét. Từ đó rút ra kết luận chính xác về điểm mạnh điểm yếu trong yêu cầu xin vay của khách hàng. Sau khi đã xem xét khoản vay, chính sách tín dụng và mục đích, mục tiêu của ngân hàng, cán bộ phải đưa ra một quyết định có nên cho vay hay không và doanh nghiệp phải được thông báo ngay lập tức. Nếu yêu cầu được chấp thuận cán bộ tín dụng phải trao cho người vay danh mục các chứng từ cần thiết để ký kết khoản vay và đưa ra ngày dự tính ký kết. 4/ Cấu trúc khoản vay, ký kết khoản vay. Sau khi đã đạt được thoả thuận vay vốn thì hai bên cần xây dựng một hợp đồng tín dụng làm sao cho phù hợp với tình hình riêng biệt cụ thể và đáp ứng được các yêu cầu của ngân hàng. Và cuối cùng là việc ký kết khoản vay. Trước khi ký kết cần phải chuẩn bị lập ra một danh mục kiểm tra toàn bộ các chứng từ tài liệu cần thiết, và ngày ký kết phải có đầy đủ 2 bên, và đảm bảo cả 2 đều phải hiểu cặn kẽ giấy tờ vay vốn. Việc ký kết khoản vay được quản lý tốt sẽ có tác dụng rất lớn trong việc thúc đẩy mối quan hệ làm ăn tốt giữa ngân hàng và doanh nghiệp. 5/ Kiểm soát khoản cho vay. Ký kết tín dụng chưa phải là đã kết thúc một quá trình cho vay mà ngân hàng còn phải tiếp tục theo dõi khoản cho vay này để đảm bảo rằng khách hàng sẽ thanh toán đầy đủ cả gốc và lãi như đã cam kết. Còn với các khoản cho vay thương mại lớn cán bộ tín dụng phải đến và kiểm tra công việc kinh doanh của khách hàng định kỳ, đồng thời phải tổ chức quá trình kiểm soát cẩn thận và nghiêm túc để đảm bảo xem xét và đánh giá được tất cả những đặc tính quan trọng nhất đối với khoản vay như: đánh giá quá trình thanh toán, đánh giá chất lượng, tình trạng của tài sản thế chấp, đánh giá sự thay đổi trong tình hình tài chính của người vay... Tiến hành theo dõi thường xuyên hơn đối với những khoản cho vay có vấn đề. 6/ Xử lý khoản vay có vấn đề. Mặc dù đã có những biện pháp quản lý an toàn áp dụng trong các chương trình cho vay song việc tồn tại các khoản cho vay có vấn đề là một thực tế không thể tránh khỏi, có nghĩa là người vay đã không thực hiện thanh toán đúng kế hoạch hay giá trị tài sản thế chấp đã sụt giảm đáng kể. Khi cán bộ tín dụng nhận ra khoản vay có vấn đề thường thì cán bộ tín dụng cần phải liên lạc với doanh nghiệp để giám sát khoản vay. Nếu ngân hàng và doanh nghiệp muốn sửa chữa khoản vay thì phải xác định được nguyên nhân của vấn đề và tìm ra giải pháp, khi kế hoạch sửa chữa đã được thiết lập thì ngân hàng phải giám sát việc thực hiện một cách liên tục, doanh nghiệp phải báo cáo thường xuyên và cả 2 bên cùng phải quan tâm tích cực và phải thường xuyên thận trọng phân tích kết quả của chương trình sửa chữa. Và thường thì ngân hàng chỉ tiến hành thủ tục pháp lý để thu hồi khoản nợ vay sau khi đã áp dụng các biện pháp chỉnh sửa mà không có hiệu quả. 7/ Thu nợ. Khi doanh nghiệp mất khả năng thanh toán theo các điều kiện của hợp đồng tín dụng thì cán bộ tín dụng phải lập ngay một kế hoạch thu nợ, sau đó thận trọng cân nhắc vạch ra các phương án khác nhau để có thể thực hiện điều đó. Thường thì ngân hàng thuyết phục khách hàng tự động bán tài sản thế chấp của mình, nếu không được thì ngân hàng sẽ tiến hành thu hồi tài sản cầm cố thế chấp và bán hoặc cho thuê tài sản này. Việc ngân hàng xử lý và bán lại tài sản làm đảm bảo phải chú ý thực hiện đúng mọi điều khoản luật pháp có liên quan, vì nếu không ngân hàng sẽ phải có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại xảy ra đối với khách hàng. Hạn chế ở Việt Nam: Đây là một quy trình rất cụ thể, nếu thực hiện tốt sẽ đảm bảo sự an toàn chắc chắn trong việc cho vay. Tuy nhiên, ở Việt Nam hiện nay việc áp dụng nó còn nhiều tồn tại như: thủ tục, giấy tờ còn rườm rà, nhất là đối với việc cho hộ nông dân vay, đó là những món vay nhỏ lẻ, địa bàn cư trú của người vay phân tán, trình độ dân trí thấp, nhu cầu vay vốn cao, vậy mà hồ sơ, quy trình thủ tục vay vốn của họ lại rất phức tạp, gây khó khăn cho người dân. Hay như, việc tuân thủ theo đúng quy trình của cán bộ tín dụng hoặc sự hợp tác của khách hàng vay vốn trong việc cung cấp thông tin, giám sát... cũng là một vấn đề bức xúc, do trình độ kém hay đạo đức nghề nghiệp khiến cho cán bộ tín dụng đôi khi không thực hiện đúng quy trình, hay khách hàng không hợp tác khiến cho việc cho vay gặp nhiều khó khăn và có thể dẫn đến rủi ro lớn. Nhất là hiện nay vấn đề nợ quá hạn, nợ khó đòi trong các NHTM là rất lớn, một phần là do quy trình thủ tục cho vay không được đảm bảo thực hiện đúng như quy định, đồng thời biện pháp thu hồi nợ sau khi cho vay trong các ngân hàng cũng chưa được xây dựng tổ chức tốt, vì vậy hiệu quả của các khoản tín dụng là rất thấp. Tình hình đó đòi hỏi các cán bộ tín dụng khi cho vay cần đảm bảo thực hiện đầy đủ và đảm bảo các bước trong quy trình cho vay mà các ngân hàng đều đ• cụ thể hóa trong các văn bản hướng dẫn của mình. II/ Các phương thức tín dụng. Nhìn chung các phương thức cấp tín dụng của NHTM có ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả của doanh nghiệp. Các ngân hàng mạnh không chỉ thể hiện ở chỗ cung ứng một khối lượng tín dụng to lớn cho thị trường mà là ở chỗ phương thức cấp tín dụng như thế nà.Nó quy định tổ chức tín dụng thoả thuận với khách hàng về phương thức cho vay phù hợp với nhu cầu sử dụng vốn vay và khả năng kiểm tra, giám sát việc khách hàng sử dụng vốn vay theo một trong các phương thức cho vay sau: 1. Cho vay từng lần: Mỗi lần vay vốn khách hàng và tổ chức tín dụng làm thủ tục vay vốn cần thiết và ký kết hợp đồng tín dụng. 2. Cho vay theo hạn mức tín dụng: Tổ chức tín dụng và khách hàng xác định và thoả thuận một hạn mức tín dụng duy trì trong thời hạn nhất định hoặc theo chu kỳ sản xuất, kinh doanh. 3. Cho vay theo dự án đầu tư: Tổ chức tín dụng cho khách hàng vay vốn để thực hiện các dự án đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và các dự án phục vụ đời sống. 4. Cho vay hợp vốn: Một nhóm tổ chức tín dụng cùng cho vay đối với một dự án vay vốn hoặc phương án vay vốn của khách hàng; trong đó, có một tổ chức tín dụng làm đầu mối dàn xếp, phối hợp với các tổ chức tín dụng khác. Việc cho vay hợp vốn thực hiện theo quy định của quy chế này và quy chế đồng tài trợ của các tổ chức tín dụng do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành. 5. Cho vay trả góp: Khi vay vốn, tổ chức tín dụng và khách hàng xác định và thoả thuận số lãi tiền vay phải trả cộng với số nợ gốc được chia ra để trả nợ theo nhiều kỳ hạn trong thời hạn cho vay, tài sản mua bằng vốn vay chỉ thuộc sở hữu của bên vay khi trả đủ nợ gốc và lãi. 6. Cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng: Tổ chức tín dụng cam kết đảm bảo sẵn sàng cho khách hàng vay vốn trong phạm vi hạn mức tín dụng nhất định. Tổ chức tín dụng và khách hàng thoả thuận thời hạn hiệu lực của hạn mức tín dụng dự phòng, mức phí trả cho hạn mức tín dụng dự phòng. 7. Cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng: Tổ chức tín dụng chấp thuận cho khách hàng được sử dụng số vốn vay trong phạm vi hạn mức tín dụng để thanh toán tiền mua hàng hoá, dịch vụ và rút tiền mặt tại máy rút tiền tự động hoặc điểm ứng tiền mặt là đại lý của tổ chức tín dụng. Khi cho vay phát hành và sử dụng thẻ tín dụng, tổ chức tín dụng và khách hàng phải tuân theo các quy định của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước về phát hành và sử dụng thẻ tín dụng. 8. Các phương thức cho vay khác phù hợp với quy định của Quy chế này và các quy định khác của Ngân hàng Nhà nước. * Tuy nhiên Quyết định 324 còn quy định khá chung chung, và đối với các NHTM việc áp dụng cụ thể như thế nào lại thuộc quyền hướng dẫn của mỗi ngân hàng, và tất nhiên có bao nhiêu ngân hàng sẽ có bấy nhiêu văn bản pháp lý khác nhau quy định cụ thể về các phương thức cho vay. Nhưng có những điều mà các NHTM lại không thích quy định cụ thể rõ ràng trong văn bản vì nếu thế sẽ bị mắc trong quá trình thực hiện hoặc sẽ không có chỗ "lùi" khi mà quy định của ngân hàng mình lại "chặt" hơn ngân hàng bạn do đó giảm khả năng cạnh tranh. Vì vậy qua thực tiễn hoạt động thì Ngân hàng Nhà nước nên sửa đổi quy định về phương thức cho vay theo hướng cụ thể hoá để thống nhất phương thức cho vay trong các tổ chức tín dụng là một vấn đề cấp thiết, không để tình trạng tự quy định dẫn đến sự sai lệch về phương thức cho vay và quản lý vốn vay như hiện nay. III/ Lãi suất tín dụng. Như ta đã biết lãi suất chính là giá của quyền được sử dụng vốn mà người sử dụng phải trả cho người sở hữu nó trong một thời gian nhất định. Cái giá đó sẽ quyết định việc khách hàng có vay hay không, do vậy nó ảnh hưởng đến khả năng tín dụng ngân hàng. Hiện nay ở Việt Nam sau khi Nhà nước chuyển sang điều hành theo lãi suất cơ bản từ 2/8/2000 thì các NHTM có thể chủ động linh hoạt thay đổi lãi suất cho phù hợp với mỗi trường hợp cụ thể, vì vậy đã dẫn đến hiện tượng cạnh tranh lãi suất làm lãi suất hạ rất thấp gây ra nhiều hiện tượng tiêu cực như "phá giá" lãi suất, gây áp lực cho các ngân hàng nhỏ, đồng thời môi trường hoạt động khó khăn...Vì vậy các NHTM muốn cạnh tranh thì cũng cần phải quan tâm đến các loại hình cho vay và các yếu tố ảnh hưởng đến lãi suất để có thể đưa ra những khung lãi suất các loại một cách đúng đắn sao cho đảm bảo được hiệu quả tín dụng, mở rộng tín dụng phải có lợi nhuận, đặc biệt quan tâm đến sự phát triển chung của nền kinh tế. IV/ Chính sách tín dụng. Một trong những phương pháp quan trọng nhất mà một ngân hàng có thể vận dụng để đảm bảo rằng các khoản cho vay của nó thoả mãn được những tiêu chuẩn do các cơ quan quản lý ngân hàng đặt ra là thiết lập một chính sách cho vay bằng văn bản. Mỗi một NHTM đều xây dựng cho mình một chính sách tín dụng riêng. Một chính sách tín dụng sẽ cung cấp cho cán bộ tín dụng và các nhà quản lý ngân hàng đường lối chỉ đạo cụ thể trong việc ra quyết định cho vay và xây dựng danh mục cho vay. Cấu trúc thực tế của danh mục cho vay sẽ phản ánh những gì mà chính sách cho vay của ngân hàng đặt ra. Nếu điều này không xảy ra thì đó là một chính sách cho vay không hiệu quả và nên xem xét lại. Thông thường một chính sách cho vay tốt gồm một số yếu tố quan trọng sau: - Một tuyên bố về tiêu chuẩn đối với danh mục cho vay của ngân hàng (ví dụ như nêu lên các đặc điểm của một danh mục cho vay chất lượng cao như loại hình, thời gian đáo hạn, quy mô và chất lượng của các khoản cho vay). - Một bản tiêu chuẩn chất lượng thích hợp áp dụng cho toàn bộ danh mục cho vay. Công bố mức giới hạn tối đa đối với tổng dư nợ. - Xác định rõ quyền hạn và trách nhiệm đối với cán bộ tín dụng và ban thẩm định tín dụng. Giới hạn về trách nhiệm trong việc thực hiện các nhiệm vụ được giao và trong việc thông báo thông tin trong phạm vi phòng tín dụng. - Những thủ tục và hoạt động cần thiết cho việc chào mời, xem xét, đánh giá và ra quyết định đối với đơn xin vay của khách hàng. - Những tài liệu được yêu cầu phải kèm theo đơn xin vay và phải được lưu lại trong hồ sơ tín dụng của ngân hàng (báo cáo tài chính, thoả thuận cam kết...). Những hướng dẫn về việc tiếp nhận, đánh giá và bảo quản tài sản thế chấp cho các món vay. - Một bản trình bầy về chính sách và thủ tục đối với việc xác định l•i suất cho vay, các khoản phí và thời hạn hoàn trả món vay. - Miêu tả rõ ràng thị trường tín dụng chính của ngân hàng. - Miêu tả các bước cần được tiến hành để phát hiện và phân tích những khoản cho vay có vấn đề... Một chính sách cho vay rõ ràng sẽ mang lại nhiều lợi thế và thuận lợi cho ngân hàng. Nó hướng dẫn cho đội ngũ nhân viên tín dụng các thủ tục, các bước phải tuân thủ và chỉ rõ phạm vi trách nhiệm của họ. Nó giúp cho ngân hàng hướng tới một danh mục cho vay hiệu quả, có thể đạt nhiều mục tiêu như tăng cường khả năng sinh lợi, hạn chế rủi ro và đáp ứng được những đòi hỏi của cơ quan quản lý. Đối với Việt Nam để phục vụ tốt cho mục tiêu phát triển kinh tế, chính sách tín dụng đã và đang được đổi mới đồng bộ và hữu hiệu đáp ứng các yêu cầu mới, tạo bước đột phá trong việc khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn nội lực và nguồn lực bên ngoài. Để nền kinh tế có tăng trưởng cao, chính sách tín dụng của các ngân hàng nên tập trung vào việc mở rộng đáp ứng các nhu cầu vay vốn có hiệu quả với phương châm không để các dự án đầu tư có hiệu quả bị thiếu vốn. Cơ cấu tín dụng cần tiếp tục chuyển dịch có lợi cho đầu tư và phát triển, tăng cường cho vay trung và dài hạn. Không ngừng nâng cao chất lượng tín dụng, giảm tỷ lệ nợ quá hạn và nợ khó đòi xuống mức lành mạnh theo tiêu chuẩn quốc tế, tăng vòng quay và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của xã hội. Tiếp tục mở rộng đối tượng cho vay đến tất cả các thành phần kinh tế, chú ý thích đáng việc cho vay đối với nông dân và các đối tượng chính sách góp phần khuyến khích phát triển kinh tế đồng đều giữa các vùng, địa phương. V/ Rủi ro tín dụng. Khi Việt Nam từ khi chuyển sang nền cơ chế thị trường, sự ra đời và phát triển các loại hình ngân hàng và các tổ chức tín dụng, tính đa dạng của các hoạt động và hình thức tín dụng đã tạo nên một thị trường tín dụng phong phú và sôi động. Nhưng điều đó cũng chứa đựng nhiều yếu tố rủi ro có thể xẩy ra với các ngân hàng và nhất là rủi ro tín dụng. Rủi ro tín dụng là tình trạng người đi vay không có khả năng hoàn trả được hoặc lãi hoặc gốc hoặc cả lãi và gốc một cách đầy đủ và đúng hạn. Nếu một khoản vay nào đó bị thất thoát, không thu hồi được, thì ngân hàng phải sử dụng nguồn vốn của mình để trả cho người gửi tiền. Vì vậy nếu xảy ra quá nhiều rủi ro trong hoạt động tín dụng mà ngân hàng phải dùng vốn của mình để trang trải cho các khoản thất thoát này thì đến một chừng mực nào đó sẽ không thể thực hiện việc "xoá sổ" những khoản thất thoát này nữa và ngân hàng có thể bị lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán cho người gửi tiền thậm chí dẫn đến phá sản. Trên thực tế, ở Việt Nam hiện nay việc tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc bảo đảm tín dụng là một vấn đề rất quan trọng để tránh được rủi ro tín dụng. Số liệu từ một đơn vị nghiệp vụ của Ngân hàng Nhà nước cho thấy, hết tháng 2/2011, dư nợ cho vay của khối ngân hàng cổ phần trên 1,2 triệu tỷ đồng, tương ứng trên 55% tổng dư nợ toàn hệ thống. Nếu so với tháng trước, tăng 2,16% và so với 31/12/2010, tăng 3,9%; trong đó, dư nợ VND chiếm trên 79% tổng dư nợ của khối này. Như vậy, trung bình mỗi tháng, tổng dư nợ khối ngân hàng cổ phần tăng trên 1,9% trong khi tỷ lệ này của cả hệ thống chỉ 1,76%. Đáng chú ý, trong số 39 ngân hàng của khối thì chỉ có 10 đơn vị có dư nợ giảm, còn lại đều tăng. Theo đánh giá chung của những người chuyên theo dõi nợ xấu ở các ngân hàng thương mại thì nợ dưới chuẩn của khối ngân hàng cổ phần không cao lắm, nếu so với mức trung bình chung cả hệ thống là 2,33% và đặc biệt là trong suốt 3 tháng: 12/2010, 1 - 2/2011, tỷ lệ nợ dưới chuẩn của khối này chỉ 1,67%/tổng dư nợ bình quân của khối, tương ứng với trên 42% tổng số nợ không đủ tiêu chuẩn toàn hệ thống.Dù vậy thì điều không vui là trong hai tháng liên tục, nợ không đủ tiêu chuẩn của khối này vẫn tăng, kể cả khi tín hiệu “thắt chặt tiền tệ” và giảm dư nợ cho vay của Ngân hàng Nhà nước đã được phát đi từ đầu năm. Như vậy rủi ro tín dụng ở Việt nam là rất lớn, đó là do việc chấp hành các nguyên tắc đảm bảo tín dụng còn lỏng lẻo như: chất lượng tín dụng của các NHTM còn thấp, tỷ lệ nợ quá hạn còn cao; việc quyết định cho vay còn chịu nhiều can thiệp từ bên ngoài, điển hình là việc các cơ quan chính quyền các cấp đề nghị, thậm chí yêu cầu ngân hàng phải đáp ứng nhu cầu về vốn nào đó vì quyền lợi của người vay...; hay các tài sản đảm bảo nợ vay khi phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì lại không thể hoán chuyển thành giá trị được, tức là không thể bán để thu hồi nợ khi các ngân hàng phát mại tài sản đó. hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng còn kém hiệu quả do nhiều lý do về trình độ, môi trường kinh doanh, pháp lý...; đồng thời môi trường kinh doanh của nước ta còn kém, doanh nghiệp làm ăn có lãi thì ít hơn là các doanh nghiệp sản xuất cầm chừng, không có lãi thậm chí lỗ, hay do pháp luật còn nhiều kẽ hở khiến nhiều doanh nghiệp gian lận, lừa đảo.Chính vì vậy việc nhận biết và nghiên cứu kỹ các nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng, các loại rủi ro, cách phát hiện, xử lý rủi ro cũng như đảm bảo thực hiện một cách nghiêm túc nguyên tắc an toàn tín dụng là những vấn đề hết sức quan trọng đối với các NHTM ở Việt Nam hiện nay. Các NHTM cần phải tăng cường các hoạt động này nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của mình cũng như hiệu quả hoạt động của nền kinh tế. CHƯƠNG III:THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TRONG NHTM VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÁC HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG. 1.Thực trạng tín dụng ở các NHTM Việt Nam. Nếu nhìn thực trạng và đi sâu phân tích vấn đề này ta thấy rằng: Hiện nay nếu xét về số lượng các tố chức tín dụng tại Việt Nam so với các nước phát triển trong khu vực và trên thế giới là và chênh lệch khá lớn ( số nhiều hơn). Nhưng vốn điều lệ của các tổ chức tín dụng tại Việt nam quá khiêm tốn. Mặt khác ta thấy rằng theo thống kê của ngân hàng thế giới các nước trong khu vực Đông Nam Á như : Thái Lan, SinGaPo hơn 80% khách hàng là cá

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docHoạt động tín dụng trong hệ thống ngân hàng thương mại việt nam.doc
Tài liệu liên quan