Tiểu luận Ngoại giao Việt Nam giai đoạn 1975-1985

Trong thời gian chiến tranh Việt Nam, do tác động tuyên truyền thuyến Domino của Mỹ, các nước ASEAN còn nghi ngờ chính sách hữu nghị của Việt Nam nhưng từ tháng 7/1976 nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam đã công bố chính sách 4 điểm đối với các nước Đông Nam Á mà tinh thần là hữu nghị, hợp tác, cùng tồn tại hoà bình trên cơ sở 5 nguyên tắc cùng tồn tại hoà bình và 10 nguyên tắc Bangdung, tiếp đó Thứ trưởng Ngoại giao, Bộ trưởng Ngoại giao và Thủ tướng nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam đã liên tiếp đi thăm hữu nghị các nước Đông Nam Á, quan hệ ngoại giao giữa các nước ASEAN và Việt Nam đã được kiến lập. Nhưng từ sau sự kiện 7/1/1990 sự có mặt của quân đội Việt Nam tại Campuchia đã làm cho các nước Đông Nam Á lo ngại. Trước hết Thái Lan, láng giềng trực tiếp của Campuchia, thì lo sợ Việt Nam đánh vào đất họ nhất là khi thực tế họ đang tiếp tay cho tàn quân Pôl Pốt, điều đó có thể hiểu được, các nước khác lo ngại chiến tranh có thể mở rộng, phá hoại môi trường hoà bình, đe doạ an ninh của họ.

 

docx24 trang | Chia sẻ: maiphuongdc | Ngày: 15/01/2014 | Lượt xem: 4422 | Lượt tải: 34download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Tiểu luận Ngoại giao Việt Nam giai đoạn 1975-1985, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ký Hiệp ước hoà bình, hữu nghị và hợp tác giữa hai nước ngày 18 tháng 2 năm 1979, Hiệp ước hoạch định biên giới quốc gia giữa hai nước này 30/12/1985. Đông Nam á là một khu vực chiến lược hết sức quan trọng lại bao gồm cả ba nước Đông Dương. Đây là khu vực có phong trào cách mạng mạnh mẽ nhưng cũng là nơi giành giật quyền lợi và ảnh hưởng giữa các nước lớn. Một số nước Đông Nam á dính líu vào cuộc chiến tranh Việt Nam. Sau khi ta giải phóng miền Nam mà Mỹ đành khoanh tay đứng nhìn, cacns ASEAN lo sợ thuyết Domino của Mỹ sẽ ứng nghiệm. Tháng giêng năm 1976, Hội nghị ngoại giao lần thứ 12 nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã nêu nhiệm vụ “phấn đấu cho một Đông Nam á độc lập, hoà bình, trung lập không có quân đội và căn cứ của đế quốc, đonà kết hợp tác với các nước dân tộc chủ nghĩa trước hết là các nước không liên kết, tích cực trên lập trường đế quốc thực dân”. Dù nó chứng tỏ ta chưa hiểu rõ tình hình các nước Đông Nam á và còn mang nặng tư tưởng hai phe thời chiến tranh lạnh, chủ trương đó đã nói lên rõ ràng chính sách hoà bình và lòng mong muốn hợp tác của nước ta đối với các nước Đông Nam á nói chung và các nước ASEAN nói riêng. Ngày 5/7/1976, ngay sau khi nước ta đã thống nhất về mặt Nhà nước với lòng mong muốn chân thành hội nhập với khu vực, Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Duy Trinh đã nêu chính sách 4 quan điểm của nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam đối với các nước Đông Nam á. Tôn trọngđộc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của nhau, không xâm lược nhau, không can thiệp công việc nội bộ của nhau, bình đẳng, cùng có lợi, cùng tồn tại trong hoà bình. Không để lãnh thổ nước mình cho bất cứ nước ngoài nào sử dụng làm căn cứ xâm lược và can thiệp trực tiếp hoặc gián tiếp vào nước kia và các nước khác trong khu vực. Thiết lập quan hệ hữu nghị láng giềng tốt, hợp tác kinh tế và trao đổi văn hoá trên cơ sở bình đẳng cùng có lợi. Giải quyết những vấn đề tranh chấp giữa các nước trong khu vực thông qua thương lượng theo tinh thần bình đẳng, hiểu biết và tôn trọng lẫn nhau. Phát triển sự hợp tác giữa các nước trong khu vực vì sự nghiệp xây dựng đất nước phồn vinh theo điều kiện của mỗi nước, vì lợi ích của độc lập, hoà bình, trung lập thật sự ở Đông Nam á, góp phần vào sự nghiệp hoà bình trên thế giới. Chính sách 4 điểm phù hợp với những nguyên tắc của Hiệp ước Bali do đó được các nước ASEAN hoan nghênh và trên cơ sở đó ta đã thiết lập quan hệ ngoại giao với Philippin ngày 12/7/1976, với Thái Lan ngày 6/8/1976. Với Inđônêsia ta đã có quan hệ ngoại giao từ năm 1964, với Malaysia và Singgapore từ sau Hiệp định Paris về Việt Nam năm 1973. Bước khởi đầu tốt đẹp này của quan hệ Việt Nam ASEAN trùng hợp với lúc Mỹ chủ trương bình thường hoá không điều kiện quan hệ với Việt Nam có thể là nhân tố tích cực để ổn định tình hình ở Đông Dương. Tiếc rằng tình hình đã xấu đi với những hậu quả nặng nề. Đối với các nước đang phát triển nói chung và đặc biệt là các nước không liên kết ta cố gắng phát huy vai trò của Việt Nam trên vũ đài quốc tế, góp phần làm cho phong trào không liên kết củng cố và tiếp tục đi đúng hướng chống đế quốc và thực dân, hạn chế tác động của mâu thuẫn Xô - Trung đối với phong trào, phát triển hợp tác kinh tế, tranh thủ sự giúp đỡ của các nước không liên kết để phục vụ kế hoạch năm năm 1976-1980. Những năm 70 thế giới tư bản bị khủng hoảng về kinh tế trầm trọng và kéo dài, các nước đế quốc mâu thuẫn với nhau gay gắt, tranh giành nguyên liệu và thị trường. Ta đã lợi dụng tình hình thuận lợi đó mở rộng quan hệ với các nước tư bản phát triển để tranh thủ vốn và kỹ thuật: Pháp, Nhật Bản… Ta vẫn coi đế quốc Mỹ là kẻ thù cơ bản, lâu dài và nguy hiểm nhất, vẫn đề phòng Mỹ có kế hoạch hậu chiến. Ta kiên quyết đặt điều kiện về bình thường hoá quan hệ Việt Mỹ là Mỹ phải th hành thoả thuận về đóng góp hàn gắn vết thương chiến tranh. Năm 1975-1976 Mỹ nói không th bồi thường chiến tranh cho Việt Nam vì Việt Nam đã vi phạm Hiệp định Paris. Nhưng đầu năm 1977 sau khi vào nhà trắng, tổng thống Jimmy Carter coi bình thường hoá quan hệ với Việt Nam là một “biểu tượng” nhằm chấm dứt sự chia rẽ bên trong và phục hồi uy tién của Mỹ ở bên ngoài. Tháng 3/1977 phái đoàn Woodcock sang Hà Nội để thăm dò khả năng bình thường hoá quan hệ với Việt Nam và cho rằng Việt Nam sẵn sàng bình thường hoá quan hệ không điều kiện với sự hiểu biết rằng sau khi quan hệ đã bình thường hoá thì Mỹ sẽ viện trợ. Tháng 5 rồi tháng 12/1977, hai biên tiến hành đàm phán về vấn đề bình thường hoá quan hệ nhưng không đạt được thoả thuận nào. Tuy vậy, Mỹ đồng ý không cản trợ Việt Nam ra nhập Liên hợp quốc. Nhưng từ giữa năm 1977 chính quyền Carter đã chuyển sang xây dựng quan hệ chiến lược với Trung Quốc để đối phó với Liên Xô. Cuối năm 1977 quốc hội Mỹ thông qua luật cấm viện trợ cho Việt Nam. Quan hệ Việt-Mỹ ngày cang thêm trở ngại. Phần II Ngoại giao Việt Nam trong giai đoạn 1975-1985 I. Vấn đề Campuchia. Phản ứng của Việt Nam để trả lời cuộc chiến tranh biên giới và cuộc đại tiến công vào Tây Ninh cuối năm 1978 của tập đoàn Pôl Pốt đã làm rung chuyển toàn bán đảo Đông Dương và tác động kéo dài đến tình hình Đông Nam á và thế giới. Nhờ sự giúp đỡ nhân đạo của Việt Nam, nhân dân Campuchia thoát khỏi được nạn diệt chủng và bắt đầy xây dựng lại đất nước đã bị chế độ Pôl Pốt tàn phá ngoài sự tưởng tượng. Trái lại Việt Nam đang phải đối đầu với một cuộc khủng hoảng kinh tế – xã hội cực kỳ nghiêm trọng sẽ đến đỉnh cao những năm 1986-1988 lại gánh thêm vấn đề Campuchia. Nước Lào, vừa mới giành được chính quyền, cũng đang đứng trước những khó khăn về an ninh, kinh tế, xã hội. Khi cuộc chiến tranh giữa Việt Nam và Khơ me đỏ bắt đầu, có nhà báo phương Tây gọi đó là cuộc “chiến tranh uỷ nhiệm” ngụ ý nói đây là cuộc chiến tranh giữa Liên Xô và Trung Quốc qua tay người Việt Nam và người Khơ me đỏ. Điều đó chỉ đúng một nửa vì Việt Nam nhận viện trợ của Liên Xô thật nhưng luôn luôn, kể cả trong hai cuộc kháng chiến trước, theo đuổi một đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ. Lúc đầu đó là cuộc chiến tranh giữa hai bên. Khi Trung Quốc đánh Việt Nam tháng 2/1979 đó là cuộc chến tranh liên quan ba nước. Nhưng khi trình bầy Việt Nam là “tiểu bá” và Liên Xô là “đại bá” cuộc chiến tranh liền liên quan đến bốn nước. Từ “chiến tranh uỷ nhiệm” xuất xứ từ đó. Nếu như các nước lớn phản ứng mỗi nước một cách tuỳ theo lợi ích chính trị, kinh tế, quân sự của mình với tình hình mới ở Campuchia thì các nước Đông Nam á chủ yếu là các nước trong Hiệp hội các nước Đông Nam á (ASEAN) phản ứng vì họ là láng giềng gần gũi với Đông Dương. Trong thời gian chiến tranh Việt Nam, do tác động tuyên truyền thuyến Domino của Mỹ, các nước ASEAN còn nghi ngờ chính sách hữu nghị của Việt Nam nhưng từ tháng 7/1976 nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam đã công bố chính sách 4 điểm đối với các nước Đông Nam á mà tinh thần là hữu nghị, hợp tác, cùng tồn tại hoà bình trên cơ sở 5 nguyên tắc cùng tồn tại hoà bình và 10 nguyên tắc Bangdung, tiếp đó Thứ trưởng Ngoại giao, Bộ trưởng Ngoại giao và Thủ tướng nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam đã liên tiếp đi thăm hữu nghị các nước Đông Nam á, quan hệ ngoại giao giữa các nước ASEAN và Việt Nam đã được kiến lập. Nhưng từ sau sự kiện 7/1/1990 sự có mặt của quân đội Việt Nam tại Campuchia đã làm cho các nước Đông Nam á lo ngại. Trước hết Thái Lan, láng giềng trực tiếp của Campuchia, thì lo sợ Việt Nam đánh vào đất họ nhất là khi thực tế họ đang tiếp tay cho tàn quân Pôl Pốt, điều đó có thể hiểu được, các nước khác lo ngại chiến tranh có thể mở rộng, phá hoại môi trường hoà bình, đe doạ an ninh của họ. Trong ASEAN, phản ứng mạnh mẽ nhất là Thái Lan. Chính quyền Kriangsak dành mọi dễ dàng cho lực lượng Pôl Pốt. Các nước ASEAN khác yêu cầu Hội đồng bảo an lên án Việt Nam xâm lược Campuchia, vận động Đại hội đồng Liên hợp quốc, phong trào không liên kết họp tại Habana, cả Hội nghị cấp cao Phong trào không liên kết họp tại New Deli năm 1983 để giữ ghế cho Khơ me đỏ. Họ không đáp ứng đề nghị của ba ngoại trưởng các nước Việt Nam, Lào, Cộng hoà nhân dân Campuchia đưa ra tháng 1 năm 1980 về việc ký Hiệp định song phương và không xâm lược nhau giữa ba nước Đông Dương và các nước ASEAN và bàn việc xây dựng một khu vực Đông Nam á hoà bình, độc lập, tự do, trung lập, ổn định và phồn vinh. Tuy vậy vẫn có khoảng cách về nhận định tình hình giữa Djakarta, KuaLumpur và Bangkok. Tháng 3/1980, Tổng thống Suharto và Thủ tướng Malayxia Husein Onn gặp nhau tại Kuantan (Malayxia) và tuyên bố cần coi trọng những lo lắng của Việt Nam về an ninh của mình. Nguyên tắc đó nhằm đưa Đông Nam á thành khu vực hoà bình và cho rằng cần có giải pháp chính trị cho vấn đề Campuchia và giải pháp đó phải tính đến lợi ích chiến lược của Việt Nam và Campuchia cần được trung lập hoá khỏi ảnh hưởng của Liên Xô và Trung Quốc, kêu gọi Trung Quốc, Liên Xô không can thiệp vào Đông Nam á. Prem, Thủ tướng mới của Thái Lan, bác bỏ công thức Kuantan. Tháng 7/1980, ngoại trưởng ba nước Việt Nam, Lào, Cộng hoà Nhân dân Campuchia nhắc lại đề nghị về ký hiệp định không xâm lược lẫn nhau và đề nghị một khu phi quân sự giữa Campuchia và Thái Lan có sự giám sát quốc tế, Campuchia và Thái Lan cần bàn giải quyết vấn đề người tị nạn, hội đàm trực tiếp hay gián tiếp để giải quyết các vấn đề khác giữa hai nước. Một vài nước ASEAN đồng tình nhưng Thái Lan không đáp ứng. Tháng 1/1981, ngoại trưởng ba nước Đông Dương đề nghị họp một hội nghị giữa hai nhóm nước để bàn các vấn đề liên quan đến hoà bình, hợp tác ổn định ở Đông Nam á, sau khi được thoả thuận sẽ họp một hội nghị quốc tế để ghi nhận và bảo đảm; ký hiệp định tay đô giữa từng nước Đông Dương với Trung Quốc về cùng tồn tại hoà bình; Việt Nam sẽ rút quân khỏi Campuchia nếu Thái Lan không cho phép Khơ me đỏ và Khơ me phản động khác dùng lãnh thổ Thái Lan làm căn cứ chống Campuchia, chấm dứt tiếp tế vũ khí và lương thực cho chúng. Cuối tháng 4, ngoại trưởng Lào Phoune Sipaseuth, thay mặt bán Đông Dương, đi thăm các nước ASEAN để nêu 7 nguyên tắc cùng tồn tại hoà bình. Tháng 7, theo gợi ý của nhóm ASEAN và dưới sự bảo trợ của Liên hợp quốc, Hội nghị quốc tế về Campuchia (ICK) họp tại New York, không có mặt Việt Nam. Các nước ASEAN đề nghị bàn nhiều vấn đề: rút quân đội nước ngoài ra khỏi Campuchia trong một thời gian nhất định dưới sự giám sát của Liên hợp quốc, tổng tuyển cử tự do do Liên hợp quốc chủ trì, bảo đảm một nước Campuchia độc lập không đe doạ ai nhưng hội nghị cũng không đi đến kết quả gì. Lúc này, các lực lượng cách mạng Campuchia đã trưởng thành và có thể tự đảm đương mọi nhiệm vụ. Việt Nam tiếp tục giúp Cộng hoà Nhân dân Campuchia thực hiện ba mục tiêu chiến lược: làm suy tàn địch, xây dựng thực lực cách mạng trong 3-5 năm, lực lượng cách mạng Campuchia sẽ tự đảm đương nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ đất nước, bảo vệ thành quả cách mạng, tăng cường liên minh Campuchia – Việt Nam – Lào. Các bên liên quan ở Đông Dương tiếp tục tăng cường hoạt động ngoại giao. Ngày 22/6, ba phái Campuchia ký hiệp định Kua Lumpur về việc lập một chính phủ liên hiệp và ngày 22/7 ASEAN và Trung Quốc thoả thuận xong về thành phần chính phủ đó. Ngày 22/7, ngoại trưởng ba nước Đông Dương tỏ ý muốn khôi phục quan hệ với Trung Quốc đồng thời đề nghị họp một hội nghị hẹp về Đông Nam á bao gồm hai nhóm nước, Mianma, ấn Độ và năm nước lớn. Ngoại trưởng Việt Nam Nguyễn Cơ Thạch lại đi thăm cscs nước ASEAN, ngoại trưởng Phoune Sipaseuth gửi công hàm cho các nước ASEAN để trình bày quan điểm của ba nước Đông Dương. Cuộc đàm phán Xô -Trung về bình thường hoá quan hệ giữa hai nước bắt đầu bằng vấn đề Campuchia và mở đầu việc các nước lớn bàn vấn đề Campuchia. Lần này phía Trung Quốc đưa ra đề nghị năm điểm mà ba điểm đầu lại là về Campuchia, nếu Việt Nam rút quân thì sau đợt đầu Trung Quốc sẵn sàng đàm phán với Việt Nam về bình thường hoá quan hệ giữa hai nước, đồng thời với việc Việt Nam lần lượt rút quân Trung Quốc sẽ có bước đi thực tế để cải thiện quan hệ với Việt Nam, dùng vấn đề Campuchia để cải thiện quan hệ Trung-Xô, tạo thế thuận lợi để thúc đẩy quan hệ Trung –Mỹ. Tháng 10, Việt Nam rút một số quân về nước và tuyên bố sẽ tiếp tục rút như thế hàng năm. Năm 1983 mở đầu bằng sự kiện quan trọng: hội nghị cấp cao ba nước Đông Dương bày tỏ ý muốn của ba nước là cải thiện quan hệ với Trung Quốc và đặc biệt là có một tuyên bố về rút quân Việt Nam khỏi Campuchia. Trong vòng hai đàm phán Xô- Trung, Trung Quốc nêu ba trở ngại cho việc bình thường hoá quan hệ Trung-Xô: quân Liên Xô tiếp tục đóng ở Apganistan, quân Liên Xô đóng ở biên giới Trung-Xô, Liên Xô tiếp tục ủng hộ Việt Nam chiếm Campuchia, trong đó trở ngại thứ ba là quan trọng nhất. Malayxia đề nghị họp các nước ASEAN với ba nước Đông Dương (trừ Campuchia), nhưng hội nghị ngoại trưởng ASEAN gạt vấn đề này. Inđônêxia và Philippin đều đồng ý nên tiếp tục đối thoại với nhóm nước Đông Dương. Inđônêxia đưa ra giải pháp: Việt Nam rút quân, Campuchia có quy chế trung lập, thành lập lực lượng gìn giữ hoà bình, tổ chức tổng tuyển cử ở Campuchia dưới sự giám sát của quốc tế. Tháng 7, ngoại trưởng Nguyễn Cơ Thạch đề nghị tiến hành đàm phán bí mật giữa Việt Nam và Trung Quốc trên cơ sở đề nghị cả hai bên, thảo luận và giải quyết thật sự các vấn đề thực chất trong quan hệ giữa hai nước. Trung Quốc chỉ trả lời: Việt Nam hãy cam kết rút quân không điều kiện và có hành động thực tế. Ngày 21/9 ASEAN ra lời kêu gọi hỗn hợp: cần tôn trọng quyền tự quyết và hoà giải của Campuchia, mọi phái Khơ me kể cả Phnôm Pênh tham gia tổng tuyển cử, thành lập Chính phủ liên hiệp, Việt Nam rút quân từ Tây sang Đông; ngừng bắn và tổng tuyển cử có giám sát quốc tế. Trung Quốc không ủng hộ, Việt Nam không đáp ứng. Trong vòng 3 đàm phán với Liên Xô - Trung Quốc lại nêu ba trở ngại. Trong cuộc họp tháng 2/1984, ngoại trưởng ba nước Đông Dương đưa ra bốn cách giải quyết tình hình: giải pháp toàn bộ về hoà bình vả ổn định ở Đông Nam á, giải pháp bộ phận liên quan tới ba nước Đông Dương, tới ba nước Đông Dương, tới ba nước Đông Dương và Thái Lan, thoả thuận những nguyên tắc quy định quan hệ giữa các nước Đông Dương và ASEAN có bảo đảm và giám sát quốc tế. Trong chuyến đi thăm Inđônêxia rồi Ostrâylia tháng 3/1984, ngoại trưởng Nguyễn Cơ Thạch đã hội đàm với Tổng thống Suharto, tổng thống đã đề nghị: Cộng hoà Nhân dân Campuchia không trực tiếp tham gia đàm phán, Việt Nam rút quân dần dần khỏi Campuchia, ASEAN và Việt Nam lập một lực lượng gìn giữ hoà bình và giám sát tổng tuyển cử ở Campuchia. Sự khước từ của phía Việt Nam làm cho Inđônêxia không hài lòng. Tháng 7 ba ngoại trưởng Đông Dương đề nghị hai nhóm nước hội đàm trêm cơ sở lời kêu gọi hỗn hợp của ASEAN và đề nghị của ba nước Đông Dương, ASEAN không đáp ứng. Cho đến thời điểm này, các cuộc tiếp xúc giữa nhóm nước Đông Dương và ASEAN vẫn duy trì nhưng do nghi ngờ, chưa thông cảm với nhau và cũng do thái độ của các nước lớn cuộc đối thoại không đạt kết quả cụ thể. Tuy vậy quan hệ giữa Việt Nam và các nước ASEAN bớt căng thẳng hơn. Tiếp theo cuộc đi thăm Việt Nam của tướng Benny Murdani cuộc đi thăm Inđônêxia của tướng Văn Tiến Dũng, ngoại trưởng Inđônêxia đi thăm Việt Nam. Như tướng Murdani đã tuyên bố sau khi đi Việt Nam về “các lực lượng vũ trang và nhân dân Inđônêxia không tin nguy cơ đối với Đông Nam á là từ phía Việt Nam”. Trong chuyến viếng thăm Hà Nội lần này, ngoại trưởng Mochtar Kusumaatmadji đềnghị một khung chiến lược về cân bằng lực lượng ở Đông Nam á. Malayxia đề nghị nên có “đàm phán gián tiếp” giữa chính phủ Cộng hoà Nhân dân Campuchia và Chính phủ liên hiệp ba phái với sự trung gian của ASEAN theo kiểu đã làm về Apganistan. Đề nghị này gây chia rẽ trong chính phủ liên hiệp ba phái. Trung Quốc bác bỏ. Thái Lan không bình luận. Tháng 8, ba ngoại trưởng Đông Dương đưa ra lập trường 5 điểm làm khung cho một giải pháp chính trị toàn bộ về hoà bình, ổn định ở Đông Nam á và về vấn đề Campuchia, đồng thời thông báo Việt Nam sẽ rút hết quân khỏi Campuchia vào năm 1990 hoặc sớm hơn nếu có một giải pháp chính trị. Cộng hoà Nhân dân Campuchia tuyên bố sẵn sàng nói chuyện với các cá nhân hay nhóm Khơ me đối lập để bàn về hoà hợp dân tộc trên cơ sở loại trừ bọn Pôl Pốt. Mặc dầu tổng hành dinh của chúng ở Phnôm Mailai đã bị tàn phá tan tháng 12/1985, bọn Pôl Pốt không chịu bỏ vũ khí vẫn tiếp tục chiến tranh du kích. Từ tháng 8/1985, phía Việt Nam đề nghị nên đi vào giải pháp thông qua thương lượng, phía Phnôm Pênh đồng ý cử người đi gặp hoàng thân Sihanuok và từ đây các nước đề nghị về giải pháp đi gần thực chất hơn. Ba ngoại trưởng Việt Nam, Lào, Campuchia gỡ rối tình hình với quan điểm hai mặt của vấn đề: mặt quốc tế bao gồm việc rút quân Việt Nam gắn với vấn đề chấm dứt viện trợ cho các bên Khơme, Thái Lan không để lãnh thổ của mình được sử dụng làm đất thành, chấm dứt các hoạt động quân sự và can thiệp chống các nước Đông Dương có thể được giải quýet trước hoặc đồng thời với mặt nội bộ và mặt nội bộ cần được giải quyết giữa các người Campuchia không có sự can thiệp từ bên ngoài. Sự phân biệt hai mặt của vấn đề Campuchia thật sự có tác dụng thúc đẩy các bên đi vào giải pháp vì con bài của Trung Quốc và các bên khác là đòi Việt Nam rút quân để ép Việt Nam đi vào thương lượng, nhưng Việt Nam đang rút quân từng đợt và muộn nhất là năm 1990 rút xong, khi đó con bài rút quân không còn tác dụng nữa. II. Quan hệ Việt – Trung. Cuộc chiến tranh tháng 2/1979 là một vết đen trong lịch sử quan hệ Việt-Trung, nỗi đau xót đối với những ai là người Việt cũng như Hoa, quý trọng và lo vun trồng cho tình hữu nghị truyền thống ngày càng xanh tươi. Nhưng chiến tranh đã xảy ra rồi thì việc đầu tiên phải lo khôi phục tình hữu nghị đó. Trong cuộc đàm phán Việt Nam – Trung Quốc, ngay từ phiên họp đầu tiên tại Hà Nội ngày 18 tháng 4 năm 1979, nghĩa là đúng hai năm sau khi nổ ra cuộc chiến tranh, đại biểu Việt Nam đã đưa ra đề nghị ba điểm “Những nguyên tắc và nội dung chủ yếu của một giải pháp về những vấn đề trong quan hệ Việt Nam và Trung Quốc”. 1. Những biện pháp cấp bách nhằm bảo đảm hoà bình ổn định ở vùng biên giới hai nước bao gồm: không tập trung quân sát đường biên giới; cách ly lực lượng vũ trang hai bên; chấ dứng mọi hành động khiêu khích chiến tranh và mọi hình thức hoạt động đối địch; lập khu phi quân sự và thoả thuận về quy chế của khu phi quân sự; lập uỷ ban hỗn hợp hai bên để giám sát và kiểm soát việc thực hiện những biện pháp này. 2. Khôi phục quan hệ bình thường giữa hai nước trên cơ sở những nguyên tắc cùng tồn tại hoà bình. 3. Giải quyết các vấn đề và biên giới, lãnh thổ trên nguyên tắc tôn trọng nguyên trạng đường biên giới do lịch sử để lại mà Trung ương hai bên đã thoả thuận. Đây là những đề nghị nhằm giải quyết những vấn đề cấp bách trước mắt do cuộc chiến tranh tháng 2/1979 gây ra, ngăn ngừa chiến tranh trở lại; vừa nhằm giải quyết những vấn đề cơ bản lâu dài trong quan hệ hai nước, thể hiện lòng mong muốn sớm khôi phục tình hữu nghị lâu đời giữa nhân dân hai nước và mối quan hệ bình thường giữa hai nước Việt Nam và Trung Quốc, góp phần giữ gìn hoà bình, ổn định ở Đông Nam á và hoà bình thế giới. Trong phiên họp thứ nhất của vòng hai tại Bắc Kinh, ngày 28/6/1979, đoàn đại biểu Việt Nam lại đưa ra “Dự thảo thoả thuận” về việc hai bên cam kết không tiến hành các hoạt động thám báo và trinh sát dưới mọi hình thức trên lãnh thổ của nhau; không tiến hành bất cứ hoạt động tiến công, khiêu khích vũ trang nào, không nổ súng từ lãnh thổ bên này sang lãnh thổ bên kia, cả trên bộ, trên không, trên biển; không có bất cứ hành động gì uy hiếp an ninh của nhau Về vấn đề “chống bá quyền” mà phía Trung Quốc rất quan tâm, đoàn đại biểu Việt Nam đã nêu rõ ràng quan điểm của mình về vấn đề này: Chống bá quyền là: 1. Không bành trướng lãnh thổ dưới bất cứ hình thức nào. Đã chiếm đoạt đất đai của nước nào thì phải chấm dứt ngay tình trạng đó. 2. Không xâm lược, không dùng vũ lực để “trừng phạt” hoặc để “dạy bài học” cho bất cứ một nước nào. 3. Không áp đặt tư tưởng, quan điểm, đường lối của mình cho nước khác. Không dùng bất cứ thủ đoạn nào, kể cả viện trợ kinh tế để ép buộc nước khác phải từ bỏ đường lối độc lập tự chủ, không can thiệp vào quan hệ của một nước với nước khác. 4. Không dùng các tổ chức chống đối do mình nuôi dưỡng, lực lượng kiều dân của mình hoặc bất cứ hình thức nào để can thiệp vào công việc nội bộ của nước khác. 5. Không liên minh với chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động khác chống lại hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủa và chủ nghĩa xã hội. Những đề nghị của Việt Nam có thể đáp ứng yêu cầu của tình hình sau khi chiến tranh đã xẩy ra và quan hệ bị cắt đứt giữa hai nước. Ngày 26/4/1979, trưởng đoàn đại biểu Chính phủ Trung Quốc Hàn Nhiệm Long đưa ra lập trường 8 điểm sau đây: 1. Hai bên khôi phục quan hệ láng giềng hữu nghị giữa hai nước trên cơ sở năm nguyên tắc tôn trọng chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ củânhu, không xâm phạm lẫn nhau, không can thiệp vào nội trị của nhau, bình đẳng, cùng có lợi và chung sống hoà bình. Hai bên sẽ thông qua đàm phán hoà bình tìm kiếm giải pháp hợp lý về những tranh chấp và vấn đề tồn tại trong quan hệ giữa hai nước. 2. Bất cứ bên nào đều không mưu cầu bá quyền ở Đông Dương, Đông Nam á và khu vực khác, mỗi bên đều phản đối sự cố gắng của bất cứ quốc gia hoặc tập đoàn quốc gia nào khác nhằm thiết lập bá quyền đó. Bất cứ bên nào không đóng quân ở nước ngoài, quân đội đã đóng ở nước ngoài thì rút về nước mình. Bất cứ bên nào đều không tham gia tập đoàn quân sự nhằm chống lại bên kia, không để căn cứ quân sự của nước ngoài, không sử dụng lãnh thổ và căn cứ quân sự của nước khác đe doạ, lật đổ và vũ trang xâm phạm bên kia hoặc các nước khác. 3. Hai bên tôn trọng đường biên giới hai nước Trung Việt đã được hoạch định qua các điều ước về biên giới ký giữa Trung Quốc và Pháp, và căn cứ theo các điều ước về biên giới ký giữa Trung Quốc và Pháp, đàm phán giải quyết vấn đề tranh chấp về biên giới và lãnh thổ. Trước khi vấn đề biên giới được giải quyết, hai bên đều phải duy trì nghiêm chỉnh hiện trạng biên giới lúc Trung ương hai Đảng Trung Quốc và Việt Nam trao đổi tư từ năm 1957, năm 1958, không được đơn phương cưỡng ép thay đổi phạm vi quản hạt biên giới thực tế với bất cứ cách thức nào và bất cứ cớ nào. 4. Hai bên tôn trọng lẫnnhau chủ quyền lãnh hải rộng 12 hải lý và mỗi bên, và căn cứ theo những nguyên tắc hữu quan của luật biển quốc tế hiện nay, phân chia một cách công bằng và hợp lý vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của hai nước Vịnh Bắc bộ và vùng biển khác. 5. Quần đảo Tây Sa và đảo Nam Xa xưa nay vẫn là một bộ phận lãnh thổ không thể chia cắt được của Trung Quốc. Phía Việt Nam cần trở lại lập trường cũ công nhận sự thật đó… tôn trọng chủ quyền của Trung Quốc đối với hai quần đảo này, và rút hết tất cả nhân viên trên các hòn đảo thuộc quần đảo Nam Sa và phía Việt Nam chiếm đóng. 6. Kiều dân của bất cứ bên nào cư trú ở nước bên kia đều phải tuân thủ luật pháp của nước sở tại, tôn trọng phong tục tập quán của nhân dân địa phương, đóng góp vào công cuộc xây dựng kinh tế và văn hoá của nước sở tại: Chính phủ nước sở tại phải bảo đảm những quyền lợi và lợi ích chính đáng về các mặt như cư trú, đi lại, nghề nghiệp, làm ăn sinh sống v.v… và an toàn con người cũng như tài sản hợp pháp của họ trên đất nước sở tại. Bất cứ bên nào đều phải đối xử tử tế đối với kiều dân của bên kia cư trú ở nước mình, không được khủng bố và xua đuổi trái phép ra nước ngoài. 7. Để thoả mãn yêu cầu chính đáng của công dân Việt Nam đã bị nhà cầm quyền Việt Nam cưỡng ép xua đuổi sang Trung Quốc trở lại quê hương, Chính phủ Việt Nam cần sớm đón họ về Việt Nam và có sự thu xếp thoả đáng; Chính phủ Trung Quốc sẵn sàng tạo mọi điều kiện để họ sớm về nước. 8. Về việc khôi phục quan hệ giữa hai nước về các mặt như vận tải đường sắt, thương mại, hàng không, bưu điện v.v… sẽ bàn bạc giải quyết giữa các ngành hữu quan của hai nước. Phía Trung Quốc đưa ra lập trường 8 điểm trong lúc họ thường xuyên duy trì năm quân đoàn ở vùng biên giới Trung Việt, dùng 15 sư đoàn áp sát biêngiới, tiếp tục gây tình hình không ổn định trong vùng biên giới Việt Nam bằng pháo kích, khiêu khích vũ trang. Họ lại đòi hỏi Việt Nam từ bỏ chủ quyền của mình đối với quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa, thay đổi đường lối đối ngoại của mình. Vòng 1 tại Hà Nội và vòng 2 tại Bắc Kinh không đạt kết quả gì là điều dễ hiểu, thoả thuận duy nhất đạt được là việc trao đổi những người của hai bên bị bắt. Phía Trung Quốc đơn phương đình chỉ vòng 3 không chịu họp lại. Dư luận quốc tế cho rằng phía Trung Quốc không chịu bàn các vấn đề nhằm ổn định vùng biên giới, ngăn ngừa chiến tranh trở lại, là nhằm làm cho Việt Nam chảy máu thêm trong lúc Việt Nam đang đứng trước nhiều khó khăn do cuộc khủng hoảng kinh tế và xã hội và tình thế bị cô lập trên quốc tế gây ra. Trung Quốc còn muốn dùng vấn đề Campuchia để tập hợp lực lượng, hạn chế ảnh hưởng của Liên Xô ở Đông Nam á. Đó là lý do vì sao vấn đề bình thường hoá quan hệ Việt – Trung bị gắn liền với việc giải quyết vấn đề Campuchia. Các nước ASEAN thấy quân Việt Nam vào Campuchia thì lo ngại Thái Lan bị đánh, nhất là khi Thái Lan ủng hộ phái Khơ me đỏ chống nước Cộng hoà nhân dân Campuchia. Họ tán thành để cho Khơ me đỏ chiếc ghế của Campuchia ở Liên hợp quốc. Tuy vậy họ

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docxSLN37387.docx
Tài liệu liên quan