Tiểu luận Một số vấn đề lí luận và thực tiễn về động sản và bất động sản

Bảo vệ quyền sở hữu được hiểu là những biện pháp nhằm tác động bằng pháp luật đối với hành vi xử sự của con người qua đó bảo đảm cho chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp thực hiện các quyền sở hữu đối với tài sản thuộc quyền sở hữu, quyền chiếm hữu của mình. Trong luật dân sự quy định các phương pháp bảo vệ quyền sở hữu, các phương thức đó là các phương thức kiện dân sự.

Các phương thức kiện dân sự có ý nghĩa rất lớn đối với việc bảo vệ quyền của người chủ sở hữu hoặc người chiếm hữu hợp pháp. Một trong số các phương thức bảo vệ quyền sở hữu đó là kiện đòi tài sản. Khi xác định phương thức kiện dân sự đòi lại tài sản trong trường hợp tài sản thuộc sự chiếm hữu của người chiếm hữu ngay tình, với mỗi loại tài sản (động sản hoặc bất động sản) lại có những điều kiện để chủ thể có thể yêu cầu kiện đòi lại tài sản khác nhau. Những điều kiện đó được quy định tại Điều 257, 258 BLDS.

 

doc20 trang | Chia sẻ: maiphuongdc | Ngày: 02/10/2013 | Lượt xem: 903 | Lượt tải: 11download
Tóm tắt tài liệu Tiểu luận Một số vấn đề lí luận và thực tiễn về động sản và bất động sản, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
g hợp pháp luật có quý định khác. 2. Việc chuyển quyền sở hữu đối với động sản có hiệu lực kể từ thời điểm động sản được chuyển giao, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.” Theo quy định của điều này thì việc chuyển giao quyền sở hữu đối với bất động sản có hiệu lực từ thời điểm đăng lí quyền sở hữu, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Như vậy, đăng kí là điều kiện làm phát sinh hiệu lực của sự chuyển dịch quyền sở hữu và các quyền khác đối với bất động sản (ví dụ như quyền sử đụng đất), nếu không có đăng kí thì sự chuyển dich các quyền đó không có hiệu lực. Đối với động sản, theo quy định của khoản 2 Điều 168 BLDS, việc chuyển quyền sở hữu đối với động sản có hiệu lực kể từ thời điểm động sản được chuyển giao, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Nếu coi việc chiếm hữu công khai là cách biểu thị quyền sở hữu đối với động sản thì thời điểm việc chuyển quyền sở hữu đối với động sản có thể coi là thời điểm động sản được chuyển giao, người sở hữu mới chiếm hữu động sản. Xác định căn cứ xác lập quyền sở hữu. Quyền sở hữu là một quan hệ pháp luật dấn sự về sở hữu. Do đó, cũng giống như bất cứ một quan hệ pháp luật dân sự nào khác, quyền sở hữu phát sinh phải dựa trên những căn cứ pháp lí nhất định. Nó chỉ xuất hiện khi có những sự kiện thực tế mà BLDS có quy định ý nghĩa pháp lí đối với sự kiện đó. Căn cứ xác lập quyền sở hữu là những sự kiện pháp lí do pháp luật quy định mà khi xuất hiện những sự kiện đó thì quyền sở hữu của một chủ thể đối với tài sản sẽ được phát sinh. Việc xác định căn cứ xác lập quyền sở hữu có ý nghĩa pháp lí vô cùng quan trọng, bởi pháp luật chỉ công nhận và bảo vệ các quyền của chủ sở hữu nếu quyền đó được xác lập trên những căn cứ do pháp luật quy định. Việc xác lập quyền sở hữu trên những căn cứ được khái quát tại điều 170 BLDS mới được coi là quyền sở hữu hợp pháp. Việc phân loại tài sản thành động sản và bất động sản có ý nghĩa rất lớn đối với việc xác lập quyền sở hữu tài sản. Trong một số căn cứ xác lập quyền sở hữu, bản chất của tài sản có ý nghĩa quyết định, và có sự khác nhau rất lớn giữa tài sản là động sản và bất động sản. Ý nghĩa đó thể hiện qua một số điều luật sau. * Khoản 2, 3 Điều 236 BLDS quy định: “Khi một người sáp nhập tài sản là động sản của người khác vào tài sản là động sản của mình, mặc dù đã biết hoặc phải biết tài sản đó không phải là của mình và cũng không được sự đồng ý của chủ sở hữu tài sản bị sáp nhập thì chủ sở hữu tài sản bị sáp nhập có một trong các quyền sau đây: a) Yêu cầu người sáp nhập tài sản giao tài sản mới cho mình và thanh toán cho người sáp nhập giá trị tài sản của người đó; b) Yêu cầu người sáp nhập tài sản thanh toán giá trị phần tài sản của mình và bồi thường thiệt hại, nếu không nhận tài sản mới. 3. Khi một người sáp nhập tài sản là động sản của người khác vào tài sản là bất động sản của mình, mặc dù đã biết hoặc phải biết tài sản đó không phải là của mình và cũng không được sự đồng ý của chủ sở hữu tài sản bị sáp nhập thì chủ sở hữu tài sản bị sáp nhập có quyền yêu cầu người sáp nhập tài sản thanh toán giá trị phần tài sản của mình và bồi thường thiệt hại.” Khi xem xét đến vấn đề sáp nhập, trước hết chúng ta phải xét đến tài sản trước khi sáp nhập. Tài sản đem sáp nhập có thể là động sản hoặc bất động sản, và mỗi loại đều có ý nghĩa riêng: Khi sáp nhập động sản với động sản, tài sản sau khi sáp nhập có thể là động sản hoặc bất động sản. (Ví dụ như sáp nhập các linh kiện xe máy tạo thành chiếc xe máy hoàn chỉnh, sáp nhập vật liệu xây dựng thành ngôi nhà…) Khi sáp nhập các bất động sản với nhau, tài sản sau khi sáp nhập luôn luôn là bất động sản. Khi sáp nhập tài sản và động sản với tài sản là bất động sản, tài sản sau khi sáp nhập luôn luôn là bất động sản. Việc xác định tài sản trước khi sáp nhập có ý nghĩa trong việc xác định vật mới sau khi đã sáp nhập. Tài sản mới tạo thành thường là tài sản kết hợp giá trị sử dụng của các tài sản đem sáp nhập. Xác định tài sản là động sản hay bất động sản có ý nghĩa rất lớn trong việc xác định quyền sở hữu đối với tài sản mới sau khi sáp nhập. BLDS có quy định về sáp nhập tài sản là động sản với động sản, hoặc tài sản là động sản với tài sản là bất động sản. Đối với trường hợp một người đem sáp nhập tài sản là động sản của người khác với tài sản là động sản của mình, mà không có sự đồng ý của họ, thì quyền sở hữu đối với vật mới tạo thành có thể thuộc về chủ sở hữu tài sản bị đem sáp nhập hoặc thuộc về người sáp nhập, tuy theo sự lựa chọn của chủ sở hữu tài sản bị đem sáp nhập. Chủ sở hữu tài sản bị đem sáp nhập có thể yêu cầu người sáp nhập giao tài sản mới cho mình và thành toán cho người sáp nhập phần giá trị tài sản của người đó. Nếu không nhận tài sản mới tạo thành, thì chủ sở hữu tài sản đem sáp nhập có quyền yêu cầu người sáp nhập thanh toán giá trị tài sản của mình và bồi thường thiệt hại. Đối với trường hợp sáp nhập tài sản là động sản của người khác vào tài sản là bất động sản của mình, mặc dù chủ sở hữu (hoặc chủ sủ dụng) bất động sản đã biết hoặc phải biết động sản đem sát nhập đó không phải của mình và cũng không được sự đồng ý của chủ sở hữu động sản bị sát nhập thì chủ sở hữu động sản bị sát nhập có quyền yêu cầu người sát nhập thanh toán giá trị phần tài sản và bồi thường thiệt hại. Trên thực tế, trường hợp này xảy ra rất nhiều, khi chủ sở hữu động sản biết được việc tài sản của mình bị đem sáp nhập thì khó đòi lại được do sau khi sáp nhập, bất động sản là vật chính còn động sản là vật phụ, nên luật quy định như vậy là phù hợp với thực tế. * Điều 239 Xác lập quyền sở hữu đối với vật vô chủ, vật không xác định được chủ sở hữu quy định: “1. Vật vô chủ là vật mà chủ sở hữu đã từ bỏ quyền sở hữu đối với vật đó. Người đã phát hiện vật vô chủ là động sản thì có quyền sở hữu tài sản đó theo quy định của pháp luật; nếu vật được phát hiện là bất động sản thì thuộc Nhà nước. 2. Người phát hiện vật không xác định được ai là chủ sở hữu phải thông báo hoặc giao nộp cho Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn hoặc công an cơ sở gần nhất để thông báo công khai cho chủ sở hữu biết mà nhận lại. Việc giao nộp phải được lập biên bản, trong đó ghi rõ họ, tên, địa chỉ của người giao nộp, người nhận, tình trạng, số lượng, khối lượng tài sản giao nộp. Uỷ ban nhân dân hoặc công an cơ sở đã nhận vật phải thông báo cho người phát hiện về kết quả xác định chủ sở hữu. Trong trường hợp vật không xác định được ai là chủ sở hữu là động sản thì sau một năm, kể từ ngày thông báo công khai, mà vẫn không xác định được ai là chủ sở hữu thì động sản đó thuộc sở hữu của người phát hiện theo quy định của pháp luật; nếu vật là bất động sản thì sau năm năm, kể từ ngày thông báo công khai vẫn chưa xác định được ai là chủ sở hữu thì bất động sản đó thuộc Nhà nước; người phát hiện được hưởng một khoản tiền thưởng theo quy định của pháp luật.” Trong điều luật này quy định về xác lập quyền sở hữu đối với vật vô chủ và vật không xác định được chủ sở hữu. Đối với tài sản là động sản hay tài sản là bất động sản pháp luật đều có những quy định riêng, bởi sự khác nhau rõ ràng về tính chất của hai loại tài sản này. Vật chỉ được coi là vật vô chủ khi biết chắc chắn rằng, chủ sở hữu đã từ bỏ quyền sỏ hữu đối với vật đó. Sự từ bỏ quyền sở hữu được chủ sở hữu thực hiện bằng lời tuyên bố (bằng văn bản hay bằng miệng) hay bằng một hành vi cụ thể. Vật vô chủ, vật không xác định được ai là chủ sở hữu có thể là động sản hoặc bất động sản.Trong trường hợp người phát hiện ra vật vô chủ là động sản thì có quyền sở hữu đối với vật đó, nếu vật phát hiện là là bất động sản thì thuộc về Nhà nước. Nếu phát hiện một vật mà chưa có căn cứ để xác định rằng chủ sở hữu đã từ bỏ quyền sở hữu đối với vật đó, thì vật đó được coi là vật không xác định được ai là chủ sở hữu. Khi tìm ra vật không xác định được chủ sở hữu mà sau khi thực hiện đầy đủ các thủ tục tìm chủ sở hữu mà vẫn không xác định được chủ sở hữu của tài sản đó, thì Bộ luật dân sự áp dụng thời hiệu để xác lập quyền sở hữu như sau: Nếu tài sản là động sản thì thuộc sở hữu của người phát hiện sau một năm kể từ ngày thông báo công khai. Nếu tài sản là bất động sản, thì sau năm năm kể từ ngày thông báo công khai, bất động sản đó thuộc sở hữu nhà nước. * Khoản 1 Điều 247 xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu: “1. Người chiếm hữu, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình, liên tục, công khai trong thời hạn mười năm đối với động sản, ba mươi năm đối với bất động sản thì trở thành chủ sở hữu tài sản đó, kể từ thời điểm bắt đầu chiếm hữu, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.” Tại khoản 1 điều này quy đinh về xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu đối với trường hợp chiếm hữu tài sản không có căn cứ pháp luật, nhưng ngay tình, liên tục, công khai. Đối với những tài sản bị chiếm hữu với các đặc điểm nêu trên thì nếu việc chiếm hữu tài sản đó được thực hiện trong vòng mười năm đối với động sản và ba mươi năm đối với bất động sản thì người chiếm hữu hoặc được hưởng lợi từ tài sản sẽ trở thành chủ sở hữu đối với tài sản. Xác định phương thức bảo vệ quyền sở hữu. Bảo vệ quyền sở hữu được hiểu là những biện pháp nhằm tác động bằng pháp luật đối với hành vi xử sự của con người qua đó bảo đảm cho chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp thực hiện các quyền sở hữu đối với tài sản thuộc quyền sở hữu, quyền chiếm hữu của mình. Trong luật dân sự quy định các phương pháp bảo vệ quyền sở hữu, các phương thức đó là các phương thức kiện dân sự. Các phương thức kiện dân sự có ý nghĩa rất lớn đối với việc bảo vệ quyền của người chủ sở hữu hoặc người chiếm hữu hợp pháp. Một trong số các phương thức bảo vệ quyền sở hữu đó là kiện đòi tài sản. Khi xác định phương thức kiện dân sự đòi lại tài sản trong trường hợp tài sản thuộc sự chiếm hữu của người chiếm hữu ngay tình, với mỗi loại tài sản (động sản hoặc bất động sản) lại có những điều kiện để chủ thể có thể yêu cầu kiện đòi lại tài sản khác nhau. Những điều kiện đó được quy định tại Điều 257, 258 BLDS. Điều 257 BLDS quy định: “Chủ sở hữu có quyền đòi lại động sản không phải đăng kí quyền sở hữu từ người chiếm hữu ngay tình trong trường hợp người chiếm hữu ngay tình có được động sản này thông qua hợp đồng không có đền bù với người không có quyền định đoạt tài sản; trường hợp hợp đồng này là hợp đồng có đền bù thì chủ sở hữu có quyền đòi lại động sản nếu động sản đó bị lấy cắp, bị mất hoặc trường hợp khác bị chiếm hữu ngoài ý chí của chủ sở hữu”. Điều 258 BLDS quy định về quyền đòi lại động sản phải đăng ký quyền sở hữu hoặc bất động sản từ người chiếm hữu ngay tình: “Chủ sở hữu được đòi lại động sản phải đăng ký quyền sở hữu và bất động sản, trừ trường hợp người thứ ba chiếm hữu ngay tình nhận được tài sản này thông qua bán đấu giá hoặc giao dịch với người mà theo bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền là chủ sở hữu tài sản nhưng sau đó người này không phải là chủ sở hữu tài sản do bản án, quyết định bị huỷ, sửa”. Điều 257 và 258 BLDS quy định về đi quyền đòi lại động sản và bất động sản từ người chiếm hữu ngay tình. Ta có thể thấy sự khác nhau tương đối lớn giữa các điều kiện để đòi lại động sản không phải đăng kí quyền sở hữu với động sản phải đăng kí quyền sở hữu và bất động sản. Pháp luật quy định có sự khác nhau như vậy bởi tính chất khác nhau giữa các loại tài sản này. Đối với tài sản không phải đăng kí quyền sở hữu khó xác định được tài sản đó thuộc về ai nếu chúng không có các dấu hiệu của vật đặc định, vấn đề này xuất phát bởi tính chất của tài sản là động sản, nên dễ dàng có thể di chuyển chúng từ nơi này đến nơi khác (đối với tài sản là vật). Đối với trường hợp muốn đòi lại tài sản là động sản không phải đăng kí quyền sở hữu, chủ sở hữu phải có các căn cứ để xác định tài sản đó thuộc quyền sở hữu của mình (chẳng hạn hoá đơn mua bán tài sản trong đó có ghi số hiệu hoặc kí hiệu tài sản, hoặc dấu hiệu đặc trưng của tài sản…). Tài sản là động sản phải đăng kí quyền sở hữu và bất động sản pháp luật có quy định khác động sản không phải đăng kí quyền sở hữu vì các loại tài sản này thường là các tài sản có giá trị sử dụng lớn và chúng đều được đăng kí quyền sở hữu hoặc sử dụng nên dễ dàng xác định chủ sở hữu qua đăng kí. Như đã nêu ở phần trên, việc đăng kí đối với các loại tài sản này là thể hiện công khai quyền sở hữu, nên về nguyên tăc, ai là người đứng tến trong chứng nhận quyền sở hữu (hoặc giấy chứng nhận quyền sử dụng đối với tài sản là quyền sử dụng đất) thì người đó được pháp luật công nhận và bảo vệ quyền sở hữu (quyền sử dụng). Từ những tính chất khác biệt của các loại tài sản trên pháp luật đã quy định như sau về quyền đòi lại tài sản từ người chiếm hữu ngay tình. Điều 257 quy định về quyền đòi lại động sản không phải đăng kí từ người chiếm hữu ngay tình trong trường hợp người chiếm hữu ngay tình có được tài sản này thông qua hợp đồng không có đến bù với người không có quyền đinh đoạt tài sản. Ví dụ người chiếm hữu ngay tình được một người khác tặng cho động sản không phải đăng kí quyền sở hữu, nhưng người tặng lại không phải là người có quyền định đoạt đối với tài sản đó, thì người chủ sở hữu có quyền đòi lại tài sản này. Điều 257 BLDS cũng quy định rằng nếu người chiếm hữu ngay tình có được động sản không phải đăng kí thông qua hợp đồng có đền bù với người không phải chủ sở hữu tài sản thì chủ sở hữu tài sản chỉ có quyền đòi lại động sản không phải đăng kí nếu động sản đó bị lấy cắp, bị mất hoặc trường hợp bị chiếm hữu ngoài ý chí của chủ sở hữu. Ngoài những trường hợp đã nêu ở trên, chủ sở hữu không được đòi lại động sản không phải đăng kí quyền sở hữu từ người chiếm hữu ngay tình. Đối với tài sản là động sản phải đăng kí quyền sở hữu và bất động sản, quyền đòi lại loại tài sản này của chủ sở hữu từ người chiếm hữu ngay tình được quy định ở điều 258 BLDS. Điều luật này quy định, chủ sở hữu động sản phải đăng kí quyền sở hữu và bất động sản có quyền đòi lại tài sản từ người chiếm hữu ngay tình trừ trường hợp người chiếm hữu ngay tình nhận được tài sản này thông qua bán đấu giá hoặc giao dịch với người mà theo bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền là chủ sở hữu tài sản nhưng sau đó người này không phải là chủ sở hữu tài sản do bản án, quyết định bị huỷ, sửa. Như vậy, theo nguyên tắc chủ sở hữu có thể đòi lại động sản hoặc bất động sản đang đứng tên họ trong giấy chứng nhận quyền sở hữu từ người chiếm hữu ngay tình trừ trường hợp trong luật định bởi đối với tài sản phải đăng kí quyền sở hữu và bất động sản thì người có tên trong giấy chứng nhận quyền sở hữu là chủ sở hữu của tài sản, và được pháp luật bảo vệ quyền lợi. Xác định được các quyền năng của chủ thể đối với từng loại tài sản BLDS phân loại tài sản thành động sản và bất động sản, đối với mỗi loại tài sản, chủ thể lại có những quyền năng khác nhau. Đối với động sản, chủ sở hữu là người có quyền định đoạt, chiếm hữu, sử dụng. Người chủ sở hữu có thể uỷ quyền định đoạt, chiếm hữu, sử dụng cho người khác, hoặc chuyển một trong số các quyền này cho người khác thông qua giao dịch dân sự. Đối với bất động sản, với tính chất là tài sản gắn liền với đất đai, khó di dời và có giá trị sử dụng lớn, nên vấn đề chủ sở hữu, quyền sử dụng bất động sản được quy định rõ ràng và khác so với động sản. Đối với bất động sản là đất đai, pháp luật quy định đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước đại diện chủ sở hữu. Nhưng chủ thể sử dụng trực tiếp đất đai lại là những cá nhân, pháp nhân, hộ gia đình…, những chủ thể không có quyền sở hữu đất đai mà chỉ có quyền sử dụng. (Quy định tại Luật đất đai năm 2003, Điều 688 BLDS 2005…) Đối với bất động sản do đặc tính vật lí của nó là khó có thể di dời nên việc thực hiện quyền năng của quyền sở hữu, sử dụng đối với loại tài sản này sẽ gặp những hạn chế nhất định. Chính vì vậy, pháp luật đã ghi nhận cho các chủ thể có những quyền năng nhất định đối với tài sản của người khác đề bất động sản có thể khai thác được công dụng một cách tốt nhất đó là quyền sử dụng hạn chế bất động sản liền kề. Quyền sử dụng hạn chế bất động sản liền kề được quy định trong bộ luật dân sự từ Điều 273 đến Điều 278. Điều 273 BLDS 2005 quy định: “Chủ sở hữu nhà, người sử dụng đất có quyền sử dụng bất động sản liền kề thuộc sở hữu của người khác để bảo đảm các nhu cầu của mình về lối đi, cấp, thoát nước, cấp khí ga, đường dây tải điện, thông tin liên lạc và các nhu cầu cần thiết khác một cách hợp lý, nhưng phải đền bù, nếu không có thoả thuận khác.” Như vậy, quyền sử dụng hạn chế bất động sản liền kề bao gồm: Quyền về lối đi qua bất động sản liền kề (Điều 275). Quyền mắc đường dây tải điện thông tin liên lạc qua bất động sản liền kề (Điều 276). Quyền về cấp thoát nước qua bất động sản liền kề (Điều277). Quyền về tưới nước, tiêu nước trong canh tác (Điều278). Quyền sử dụng hạn chế hoặc các quyền liên quan khác với bất động sản liền kề được xác lập theo thoả thuận hoặc theo quy định của pháp luật (quy định tại Điều 274). Xác định địa điểm thực hiện nghĩa vụ dân sự trong trường hợp các bên không có thoả thuận. Khoản 2 Điều 284 BLDS 2005 quy định: “Trong trường hợp không có thoả thuận thì địa điểm thực hiện nghĩa vụ dân sự được xác định như sau: a) Nơi có bất động sản, nếu đối tượng của nghĩa vụ dân sự là bất động sản; b) Nơi cư trú hoặc trụ sở của bên có quyền, nếu đối tượng của nghĩa vụ dân sự không phải là bất động sản. Khi bên có quyền thay đổi nơi cư trú hoặc trụ sở thì phải báo cho bên có nghĩa vụ và phải chịu chi phí tăng lên do việc thay đổi nơi cư trú hoặc trụ sở, trừ trường hợp có thoả thuận khác” Điều luật này quy định về địa điểm thực hiện nghĩa vụ dân sự trong trường hợp các bên không có thoả thuận. Địa điểm thực hiện nghĩa vụ dân sự là khác nhau đối với từng trường hợp đối tượng của nghĩa vụ dấn sự là động sản hay bất động sản. Nếu là bất động sản thì địa điểm thực hiện nghĩa vụ là nơi có bất động sản còn nếu là động sản thì địa điểm thực hiện nghĩa vụ sẽ là nơi cư trú hoặc trụ sở của bên có quyền. Pháp luật quy định sự khác nhau như vậy bởi tính chất khó di dời của bất động sản và tính dễ di dời của động sản. Xác định hình thức của hợp đồng Hợp đồng dân sự là sự thoả thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự (Điều 388). Bản chất của hợp đồng là sự thoả thuận giữa ít nhất hai bên tham gia giao kết hợp đồng. Có nhiều loại hợp đồng dấn sự, mỗi loại hợp đồng dân sự lại có những quy định khác nhau về hình thức cụ thể của từng loại. Khi đối tượng của hợp đồng dân sự là các loại tài sản khác nhau thì những quy định về hình thức của hợp đồng cũng khác nhau. Bởi, đối tượng là bất động sản, giá trị sử dụng lớn, dễ xảy ra tranh chấp, những quy định về hình thức của hợp đồng dân sự khi đối tượng của hợp đồng là bất động sản thường quy định là hình thức văn bản, còn khi đối tượng của hợp đồng là động sản thì có thể là bằng lời nói hoặc văn bản. Những quy định này nhằm tạo điều kiện cho các bên tham gia giao kết hợp đồng dân sự có thể thực hiện dễ dàng, hạn chế tranh chấp, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho các bên. Khi đối tượng của hợp đồng dân sự là bất động sản thì pháp luật thường quy định hình thức của hợp đồng dân sự đó là hình thức văn bản. Cụ thể ở một số loại hợp đồng sau: Hình thức của hợp đồng mua bán nhà ở, nhà ở là bất động sản điển hình, pháp luật quy định cụ thể là hợp đồng mua bán nhà ở phải được lập thành văn bản có chứng nhận công chứng hoặc chứng thức, trừ trường hợp pháp luật có quy đinh khác. (theo Điều 450 BLDS 2005) Pháp luật quy định về bán đấu giá bất động sản là việc bán đấu giá bất động sản phải được lập thành văn bản, có công chứng, chứng thực hoặc phải được đăng kí, nếu pháp luật quy định (Khoản 5 Điều 459 BLDS 2005). Quy định về hình thức của hợp đồng tặng cho bất động sản là tặng cho bất động sản phải được lập thành văn bản có công chứng, chứng thực hoặc phải đăng ký, nếu theo quy định của pháp luật bất động sản phải đăng ký quyền sở hữu. (theo Khoản 1 Điều 467 BLDS 2005). Quy định về hình thức của hợp đồng thuê nhà ở: Hợp đồng thuê nhà ở phải được lập thành văn bản, nếu thời hạn thuê từ sáu tháng trở lên thì phải có công chứng hoặc chứng thực và phải đăng ký, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. (Điều 492 BLDS 2005). Xác định thời hạn, thời hiệu và các thủ tục khác trong hợp đồng dân sự: Việc phân loại tài sản thành động sản và bất động sản có ý nghĩa rất lớn trong việc xác định thời hạn, thời hiệu, và các thủ tục khác đối với hợp đồng dân sự. Mỗi loại tài sản lại có những đặc trưng riêng và khi chúng trở thành đối tượng của hợp đồng dân sự thì pháp luật cũng quy định khác nhau trong nhiều vấn đề của hợp đồng dân sự. Một số vấn đề đó là: Xác định thời hạn trong hợp đồng dân sự: thời hạn thông báo công khai tài sản bán đấu giá chậm nhất là bảy ngày đối với động sản, ba mươi ngày đối với bất động sản (Điều 457, BLDS 2005) Thời gian chuộc lại đối với tài sản đã bán trong hợp đồng mua bán có chuộc lại đối với động sản là một năm và đối với bất động sản là năm năm (Điều 462, BLDS 2005). Việc bán đấu giá bất động sản được thực hiện tại nơi có bất động sản hoặc nơi do người bán đấu giá xác định Sau khi có thông báo về việc bán đấu giá bất động sản, những người muốn mua phải đăng ký mua và phải nộp một khoản tiền đặt trước. Danh sách những người đăng ký mua được công bố công khai tại nơi bán đấu giá. Trong trường hợp mua được tài sản bán đấu giá thì khoản tiền đặt trước được trừ vào giá mua; nếu người mua từ chối mua thì không được hoàn trả khoản tiền đó. Người bán đấu giá phải hoàn trả khoản tiền đặt trước cho những người khác đã đăng ký mà không mua được tài sản bán đấu giá (Điều 459 BLDS 2005). Hợp đồng tặng cho động sản có hiệu lực khi bên được tặng cho nhận tài sản; đối với động sản mà pháp luật có quy định đăng ký quyền sở hữu thì hợp đồng tặng cho có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký (Điều 466, BLDS 2005). Một số vấn đề thực tiễn về động sản và bất động sản Bộ luật dân sự Việt Nam chia tài sản thành động sản và bất động sản. Đây là cách phân loại tài sản phổ biến và chủ yếu trên thế giới. Cách phân loại tài sản như vậy có nhiều ý nghĩa đối với việc xây dựng pháp luật cũng như áp dụng pháp luật vào thực tiễn. Khi áp dụng luật pháp vào thực tế cuộc sống, có nhiều vấn đề dễ dàng nảy sinh, những vấn đề ấy chính là những lỗ hổng, những vấn đề mà luật pháp chưa đáp ứng đước hết so với thực tế. Sau đây, em xin đưa ra một số vấn đề thực tiễn khi xem xét tài sản là động sản và bất động sản. Nói đến vấn đề khái niệm “động sản” và “ bất động sản”, cả hai Bộ luật dân sự của Việt Nam (năm 1995 và 2005) đều không đưa ra khái niệm về bất động sản hay động sản, mà chỉ liệt kê tài sản nào là bất động sản rồi bằng phương pháp loại trừ, Bộ luật dân sự quy định “động sản là những tài sản không phải là bất động sản” (khoản 2 Điều 174 BLDS 2005). Trên cơ sở của Điều 174 BLDS 2005 áp dụng vào thực tế, có những tài sản có thể chuyển từ bất động sản sang động sản và ngược lại. Ví dụ: các thiết bị trong nhà hay công trình xấy dựng khi được gắn chặt với ngôi nhà, hay công trình xây dựng thì các thiết bị này là động sản. Chúng ta có thể hiểu rằng, đây được là một khối bất động sản, bởi các tài sản này luôn được gắn chặt với đất đai, nhà ở hoặc các công trình xây dựng khác gắn với đất đai. Khi tháo rời các thiết bị này ra khỏi ngôi nhà hoặc công trình xây dựng, chúng bị mất đi tính chất của một bất động sản là “không di dời được”, vì vậy, chúng lại trở thành bất động sản. Tuy nhiên, chúng ta cũng cần nhận thấy rằng, Điều 174 BLDS 2005 về phân loại tài sản thành bất động sản và động sản cần có quy định hướng dẫn cụ thể hơn về các tài sản gắn liền với nhà và các công trình xây dựng phải có tính chất, mục đích, công dụng và mức độ “gắn liền” như thế nào thì mới được gọi là bất động sản. Trên thực tế, các bất động sản có thể được đem thế chấp để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ dân sự. Như vậy, một máy điều hoà gắn chặt với tường của một ngôi nhà, nhưng chủ sở hữu có thể đem thế chấp riêng máy điều hoà nhiệt độ để đảm bảo thi hành nghĩa vụ hay không? Một bức tranh gắn liền với tường của một ngôi nhà cũng không thể coi riêng bức tranh đó là bất động sản được. Nên chăng các thiết bị gắn trong nhà và các công trình xây dựng được coi là bất động sản không dựa vào tính chất không thể di dời được mà phụ thuộc vào công dụng của các tài sản này? Bởi tài sản này xét theo đặc điểm vật lí là động sản, nhưng nó lại được gắn vào bất động sản như là những yếu tố cần thiết cho việc khai thác bất động sản và tư động đi theo bất động sản trở thành bất động sản theo công dụng của chúng. Khi xét đến vấn đề đăng kí bất động sản và động sản, có nhiều vấn đề đã tồn tại nhiều năm ở nước ta được sửa đổi và thay đổi nhiều lần nhưng cho đến nay vẫn chưa phát huy hết tác dụng. Đó là các quy định về đăng kí bất động sản, tuy đã được đối mới với những quy định mới nhưng vẫn chưa đầy đủ, vẫn có nhiều điểm bất hợp lí như sau: Thứ nhất, trong một thời gian dài pháp luật hiện hành nước ta mới chỉ có các quy định về đăng kí quyền sử dụng đất, đăng kí nhà ở, đăng kí công trình xây dựng gắn liền với đất đai, còn chưa có quy định cụ thể về đăng kí các loại tài sản khác gắn liền với đất đai, tài sản gắn liền với nhà ở, công trình xây dựng. Việc chưa có quy định cụ thể như vậy,

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docBài tập lớn học kỳ luật dân sự 1- Một số vấn đề lí luận và thực tiễn về động sản và bất động sản.doc
Tài liệu liên quan