Tiểu luận Mối quan hệ giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội và vận dụng nguyên lý giải quyết vấn đề của thực tiễn

Mục lục:

A_Mở đầu Trang 1

B_Nội dung

1.Cơ sở lý luận của đề tài

1.1,Tồn tại xã hội và ý thức xã hội . 2

1.2,Mối quan hệ giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội . 2

2.Vận dụng nguyên lý giải quyết vấn đề của thực tiễn

2.1,Lịch sử hình thành tôn giáo 3

2.2,Bản chất, chức năng,và nguồn gốc của tôn giáo 5

2.2.1,Bản chất . 5

2.2.2,Nguồn gốc .6

2.2.3,Chức năng .7

2.3,Sự phát triển các loại tôn giáo .8

2.4,Sự phát triển tôn giáo ở Việt Nam . 9

2.5,Ảnh hưởng của các hệ tư tưởng tôn giáo .11

2.5.1,Mặt tích cực .11

2.5.2,Mặt tiêu cực .11

2.6,Ảnh hưởng của tôn giáo tới thế hệ trẻ .12

C_Kết luận .17

D_Tài liệu tham khảo . 18

 

 

doc19 trang | Chia sẻ: maiphuongdc | Ngày: 08/09/2013 | Lượt xem: 8556 | Lượt tải: 83download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Tiểu luận Mối quan hệ giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội và vận dụng nguyên lý giải quyết vấn đề của thực tiễn, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
tỏc động mạnh mẽ nhất. - í thức xó hội tỏc động trở lại tồn tại xó hội: í thức xó hội phản ỏnh đỳng tồn tại xó hội sẽ thỳc đẩy tồn tại xó hội phỏt triển, ý thức xó hội phản ỏnh sai tồn tại xó hội sẽ kỡm hóm sự phỏt triển. í thức xó hội phản ỏnh sao tồn tại xó hội sẽ kỡm hóm sự phỏt triển của tồn tại xó hội thụng qua hoạt động thực tiễn. 2,Vận dụng nguyờn lý giải quyết vấn đề của thực tiễn: 2.1, Lịch sử hình thành tôn giáo : 2.1.1,.Thời kì đầu : hình thành và phát triển dưới tư tưởng của chủ nghĩa duy tâm Có thể nói ngay từ khi xuất hiện loài người trên trái đất này thì tôn giáo cũng xuất hiện theo. Như Lênin đã viết : sự sợ hãi đã tạo ra thần linh, con người từ thuở đầu sơ khai vô cùng nhỏ bé và yếu ớt, họ cảm thấy kinh sợ trước sức mạnh của tự nhiên. Trong thế giới quan của họ thiên nhiên được cai quản bởi các vị thần : thần sấm, thần mưa, thần gió... được phác hoạ trong các cuốn Kinh thánh hay các cuốn sách như : Thần thoại Hi lạp, hay các sách kinh của các đạo Hinđu ( đạo của người ấn ).ví dụ như đạo Hinđu là một hệ thống tôn giáo - tín ngưỡng- triết học. Tôn giáo này quan niệm các vị thần cai quản thế giới này như indra( thần sấm ), Surya ( Thần mặt trời ), Varu ( Thần gió ), Agni ( Thần Lửa , Varuna ( thần không trung )... Con người không hề có sự tác động gì đối với thế giới họ đang sống do đó chỉ có cúng tế kêu cầu thì con người mới được Thần linh phù hộ trong mọi công việc. Chính vì vậy mà trên quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng thì : sự bất lực của con người trước những sức mạnh tự nhiên là nguyên nhân làm nảy sinh và tái hiện tôn giáo. Tôn giáo khi đó là một phần trong đời sống con người bởi nó đã bao gồm những sức mạnh nằm bên ngoài con người và được phản ánh vào trong thế giới quan của con người. 2.1.2,.Thời kì đã hình thành xã hội loài người có giai cấp : Cho đến khi con người thoát khỏi thời kì sơ khai, và đã có sự hình thành một xã hội loài người rõ rệt thì con người lại trở nên bất lực trước chính những vấn đề của xã hội đó gây ra cho họ. Họ tin vào những con người có sức mạnh toàn năng có thể che chở cho họ và đem lại cho họ cuộc sống hạnh phúc và họ tôn sung những con ngươi đó một cách tuyệt đối : đó có thể là Chúa Giê-su ( đạo Thiên chúa ), Thánh Allah ( đạo Hồi ) hay Đức Phật Thích ca ( đạo Phật ), khi đó tôn giáo bắt đầu được hình thành một cách rõ rệt . Điều đó ta có thể cho là tất nhiên : yếu thì cần phải được che chở, nhưng xét trên quan điểm duy vật biện chứng thì đó lại là một sai lầm : đó là sự tuyệt đối hoá, sự cường điệu một mặt nào đó của năng lực nhận thức, làm cho nhận thức của con người xa rời thế giới hiên thực dẫn đến sự phản ánh sai lầm, hư ảo thế giới đó. Xét về mặt nhận thức và xét trên cặp phạm trù tất nhiên-ngẫu nhiên ta cũng có thể hiểu một phần nào về sự hình thành tôn giáo : đó là do khi xã hội chưa phát triển con người vẫn còn nghèo đói và nhận thức của con người về tự nhiên... vẫn còn hạn hẹp thì sự ra đời của tôn giáo như một điều tất nhiên bởi mỗi tôn giáo đều có những tư tưởng riêng về giới tự nhiên cũng như con người. Con người là một trong “vạn vật ” nhưng đồng thời chớnh nú lại là quý giỏ nhất trong toàn bộ thế giới “vạn vật ” .Con người là một sinh vật cú năm bẩm tớnh tự nhiờn. Đú là : nhõn ,nghĩa, lễ, trớ, tớn . “Nhõn- là lũng nhõn ỏi,khỏc với bất nhõn ở chỗ khụng phải là người cú tõm ỏc” . Điều đú cú nghĩa là biết thương người ,yờu người . Nghĩa – là chớnh nghĩa đồng thời cũn là nghió vụ ,tức là thực hiện bổn phận của mỡnh .Lễ - là lễ độ cỏch cư xử tức là tuõn theo đạo để trưởng thành .Trớ - là sự hiểu biết ,tức là quan sỏt và nhận thức sõu , khụng lầm lẫn , nắm bắt cỏi huyền vi và tỡm tũi tõm lý . Tớn - là lũng chõn thành , là tớnh chõn thực tức là nhất mực trung thành với một ai hoặc một việc gỡ đú mà khụng dao động ,nghiờng ngả. Nếu nói sự ra đời của tôn giáo là một hiện tượng thì bản chất của nó cũng chỉ phản ánh sự yếu ớt của con người trước những vấn đề của tự nhiên và xã hội , bởi hầu hết các tôn giáo đều quan niệm đều coi bản thân con người là thực sự yếu ớt và nhỏ bé và luôn có một sức mạnh siêu nhiên nào đó để họ cầu cứu : Chúa trời, Thánh Alla, Đức Phật...như đã nói ở trên. 2.2,Bản chất ,nguồn gốc,và chức năng của tụn giỏo 2.2.1, Bản chất : Dựa trờn cơ sở của quan niệm duy vật về lịch sử , cũng như những quan niệm của C.Mỏc về tụn giỏo , Ph. Ăng-ghen đó đưa ra một định nghĩa về tụn giỏo từ gúc độ triết học như sau : “Nhưng tất cả mọi tụn giỏo chẳng qua chỉ là sự phản ỏnh hư ảo – vào đầu úc con người - của những lực lượng bờn ngoài chi phối cuộc sống hàng ngày của họ ; chỉ là sự phản ỏnh trong đú những lực lượng ở trần thế đó mang hỡnh thức những lực lượng siờu trần thế” . Định nghĩa này khụng những đó chỉ ra được bản chất của tụn giỏo mà cũn chỉ ra con đường hỡnh thành ý thức hay niềm tin tụn giỏo. Ở định nghĩa trờn chỳng ta thấy rằng ,Ph. Ănghen đó tiếp tục luận điểm cho rằng con người sỏng tạo ra tụn giỏo (tất nhiờn con người ở đõy là con người của hiện thực lịch sử ).Sự sỏng tạo ra tụn giỏo của con người được thực hiện thụng qua con đường nhận thức . Chủ thể tạo ra tụn giỏo là con người , đối tượng của sự phản ỏnh mà con người sỏng tạo ra tụn giỏo là sức mạnh ở bờn ngoài thống trị cuộc sống hàng ngày của con người ,cũn phương thức nhận thức để tạo ra tụn giỏo là phương thức hư ảo .Với chủ thể , đối tượng và phương thức của nhận thức như trờn thỡ kết quả là con người tạo ra cai siờunhiờn thần thỏnh trong đầu úc của mỡnh thuộc lĩnh vực ý thức ,niềm tin. Địnhnghĩa của PH. Ănghen về tụn giỏo tuy là định nghĩa cú tớnh chất bao quỏt về hiện tượng tụn giỏo ,là định nghĩa rộng những cũng đó chỉ rừ cỏi đặc trưng , cỏi bản chất của tụn giỏo đú là niềm tin hay thế giới quan hoang đường hư ảo của con người . Sự ra đời hiện tượng tụn giỏo với bản chất như trờn là tất yếu khỏch quan ,vỡ khi con ngưũi bị bất lực trước sức mạnh của thế giới bờn ngoài thỡ con người cần đến tụn giỏo nhằm bự đắp cho sự bất lực ấy . Điều đú cũng cú nghĩa là bản chất của tụn giỏo được thể hiện rừ nhất thụng qua chức năng đền bự hư ảo của nú . 2.2.2, Nguồn gốc : VI.Lờ-nin đó gọi toàn bộ những nguyờn nhõn và điều kiện tất yếu làm nảy sinh niềm tin tụn giỏo là những nguồn gốc của tụn giỏo .Nguồn gốc đú bao gồm : Nguồn gốc xó hội ,nguồn gốc nhận thức ,nguồn gốc tõm lý . Nguồn gốc xó hội của tụn giỏo là toàn bộ những nguyờn nhõn và điều kiện khỏch quan của đời sống xó hội tất yếu làm nảy sinh và tỏi hiện những niềm tin tụn giỏo .Trong đú cú một số nguyờn nhõn và điều kiện gắn với mối quan hệ giữa con người với con người .Chỳng ta thấy rằng ,sự thống trị của tự nhiờn đối với con người khụng phải được quyết định bởi những thuộc tớnh và quy luật của bản thõn giới tự nhiờn mà được quyết định bởi tớnh chất mối quan hệ của con người với tự nhiờn ,nghĩa là bởi sự phỏt triển kộm của lực lượng sản xuất xó hội mà trước hết là cụng cụ lao động .Như vậy khụng phải bản thõn giới tự nhiờn sinh ra tụn giỏo mà là mối quan hệ đặc thự của con người với tự nhiờn ,do trỡnh độ sản xuất quyếtđịnh . Nguồn gốc nhận thức của tụn giỏo cũng như mọi ý thức sai lầm chớnh là sự tuyệt đối hoỏ ,sự cương điệu mặt chủ thểcủa nhận thức con người(hay hỡnh thức chủ quan của nú),biến nú thành cỏi khụng cũn nội dung khỏch quan , khụng cũn cơ sở “thế gian” , nghĩa là thành cỏi siờu nhiờn thần thỏnh . Nguồn gốc tõm lý của tụn giỏo theo Phoiobac khụng chỉ bao gồm những tỡnh cảm tiờu cực (sự lệ thuộc sợ hói ,khụng thoả món , đau khổ ,cụ đơn ,..)mà cả những tỡnh cảm tớch cực (niềm vui ,sự thoả món,tỡnh yờu ,sự kớnh trọng …)khụng chỉ những tỡnh cảm ,mà cả những điều mong muốn , ước vọng ,nhu cầu khắc phục những tỡnh cảm tỡnh cảm tiờu cực muốn được đền bự hư ảo . 2.2.3, Chức năng xó hội của tụn giỏo Chủ nghĩa Mỏc cho rằng tụn giỏo là một hiện tượng xó hội ,nguồn gốc của nú là ở trong những điều kiện tồn tại vật chất của xó hội trong những giai đoạn phỏt triển xó hội nhất định ,nghĩa là ở cỏc mối quan hệ hạn chế của con người trước những sức mạnh tự nhiờn và đối với nhau. Sự bất lực của con người trước những sức mạnh tự nhiờn và xó hội đó nảy sinh ra nhu cầu đềnbự sự hạn chế của cỏc mối quan hệ hiện thực ,quan hệ “trần gian”-thế giới bờn kia. Vỡ thế cú thể gọi chức năng đền bự hư ảo là chức năng chủ yếu và đặc thự của tụn giỏo . Luận điểm nổi tiếng của C.Mỏc : “Tụn giỏo là thuốc phiện của nhõn dõn” đó làm nổi bật chức năng đền bự hư ảo . Giống như thuốc phiện tụn giỏo đó tạo ra cỏi vẻ bề ngoài của “sự làm nhẹ” tạm thời nỗi đau khổ của con người , an ủi cho những mất mỏt ,những thiếu hụt hiện thực của đời sống con người , đồng thời gõy ra những tỏc động cú hại đối với con người khi tạo ra ở họ nhu cầu thường xuyờn tỏch khỏi hiện thực ,tiờm nhiễm cho họ những quan niệm phản khoa học . Trong những điều kiện lịch sử cụ thể ,tụn giỏo thậm chớ cú thể là chỗ dựa tinh thần cho những ước muốn chõn chớnh của quần chỳng bị ỏp bức ,phục vụ cho lợi ớch của họ .Vớ dụ nú đó từng làm vỏ bọc tư tưởng của cỏc phong trào xó hội tiến bộ .Nhưng ở đõy nú vẫn khụng hề mất chức năng đền bự hư ảo ,vỡ hạt nhõn cơ bản của cỏc tụn giỏo -niềm tin vào cỏi siờu nhiờn –luụn luụn gõy tỏc động kỡm hóm đối với tớnh tớch cực của quần chỳng , chuyển hướng niềm tin và sự nỗ lực của họ vào con đường hư ảo . Chớnh vỡ vậy VI.Lờ nin đó nhấn mạnh : “Tụn giao là thuốc phiện đối với nhõn dõn – cõu núi đú của C.Mỏc là hũn đỏ tảng của toàn bộ quan điểm của chủ nghĩa Mỏc trong vấn đề tụn giỏo . 2.3, Cỏc loại tụn giỏo : Kiểu tụn giỏo hiện đại ra đời nhằm làm cho tụn giỏo phự hợp với sự phỏt triển mới của lịch sử xó hội . đặc trưng của kiểu tụn giỏo này là nú đó cú giỏo lý,giỏo luật,cú hệ thống lễ nghi thờ cỳng chặt chẽ , và đặc biệt là cú tổ chức - nghĩa là nú đó là một tiểu hệ thống kiến trỳc thượng tầng. Tụn giỏo dõn tộc (hay quốc gia) gắn liền với xó hội cú giai cấp đầu tiờn(xó hội chiếm hữu nụ lệ) điển hỡnh là tụn giỏo đa thần của Hy Lạp vị thần đứng đầu trong vạn thần miếu (Pantheon ) là thần Dớt -vị chỳa tể trờn trời , rồi đến cỏc vị thần như: thần biển (pụ-xờ-i-đụng),thần Tỡnh yờu và sắc đẹp (A-pho-ro-di-ta),thần Mặt trời (A-po-long)v.vv.. Đặc trưng của tụn giỏo dõn tộc là tớnh chất quốc gia , cỏc vị thần được tạo nờn do ảo tưởng tụn giỏo của nhõn dõn đều là những vị thần cú tớnh chất quốc gia , quyền lực của cỏc vị thần đú khụng vượt ra ngoài khu vực . Như C.Mỏc đó nhận xột “tụn giỏo chõn chớnh “của cỏc dõn tộc thời cổ là sự thờ cỳng mang “ tớnh quốc gia ” riờng ,”tớnh nhà nước riờng” . Chớnh vỡ cú mối quan hệ chặt chẽ giữa tụn giỏo dõn tộc với quốc gia dõn tộc mà khi nẩy sinh những vấn đề dõn tộc thường kộo theo vấn đề tụn giỏo. Tụn giỏo thế giới thường gắn với những bước ngoạt quan trọng trong lịch sử đụng chạm tới số phận đa số người .Vớ dụ : đạo Phật xuất hiện vào thế kỷ thứ VI – V trước cụng nguyờn là hệ tư tưởng của cỏc nhà nước chiếm hữu nụ lệ lớn nhằm thay thế đạo Bà la mụn là tụn giỏo cú tớnh chất thị tộc. Đạo Cơ đốc xuất hiện vào thế kỷ thứ I sau cụng nguyờn , ở cuối thời kỳ khủng hoảng kinh tể chớnh trị -xó hội của chế độ La Mó đa dõn tộc ,mở đầu cho sự ra đời chế độ xó hội mới-chế độ phong kiến . Đạo Hồi xuất hiện vào thế kỷ thứ VII sau cụng nguyờn gắn liền với cỏc bộ lạc A-ra-vin lờn chế độ phong kiến . Tụn giỏo thế giới thực hiện sự truyền bỏ đến mọi người (khụng phõn biệt giới , địa vị xó hội , đặc điểm dõn tộc hay chủng tộc),coi mọi người bỡnh đẳng thiờng liờng và cú chung một nhu cầu được giải thoỏt khỏi đau khổ.Cũn sự hưởng lạc ở thế giới bờn kia thỡ theo sự truyền bỏ của tụn giỏo thế giới ,khụng phụ thuộc vào địa vị xó hội của mỗi người như đối với cỏc tụn giỏo dõn tộc ,mà phụ thuộc vào đạo đức của giỏo dõn . 2.4,Về sự phỏt triển tụn giỏo ở Việt Nam : Vào nửa đầu những năm 70 của thế kỷ XX , ở Miền Nam Việt Nam người ta thống kờ được hơn 30 tụn giỏo Việt Nam ,trong đú cú 2 tụn giỏo cú số lượng tớn đồ đụng ,cú hệ thống giỏo lý tương đối chặt chẽ,cú hệ thống tổ chức,cũn tồn tại phỏt triển cho đến ngày nay , đú là đạo Cao Đài và đạo Hoà Hảo. Đạo Cao Đài hay “Đại đạo Tam kỳ Phổ Độ” là sự thống nhất của 5 ngành đạo :Nhõn đạo (đạo Khổng) ,Thần đạo (đạo thần của Trung Hoa ),Thỏnh đạo (đạo Cụng giỏo ),Tiờn đạo (đạo Lóo)và Phật đạo (đạo Phật).Thực chất đõy là sự vay mượn của cỏc tụn giỏo đó cú mặt ở Việt Nam để thu hỳt tớn đồ với tư cỏch là những cư dõn phức tạp ở vựng Nam Bộ . “Phổ độ” là cứu vớt (theo cỏch núi của Phật giỏo hay cứu vớt theo cỏch núi của Cụng giỏo ,Cũn “Tam Kỳ” được giải thớch là 3 thời kỳ lịch sử gắn với 3 lần cứu vớt chỳng sinh của Ngọc Hoàng thượng đế .Vỡ vậy vị thần cao nhất mà đạo Cao Đài tụn thờ là Ngọc Hoàng thượng đế (danh xưng Cao Đài ). Đạo Hoà Hảo ra đời năm 1939 ở làng Hoà Hảo ,quận Tõn Chõu ,tỉnh Chõu Đốc (An Giang ngày nay ). Đạo Hoà Hảo cũn gọi là Phật giỏo Hoà Hảo vỡ sự ra đời của nú xột về mặt tớn ngưỡng tụn giỏo ,thỡ nú là sự phỏt triển nối tiếp của Phật giỏo Việt Nam núi chung và của một số phỏi Phật giỏo ở Nam Bộ núi riờng . Đạo Hoà Hảo là sự truyền bỏ khộo lộo kết hợp giữa tư tưởng tụn giỏo với tinh thần chống thực dõn chống đế quốc ;kết hợp giữa truyền giỏo và chữa bệnh ,nờn cú sự thu hỳt lớn đối với quần chỳng nhõn dõn . Ngoài 2 đạo núi trờn Tụn giỏo Việt Nam khụng thể khụng kể đến sự phỏt triển của Phật giỏo ,Ki Tụ giỏo (đạo Thiờn Chỳa ), đạo tin lành (ở vựng dõn tộc thiểu số ), thờ cỳng tổ tiờn ( phổ biến nhất ) . Sau những thăng trầm của lịch sử ,năm 1981 Phật giỏo Việt Nam đó tiến hành đại Hội lần I thành lập một tổ chức thống nhất : Giỏo Hội Phật Giỏo Việt Nam với phương trõm hoạt động là : “Đạo Phỏp – Dõn tộc và Chủ Nghĩa Xó Hội ” . Hiện nay Phật giỏo cú khoảng 7 triệu tớn đồ và hơn 20 nghỡn nhà tu hành . Tớn đồ phật giao cú mặt ở 60/61 tỉnh thành. Vào những năm đầu của năm 1975 đất nước được thống nhất ,năm 1980 Hộ đồng Giỏm mục Việt Nam được thành lập và đó ra một bức thư chung xỏc định đường hướng hoật động của Giỏo Hội là: “Sống Phỳc õm trong lũng dõn tộc cựng đồng bào cả nước xõy dựng và bảo vệ Tổ quốc” .Hiện nay đạo Thiờn Chỳa cú khoảng 5 triệu tớn đồ cú mặt ở khắp mọi nơi ,tớn đồ đạo giỏo cú nhiều đúng gúp vào cụng cuộc xõy dựng và phỏt triển đất nước ,thực hiện phương chõm chống “ Tốt Đời - Đẹp Đạo ”. Thờ cỳng tổ tiờn : là loại hỡnh tớn ngưỡng tiờu biểu . Nếu xem xột thờ cỳng Tổ tiờn ở gúc độ truyền thống thỡ đú làtruyền thống nhớ ơn những người đó khuất thuộc về huyết tộc của mỡnh . Cũn xem xột thờ cỳng Tổ tiờn ở gúc độ tớn ngưỡng tụn giỏo thỡ thờ cỳng tổ tiờn liờn quan đến quan niệm về linh hồn ,về thế giới bờn kia,về cuộc sống sau khi chết . Ở gúc độ này thờ cỳng tổ tiờn là sự thờ cỳng vong linh của những người đó khuất để cầu mong sự che chở , sự giỳp đỡ ,sự phự hộ của những người đó khuất đối với những người đương sống. Biểu hiện của thờ cỳng Tổ tiờn qua ma chay , giỗ tết , trong những cụng việc trọng đại của gia đỡnh hay của một thành viờn trong gia đỡnh . 2.5, Ảnh hưởng của cỏc hệ tư tưởng và tụn giỏo: 2.5.1,Mặt tớch cực Hiện nay, trờn tinh thần đổi mới nhận thức về tụn giỏo, Đảng và Nhà nước ta đó nhận đinh tụn giỏo là nhu cầu của một bộ phận nhõn dõn, trong tụn giỏo cú những giỏ trị tốt đẹp về đạo đức, văn húa.Cỏc giỏo lý tụn giỏo đều chứa đựng một số giỏ trị đạo đức nhõn bản rất hữu ớch cho việc xõy dựng nền đạo đức mới và nhõn cỏch con người Việt Nam hiện nay. Giỏ trị lớn nhất của đạo đức tụn giỏo là gúp phần duy trỡ đạo đức xó hội, hoàn thiện nhõn cỏch cỏ nhõn, hướng con người đến Chõn - Thiện - Mỹ Trong Phỏt hiện ấn Độ, J.Nehru đó viết: "Rừ ràng là tụn giỏo đó đỏp ứng một nhu cầu trong tớnh chất con người và đa số người trờn thế giới đều khụng thể khụng cú một dạng tớn ngưỡng nào đú... Tụn giỏo đó đưa ra một loại giỏ trị cho cuộc sống con người, mà dự một số chuẩn mực ngày nay khụng cũn được ỏp dụng, thậm chớ cũn tai hại, nhưng những chuẩn mực khỏc vẫn cũn là cơ sở cho tinh thần và đạo đức". Vấn đề đặt ra là, cần nhận điện đỳng vai trũ của đạo đức tụn giỏo nhằm phỏt huy những giỏ trị tốt đẹp của tụn giỏo và hạn chế những tỏc động tiờu cực của nú đối với việc hoàn thiện nhõn cỏch con người hiện nay 2.5.2,Mặt tiờu cực . Tuy nhiờn, đạo đức tụn giỏo cũng cũn nhiều yếu tố tiờu cực, nú hướng con người đến hạnh phỳc hư ảo và làm mất tớnh chủ động, sỏng tạo của con người Khi đó tin vào tụn giỏo thỡ một số người trở nờn quỏ phụ thuộc,bị động ,và cú thể khụng kiểm soỏt được hành động của mỡnh.Đặc biệt thỡ cú một số người đó khụng hiểu hết tụn giỏo và họ trỏ thành những người trở nờn mờ tớn dị đoan.Trong khi tụn giỏo bự đắp hư ảo cho con người ,hướng con người đến cỏi thiện khi con người sợ hói đến sự tồn tại của mỡnh tụn giỏo vẽ ra những thế giới sau khi con ngườichết,trong khi đú thỡ mờ tớn đưa con người chỡm sõu vào sự u mờ khụng tin tưởng vào thế giới bờn ngoài ,bị thụ động. Về bản chất, chỳng ta khụng thể quờn rằng, thế giới quan tụn giỏo là thế giới quan tiờu cực. Một khi đó thõm nhập vào ý thức con người (cỏc tớn đồ, cỏc giỏo dõn và quần chỳng chịu ảnh hưởng của tụn giỏo), nú sẽ làm cho con người lóng quờn hiện thực, đặt tất cả tinh thần, tõm tưởng vào thần thỏnh hư ảo mà họ tin đú là giỏ trị đớch thực. Chức năng thế giới quan của tụn giỏo dẫn dắt cỏc tớn đồ theo một triết lý sống khụng hành động, khụng đấu tranh 2.6,Ảnh hưởng của phật giỏo tới thế hệ trẻ Ngày nay ở nước ta Phật giáo không còn ở vị trí chính thống Nhà trường ở các cấp học phổ thông không có chương trình giảng dạy lịch sử,vì thế phần lớn những hiểu biết của chúng ta về Phật giáo trước hết là chịu ảnh hưởng tự nhiên của gia đình, sau đó là từ bạn bè, thầy cô và những mối quan hệ xã hội khác. Trong đó ảnh hưởng của gia đình có tác động lớn lên mỗi chúng ta. Nếu trong mỗi gia đình mọi người đều theo đạo phật hoặc không theo một tôn giáo nào nhưng vẫn giữ tập tục quan trọng đi lễ chùa vào những ngày âm quan trọng như ngày Tết, lễ, rằm ... Người già thường nói chuyện với con cháu về Đức Phật, Bồ Tát, về đạo lý làm người dựa vào các giáo lý Phật giáo. Những suy nghĩ quan niệm này có thể phai nhạt, thậm chí đi ngược lại khi ta gặp một trào lưu tư tưởng mới, đem lại một thế giới quan mới từ trong môi trường gia đình chúng ta phần nào đó chịu ảnh hưởng của đạo phật nhưng không sâu sắc như các triều đại trước và mục đích tìm đến Đạo phật không còn mang tính hướng đạo chân chính như trước kia nữa. Do nhiều nguyên nhân nhưng trước hết do sự xâm nhập của nhiều trào lưu tư tưởng, học thuyết Phương Tây vào nước ta cách đây vài ba thế kỷ. Đặc biệt là sự giác ngộ lý luận Mác - Lênin, chủ nghĩa cộng sản của giai cấp công nhân và quần chúng nhân dân lao động đã tạo tiền đề xây dựng hệ thống tư tưởng, nguyên tắc hành động cho phong trào cách mạng của nhân dân Việt Nam, lấy đó làm vũ khí chính trị kết hợp với đấu tranh vũ trang. Đảng ta rất chú trọng việc truyền bá học thuyết này cho quần chúng nhân dân nhất là đối tượng thanh thiếu niên, những người chủ tương lai của đất nước. Chính vì vậy, thanh thiếu niên, chúng ta ngày nay khi rời ghế nhà trường được trang bị không những kiến thức để làm việc mà còn cả kiến thức về lý luận chính trị. Điều này giúp ta nhận thức được về cơ bản giữa mô hình lý tưởng nhân đạo của Phật giáo và chủ nghĩa cộng sản là: Một bên là duy tâm, một bên duy vật. Một bên diệt dục triệt để bằng ý chí và coi dục là căn nguyên của mọi tội lỗi, bên kia thì cố gắng thoả mãn nhu cầu ngày càng tăng của con người bằng lao động với năng suất và chất lượng cao nhằm cải tạo thế giới, coi nhằm cải tạo thế giới, coi đó là tiêu chuẩn đánh giá tính nhân đạo thực sự tiến bộ của xã hội, một bên hứa hẹn một mô hình niết bàn bình đẳng tự do cho tất cả mọi người, từ bi bác ái như nhau, không còn bị ràng buộc bởi các nhu cầu trần tục, còn bên kia khẳng định mô hình lý tưởng cho mọi người lao động, coi lao động là nhu cầu sống chứ không phải phương tiện sống, lao động không còn là nguồn gốc của khổ đau, qua lao động con người hoàn thiện cả bản thân và hoàn thiện cả xã hội. Đấy là những tư tưởng tiến bộ của chủ nghĩa Mác - Lê nin. Nó phù hợp với xu thế phát triển của thời đại, của xã hội. Do đó, nó nhanh chóng được thanh niên ủng hộ, tiếp thu. Do có một số quan điểm ngược lại nên tất yếu Phật giáo không còn giữ một vai trò như trước đây nữa. Mặt khác, với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, mọi lĩnh vực trong đời sống con người đều có bước nhayvọt. Xu thế toàn cầu hoá thể hiện ngày càng rõ nét. Điều kiện đó đòi hỏi con người phải hết sức năng động, nhanh nhạy nắm bắt vấn đề trong cuộc sống. Trong khi đó, theo giáo lý nhà Phật con người trở nên không có tham vọng tiến thân, bằng lòng với những gì mình đã có, sống nhẫn nhục, không đấu tranh, hướng tới cõi niết bàn khi cuộc sống trần gian đã chấm dứt. Như vậy đạo đức Phật giáo đã tách con người ra khỏi điều kiện thực tiễn của con người xã hội, làm cho con người có thái độ chấp nhận chứ không phải là cải tạo thế giới. Đạo đức xuất thể của Phật giáo là chạy trốn nhu cầu bản năng chứ không phải chế ngự thiên nhiên, bắt nó phục vụ cho mình. Các chương trình xã hội của Phật giáo không phải cải tạo lại điều kiện sống mà chỉ để cố san bằng xã hội bằng đạo đức, trong xã hội đó ai cũng từ bi, bác ái, hỉ xả, nhẫn nhục ... Đạo đức nhà Phật bị mất giá trị nhân đạo nhờ chính thái độ yếu thế này, khi những nhu cầu về thể xác bị coi là trần tục, kém đạo đức. Nhất là trong cuộc sống ngày nay, khi mà con người đã đạt được một trình độ nhất định, quan niệm trên càng không thể chấp nhận được. Do đó, ảnh hưởng của Phật giáo càng xa rời thế hệ trẻ. Chúng ta cũng nhận thấy rằng, ngày nay những người đi chùa hầu hết không có đủ tri thức về Phật giáo cho nên khó có thể giáo dục đạo Phật một cách tự giác, tích cực trong xã hội và gia đình. Phật giáo bác học cũng bị mai một nhiều, không còn phát huy vai trò hướng đạo. Các cao tăng chưa ý thức được hết vai trò của họ trong việc xây dựng hoàn thiện nhân cách con người Việt Nam. Chẳng hạn các buổi giảng kinh đàm đạo các buổi lễ trên chùa chưa được tổ chức theo tinh thần khai thác những tinh thuý của đạo lý Phật giáo, mà phần nhiều theo thị hiếu: Cầu an, giải hạn, cầu lộc ... của giới bình dân. Phật giáo bình dân cũng sa sút. Người dân lên chùa thường quá chú trọng đến lễ vật, đến các ham muốn tầm thường. Do không được giáo dục đầy đủ, đúng đắn giáo lý nhà Phật, số đông thanh thiếu niên đã đua theo thị hiếu của mọi người. Họ đến chùa cúng bái, thắp hương vái xin phật, Bồ Tát, La Hán phù hộ độ trì cho họ đạt được mong muốn của mình. Những mong muốn ấy thường là chuyện học hành, tình cảm, sức khoẻ, vật chất ... hoặc hơn nữa, họ coi đến chùa chỉ là hình thức đi chơi, giải trí với bạn bè kèm theo đó là sự thiếu nghiêm túc trong ăn mặc, đi đứng, nói năng. Số lượng học sinh, sinh viên nói riêng cũng như số lượng người dân đi chùa gần đây càng đông, song xem ra ý thức cầu thiện, cầu mạnh về nội tâm còn quá ít so với những mong muốn tư lợi. Có rất ít người đến chùa để tìm sự thanh thản trong tâm hồn, để tu dưỡng nghiền ngẫm đạo lý làm người, về thiện - ác. Như vậy mục đích đến chùa của người dân đã sai lầm, tầm thường hoá so với điều mà giáo lý nhà Phật muốn hướng con người ta vào. Nhưng ta cũng có thể thấy rằng những tư tưởng Phật giáo cũng có ảnh hưởng ít nhiều đến đời sống của thanh thiếu niên hiện nay. Như ở các trường phổ thông, các tổ chức đoàn, đội luôn phát động các phong trào nhân đạo như “ Lá lành đùm lá rách”., “ quỹ giúp bạn nghèo vượt khó” ,... Chính vì vậy ngay từ nhỏ các em học sinh đã được giáo dục tư tưởng nhân đạo, bác ái, giúp đỡ người khác mà cơ sở của nền tảng ấy là tư tưởng giáo lý nhà Phật đã hoà tan với giá trị truyền thống của con người Việt Nam. Lên đến cấp III và vào Đại học, những thanh thiếu niên có những hoạt động thiết thực hơn. Việc giúp đỡ người khác không phải hạn chế ở việc xin bố mẹ tiền để đóng góp mà có thể bằng chính kiến thức, sức lực của mình. Sự đồng cảm với những con người gặp khó khăn, những số phận bất hạnh cô đơn, cộng với truyền thống từ bi, bác ái đã giúp chúng ta, những học sinh, sinh viên còn ngồi trên ghế nhà trường có đủ nghị lực và tâm huyết để lập ra những kế hoạch, tham gia vào những hoạt động thiết thực như hội chữ thập đỏ, hội tình thương, các chương trình phổ cập văn hoá cho trẻ em nghèo, chăm nom các bà mẹ Việt Nam nghèo ... Hình ảnh hàng đoàn thanh niên, sinh viên hàng ngày vẫn lăn lội trên mọi nẻo đường tổ quốc góp phần xây dựng đất nước, tổ quốc ngày càng giàu mạnh thật đáng xúc động và tự hào. Tất cả những điều đó chứng tỏ thanh niên, sinh viên ngày nay không chỉ năng động, sáng tạo đầy tham vọng trong cuộc sống mà còn thừa hưởng những giá trị đạo đức tốt đẹp của ông cha, đó là sự thương yêu, đùm bọc lẫn nhau giữa mọi người, lòng thương yêu giúp đỡ mọi người qua cơn hoạn nạn mà không chút nghĩ suy, tính toán. Và ta không thể phủ nhận Phật giáo đã góp phần tạo nên những giá trị tốt đẹp ấy. Và ta càng phải nhắc đến giá trị đó trong khi cuộc sống ngày nay ngày càng xuất hiện những hiện tượng tiêu cực. Trong khi có những sinh viên còn khó khăn đã dồn hết sức mình để học tập cống hiến cho đất nước thì vẫn còn một số bộ phận thanh niên ăn chơi, đua đòi, làm tiêu tốn tiền bạc của cha mẹ và đất nước. Tối đến, người ta bắt gặp ở các quán Bar, sàn nhảy những cô chiêu, cậu ấm đang đốt tiền của bố mẹ vào những thú vui vô bổ. Rồi những học sinh, sinh viên lầm đường lỡ bước và

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docGiải quyết vấn đề của thực tiễn.DOC
Tài liệu liên quan