Tiểu luận Quá trình hình thành nhà nước pháp quyền tại Việt Nam

MỤC LỤC

 

Trang

 

LỜI MỞ ĐẦU 1

KHÁI QUÁT NỘI DUNG .2

LÝ LUẬN CHUNG .4.

QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN 6

I Nhà nước pháp quyền là gì?.6

II Quá trình hình thành Nhà nước pháp quyền tại Việt Nam .8

III Đặc điểm Nhà nước pháp quyền Xã Hội Chủ Nghĩa 14

ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

IV Sự khác nhau giữa Nhà nước pháp quyền 18

Xã Hội Chủ Nghĩa với Nhà nước pháp quyền tư sản.

KẾT LUẬN CHUNG .21

DANH SÁCH NHÓM THỰC HIỆN 23

TÀI LIỆU THAM KHẢO .23

 

 

 

doc12 trang | Chia sẻ: maiphuongdc | Ngày: 22/01/2014 | Lượt xem: 13449 | Lượt tải: 114download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Tiểu luận Quá trình hình thành nhà nước pháp quyền tại Việt Nam, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
luật, pháp luật chính là giá trị xã hội, là thước đo của tự do. NNPQ phải thừa nhận và đảm bảo các quyền tự do cá nhân. Trong các quyền tự do cá nhân cần phải đảm bảo trước hết các quyền về kinh tế, chính trị. NNPQ là Nhà nước phải được tổ chức theo cơ chế phân quyền: Lập pháp, Hành pháp và Tư pháp độc lập tương đối với nhau để có thể chế ước lẫn nhau. NNPQ phải có cơ chế giám sát việc thực thi quyền lực, giám sát đối với Hiếp pháp, với Hành chính và Tư pháp… Tóm lại, NNPQ là Nhà nước xây dựng nền pháp luật để quản lý xã hội và đặt mình dưới pháp luật. Mọi cơ quan Nhà nước đều phải được tổ chức và chỉ được phép hoạt động trong khuôn khổ quy định của pháp luật; công dân tuân thủ, thi hành và sử dụng pháp luật. Trong đó quyền công dân được pháp luật ghi nhận, đề cao và bảo vệ… Lịch sử nhân loại đã trải qua 4 kiểu Nhà nước tính đến thời điểm này là: Nhà nước chiếm hữu nô lệ, Nhà nước phong kiến, Nhà nước tư sản và cuối cùng là Nhà nước xã hội chủ nghĩa. NNPQ không phải là một Nhà nước của một hình thái kinh tế xã hội mới. Tuy nhiên, NNPQ được xem là yếu tố của hình thức Nhà nước có tính dân chủ và chỉ tồn tại trong xã hội có tính dân chủ dù là dân chủ tư sản hay dân chủ xã hội chủ nghĩa. II. Quá trình hình thành NNPQ tại Việt Nam: Hòa chung vào dòng chảy lịch sử nhân loại, Việt Nam đã trải qua các hình thái kinh tế xã hội: Công xã nguyên thủy, xã hội phong kiến, bỏ qua giai đoạn Tư bản chủ nghĩa và tiến lên xây dựng Chủ nghĩa xã hội. Các mô hình xã hội này được hình thành dựa trên các điều kiện kinh tế - xã hội phù hợp với từng giai đoạn lịch sử. Hình thái xã hội công xã nguyên thủy (CXNT) Ở giai đoạn xã hội CXNT, con người sống theo bầy đàn, họ sống chủ yếu bằng săn bắn, hái lượm, cuộc sống phụ thuộc hoàn toàn vào tự nhiên. Khi đó, bầy người lao động và kiếm sống bằng sức mạnh tập thể, bầy người đã liên kết lại với nhau để chống lại thú dữ, thiên tai, dịch họa. Họ sống thành các Bộ lạc, Bộ tộc…Tất cả của cải kiếm được sẽ được chia đều cho các thành viên trong bộ lạc và dường như chưa xuất hiện “tư hữu”. Trải qua các thời kì với các điều kiện tự nhiên thuận lợi, các Bộ lạc đã tích lũy được nhiều của cải dư thừa và khi đó tư tưởng tích lũy “tư hữu” đã xuất hiện, của cải dư thừa không còn được chia ra cho các thành viên trong Bộ lạc mà do người đứng đầu Bộ lạc, Bộ tộc chiếm giữ làm của riêng…Dần dần có sự phân hóa giàu nghèo, phân hóa giai cấp…Song song với nó, hình thái xã hội CXNT có nguy cơ bị phá vỡ, thay vào đó là sự ra đời của mô hình xã hội mới theo quy luật tự nhiên của nó. 2. Mô hình Nhà nước phong kiến (PK) Khác với các quốc gia ở Châu Âu, Việt Nam không xuất hiện mô hình Nhà nước Chiếm hữu nô lệ (CHNL). Xét về mặt bản chất, Nhà nước CHNL là một mô hình Nhà nước đầu tiên trong lịch sử nhân loại, ngay từ khi mới xuất hiện, bản chất bóc lột của nó đã được rõ nét. Các Chủ nô sử dụng Nô lệ trong các đồn điền, hầm mỏ, khai thác sức lao động của họ triệt để, hành hạ, đánh đập, bóc lột về thể xác…,các Chủ nô không hề quan tâm tới cuộc sống, tính mạng của họ, các Chủ nô chỉ muốn mang lại lợi ích, giá trị kinh tế cao nhất cho bản thân.Với mô hình NN này, dường như vấn đề quyền con người chưa được nhắc tới… Trước CMT8-1945, NNVN là NN nửa thuộc địa, nửa PK theo chính thể Quân chủ chuyên chế, NN ấy không phải do nhân dân ta xây dựng nên mà do bọn thực dân pháp(TDP) lập nên. Năm 1858- khi TDP nổ phát súng đầu tiên trên bán đảo Sơn TRà, chúng đã mang đến nước ta bao đau thương mất mát….Để thuận lợi cho chính sách cai trị TDP đã lập nên chính quyền bù nhìn, tay sai với các chính sách cai trị hà khắc. Với cơ chế tập quyền, Vua là người đứng đầu NN, Vua có quyền tối cao, tất cả công việc của quốc gia đều do Vua quyết định (tuy nhiên, do là nửa thuộc địa, nửa PK, nên tất cả công việc đều phải theo sự điều khiển của TDP). Pháp luật NN được lập nên để đảm bảo quyền lợi cho những kẻ cầm quyền, pháp luật được sử dụng như một công cụ cai trị mà tất cả mọi người đều phải tuân thủ và không được làm trái. Vì vậy vấn đề quyền con người không được đảm bảo; trái lại bọn vua quan còn lợi dụng quyền lực, nhũng nhiễu, chèn ép nhân dân, cuộc sống của nhân dân vô cùng lầm than, cơ cực, người dân sống mà không hề biết đến khái niệm “Nhân quyền”- những quyền mà con người đáng được hưởng…. Tuy nhiên, trải qua các triều đại mô hình NNPK, Bộ “Luật Hồng Đức” dưới thời Lê như là một vết son sáng lạng. Mặc dù chưa đậm nét, song “Luật Hồng Đức” đã đề cập tới một số quyền cơ bản của con người, đề cao quyền phụ nữ, trẻ em…Bước đầu là cơ sở đặt niềm tin vào một NNPQ ở giai đoạn sau. 3. Mô hình Nhà nước xã hội chủ nghĩa (XHCN): CMT8 thành công, ngày 2/9/1945, chủ tịch Hồ Chí Minh đọc “Tuyên ngôn độc lập” tuyên bố khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, mở đầu “Tuyên ngôn độc lập” Người đã trích lời “Tuyên ngôn độc lập” của Mĩ và “Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền” của Pháp: “Tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng, tạo hóa ban cho họ những quyền bất khả xâm phạm, trong đó có quyền được sống, quyền được tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”. Rõ ràng điều này luôn luôn đúng. T10/1946, Quốc hội khóa I đã thông qua bản Hiếp pháp đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa – Hiếp pháp 1946. Hiếp pháp được xây dựng dựa trên ý kiến của nhân dân, những khát vọng chính đáng của họ về quyền con người, mơ ước độc lập tự do…(do Ủy ban dự thảo Hiếp pháp thu nhập, “trưng cầu dân ý”). Hiến pháp 1946 đề cập tới những vấn đề mang tầm chiến lược: Kinh tế, Chính trị - Xã hội, Văn hóa – giáo dục, Quốc phòng – An ninh…đáng chú ý, Hiến pháp 1946 rất chú trọng đến chế định công dân. Lần đầu tiên trong lịch sử Việt Nam ,nhân dân Việt Nam được bảo đảm các quyền tự do –dân chủ: “Công dân việt Nam có quyền tự do ngôn luận, tự do xuất bản, tự do tổ chức và hội họp, tự do tín ngưỡng, tự do cư trú và ra nước ngoài”(Điều 10 hiến pháp 1946); Lần đầu tiên trong lịch sử Việt Nam, quyền bình đẳng trước pháp luật của mọi công dân được pháp luật ghi nhận; phụ nữ được ngang quyền với nam giới về mọi mặt, đồng thời công dân Việt Nam được hưởng quyền bầu cử, nhân dân có quyền bãi nhiệm các đại biểu của mình bầu ra khi tỏ ra không xứng đáng với danh hiệu đó . Dựa trên nguyên tắc thực hiện chính quyền mạnh mẽ, sáng suốt của nhân dân, hình thức Nhà nước theo Hiến pháp 1946 có nhiều nét độc đáo đáng chú ý : Chủ tịch nước là người đứng đầu Chính phủ, Chủ tịch nước có quyền phủ quyết, Nghị viện biểu quyết và có quyền thảo luận. Tuy nhiên, Chủ tịch nước không phải do cử tri trực tiếp bầu ra mà do Nghị viện nhân dân bầu ra, Chủ tịch nước có quyền chọn Thủ tướng trong Nghị viện và đưa ra Nghị viện biểu quyết… Tóm lại, chúng ta thấy rằng Hiến pháp đầu tiên của nước ta –Hiến pháp 1946 là bản Hiến pháp dân chủ ,tiến bộ; Với vai trò lập pháp, Hiến pháp 1946 là chuẩn mực Pháp lí tối cao là công cụ để Nhà nước điều chỉnh các mối quan hệ xã hội cơ bản , đảm bao quá trình hoạt động thông suốt trong đó quyền công dân, quyền con người được đề cao . Bước sang năm 1959 ,Hiến pháp 1946 có những biểu hiện không còn phù hợp với tình hình và nhiệm vụ mới của Cách Mạng , cần phải có sự bổ sung ,thay đổi cho phù hợp với tình hình thực tế, Quốc hội khóa I Nước Việt Nam dân chủ Cộng Hòa đã quyết định sửa đổi Hiến pháp 1946.Hiến pháp 1959 đã có những thay đổi phù hợp với thực trạng đất nước… Chương I của Hiến pháp 1959 đã khẳng định : Việt Nam theo hình thức chính thể Nhà nước dân chủ Cộng hòa ,xác định rõ “Tất cả quyền lực Nhà nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa thuộc về nhân dân.Nhân dân sử dụng quyền lực của mình thông qua Quốc hội và Hội đồng Nhân dân các cấp do nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân “(Điều 4 –Hiến pháp 1959); Hiến pháp 1959 cũng đã quy định :Quốc hội và Hội đồng Nhân dân các cấp và các cơ quan Nhà nước khác thực hành nguyên tắc tập trung dân chủ, tất cả các cơ quan Nhà nước đều phải hoạt động theo Hiến pháp và Pháp luật trong đó lợi ích của nhân dân luôn được đặt lên hàng đầu, đồng thời Quốc hội và các chính quyền Nhà nước phải lắng nghe ý kiến và chịu sự kiểm soát của nhân dân… Đặc biệt ,Chương III đã quy định về Quyền lợi và nghĩa vụ cơ bản của công dân ,bao gồm các quyền: Quyền về chính trị và tự do dân chủ: Quyền bầu cử, quyền tự do ngôn luận ,tự do báo chí ,tự do hội họp (Điều 25)… Các quyền về dân sự, kinh tế , văn hóa- xã hội Các quyền về tự do cá nhân. So với Hiến pháp 1946, chế định quyền và nghĩa vụ của công dân trong Hiến pháp 1959 là một bước phát triển mới ; Bên cạnh đó ,Hiến pháp 1959 còn quy định các vấn đề liên quan đên chức năng, nhiệm vụ cơ cấu tổ chức của bộ máy Nhà nước, thể hiện sự thống nhất ,đồng bộ từ trên xuống dưới, từ Nhà nước tới nhân dân ,mà không thể thiếu vai trò của Pháp luật. Tóm lại ,Hiến pháp 1959 là bản Hiến pháp được xây dựng theo mô hình Hiến pháp Xã hội Chủ Nghĩa,và đó cũng là bản Hiến pháp Xã hội Chủ Nghĩa đầu tiên của nước ta. Đại thắng mùa xuân 1975 đã mở ra một thời kì lịch sử mới cho dân tộc. Nước ta hoàn toàn Độc lập –Tự do ,là điều kiện thuận lợi để thống nhất hai miền Nam- Bắc ,đưa cả nước quá độ lên Chủ nghĩa Xã hội. Trước tình hình đó , Quốc hội khóa VI đã tiến hành sửa đổi Hiến pháp 1959 với những điều khoản phù hợp hơn và Hiến pháp 1980 đã ra đời. Hiến pháp 1980 đã xác định rõ bản chất giai cấp của Nhà nước ta là chuyên chính vô sản với sứ mệnh là thực hiện quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động ,các tổ chức của Đảng phải hoạt động trong khuôn khổ của Hiến pháp và Pháp luật ;Kế tục tư tưởng của Hiến pháp 1959, Hiến pháp 1980 nhấn mạnh quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân ,nhân dân thực hiện quyền lực của mình thông qua Quốc hội và Hội đồng Nhân dân các cấp do nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân .Hiến pháp 1980 cũng quy định :Quốc hội và Hội đồng Nhân dân cũng như các cơ quan Nhà nước khác đều được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ . Ngoài ra ,Hiến pháp còn quy định nguyên tắc pháp chế Xã hội Chủ nghĩa, đây là một quy định hoàn toàn mới so với Hiến pháp 1959. Tại điều 12 Hiến pháp quy định “Nhà nước quản lí Xã hội bằng Pháp luật và không ngừng tăng cường pháp chế Xã hội Chủ nghĩa” , Quốc hội là cơ quan quyền lực cao nhất ,cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp, quy định về quyền và lĩnh vực hoạt động của các cơ quan trong bộ máy Nhà nước… Trên cơ sở kế thừa và phát triển Hiến pháp 1946, Hiến pháp 1959. Hiến pháp 1980 một mặt ghi nhận lại quyền và nghĩa vụ của công dân (trong hai Hiến pháp trước ); mặt khác ,Hiến pháp 1980 đã xác định thêm một số quyền và nhiệm vụ mới phù hợp với nền dân chủ Xã hội Chủ Nghĩa như: Quyền tham gia quản lí công việc của Nhà nước và Xã hội (Điều 56) Quyền được khám chữa bệnh không mất tiền (Điều 61) ,Quyền được học tập không phải trả tiền (Điêu 60) … Tất cả các quyền công dân đó đã góp phần đảm bảo cho tư tưởng dân chủ của Nhà nước Việt Nam dân chủ Cộng Hòa càng thêm sáng tỏ,nhân dân được hưởng các quyền lợi chính đáng của mình ,tạo tiền đề cho việc xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc, đảm bảo cho hoạt động của bộ máy Nhà nước được thông suốt. Đó là Hiến pháp thể hiện ý chí của nhân dân hai miền Nam –Bắc ,một lòng đoàn kết cùng tiến lên Chủ nghĩa Xã hội… Trên bước đường xây dựng Chủ nghĩa Xã hội ,Hiến pháp 1980 đã thể hiện một số hạn chế ,Hiến pháp 1992(sửa đổi bổ sung 2001) đã khắc phục những nhược điểm đó và tới thời điểm hiện tại ,Hiến pháp 1992 vẫn là văn bản có giá trị và hiệu lực pháp lí cao nhất ,thể hiện rõ bản chất của Nhà nước Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam –mô hình Nhà nước Pháp quyền. Đáng chú ý hơn cả là quyền và nghĩa vụ của công dân : So với Hiến pháp 1980 ,Hiến pháp 1992 có quy định nhiều điều hơn về quyền và nghĩa vụ công dân ,khắc phục thiếu sót của Hiến pháp trước .Hiến pháp 1992 lần đầu tiên quy định “Các quyền con người về chính trị ,dân sự ,kinh tế ,văn hóa ,xã hội được tôn trọng “ (Điều 50) , xác lập quyền tự do kinh doanh (Điều 57), Quyền sỡ hữu về tư liệu sản xuất ,vốn và tài sản khác … Và tất nhiên ,tất cả các quyền công dân này đều được giới hạn trong phạm vi của Pháp luật ,mọi hoạt động của công dân sẽ chịu sự giám sát của Pháp luật quản lí ; Hiến pháp 1992 cũng hoàn chỉnh lại vai trò lãnh đạo của bộ máy Nhà nước ,trong đó Đảng Cộng Sản Việt Nam đóng vai trò tiên phong . Nhìn chung , Hiến pháp 1992 (sửa đổi bổ sung 2001) là bản Hiến pháp hoàn chỉnh ,là văn bản có giá trị pháp lí cao nhất, đóng vai trò quan trọng cho việc xây dựng thiết chế Xã hội Chủ nghĩa tại Việt Nam. KẾT LUẬN: Trải qua các hình thái xã hội ,các mô hình Nhà nước ,hình thái Nhà nước Pháp quyền đã được hình thành tại nước ta ,đó là mô hình Nhà nước mang nội dung dân chủ, quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân, xã hội được quản lí bởi Pháp luật … Sự ra đời của Nhà nước Pháp quyền tại Việt Nam còn là kết quả của sự vận dụng sáng tạo do Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng Cộng Sản Việt Nam tiếp thu các tư tưởng pháp quyền tiến bộ trên thế giới… III- Đặc điểm Nhà nước Pháp quyền Xã hội Chủ nghĩa ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay : Khái niệm về Nhà nước Pháp quyền Xã hội Chủ nghĩa lần đầu tiên được nhắc đến do ông Đỗ Mười tại hội nghị lần thứ hai –ban chấp hành trung ương khóa VII và gần gần đây được nhắc đến , được bàn bạc trong nhiều cuộc họp cấp cao ở Việt Nam .Về cơ bản, khái niệm này được hình thành trên cơ sở thống nhất chung về “Khái niệm Nhà nước Pháp quyền” trên thế giới ;Tuy nhiên ,đó còn là sự vận dụng sáng tạo ,phù hợp vào điều kiện, hoàn cảnh của đất nước . Nhà nước Pháp quyền Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam ngoài việc đảm bảo các tiêu chí của Nhà nước Pháp quyền nói chung , Nhà nước Pháp quyền nói riêng còn có một số đặc điểm sau: 1-Về quá trình hình thành và phát triển ,Nhà nước Pháp quyền Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam được hình thành trên cơ sở đánh đổ chế độ thực dân phong kiến ,không kinh qua giai đoạn phát triển của Chủ nghĩa Tư bản ,đây là đặc điểm rất quan trọng, cho chung ta thấy rõ điểm xuất phát của quá trình xây dựng Nhà nước cùng với những khó khăn ,yếu kém của hạ tầng cơ sở và thượng tầng kiến trúc xã hội .Qua mấy chục năm phấn đấu ,xây dựng và đổi mới phương thức tổ chức và hoạt động ,đến Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kì khóa VII (1994) lần đầu tiên trong văn bản chính thức của Đảng ,chúng ta mới xác định việc xây dựng Nhà nước Pháp quyền Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam của dân ,do dân và vì dân . 2-Nhà nước Pháp quyền Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam của dân ,do dân và vì dân .Đây là đặc điểm rất quan trọng mà nhà nước pháp quyền Tư sản không thể có được.Thực chất đặc điểm này của Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa Việt Nam nhằm bảo đảm tính giai cấp, tính nhân dân của Nhà nước ta.Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân và do nhân dân tự định đoạt, nhân dân quyết định phương thức tổ chức, xây dựng và vận hành của bộ máy quyền lực Nhà nước nhằm đáp ứng ngày càng cao lợi ích của nhân dân và của toàn dân tộc. Điều này thể hiện tính ưu việt của chế độ Xã hội chủ nghĩa so với các chế độ khác. 3_Trong Nhà nước pháp quyền chủ nghĩa Việt Nam, quyền lực Nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan chức năng của Nhà nước để thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Đây là phương thức tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước rất mới mẻ , chúng ta phải lấy hiệu quả thực tiễn để kiểm nghiệm. Về nguyên tắc, chúng ta không thừa nhận học thuyết “tam quyền phân lập”vì nó máy móc, thô cứng theo kiểu các quyền hoàn toàn độc lập, không có sự phối hợp, thậm chí đi đến đối lập, hạn chế sức mạnh của cơ quan lập pháp,hành pháp và tư pháp.Tuy nhiên, chúng ta cũng không thể trở lại với nguyên tắc tập quyền, tức là tập trung toàn bộ quyền cao nhất của nhà nước lập pháp ,hành pháp và tư pháp cho một cá nhân hoặc một cơ quan tổ chức nhà nước. bởi vì, chúng ta làm như vậy là đi ngược lại sự tiến bộ của nhân loại. Vấn đề đặt ra yêu cầu chúng ta phải nghiên cứu giải quyết đó là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam phải có sự phân công ,phân định thẩm quyền cho rõ ràng,minh bạch để thực hiện có hiệu quả với chất lượng cao ba quyền, tránh tình trạng chồng chéo, tùy tiện lạm quyền… Theo Hiến pháp và pháp luật, Quốc hội là cơ quan duy nhất đươc giao thực hiện thẩm quyền lập pháp, bên cạnh đó Quốc hội còn được giao thực hiện 13 nhiệm vụ nữa(Điều 12 Luật tổ chức Quốc hội năm 2001); Chính phủ được phân công thực hiện thẩm quyền hành pháp;Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao được phân công thực hiện thẩm quyền tư pháp. Như vậy Chính phủ, Viện kiển sát nhân dân tối cao,Tòa án dân nhân tối cao không phải là cơ quan đươc giao nhiệm vụ lập pháp, nhưng hiện nay Luật Tổ chức Chính phủ, luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân tối cao,Luật Tổ chức Tòa án nhân dân lại quy định các cơ quan đó trình các dự án luật, pháp lệnh trước Quốc hội và Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Có ý kiến cho rằng, không nên giao cho Chính phủ ,Viện kiểm sát nhân dân ,Tòa án nhân dân tối cao chủ trì soạn thảo và trình Quốc hội các dự án luật,pháp lệnh vì đây là thẩm quyền của Quốc hội và Uỷ ban Thường vụ Quốc hội; hơn nữa,khái niệm lập pháp phải bao hàm toàn bộ nội dung của quá trình soạn thảo dự án luật, thông qua và ban hành luật, có như vậy mới bảo đảm tính khách quan toàn diện và chất lượng của văn bản pháp luật. 4_Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam tổ chức và hoạt dộng theo nguyên tắc tập trung dân chủ. Một trong số nội dung cơ bản nhất của nguyên tắc tập trung dân chủ là thiểu số phục tùng đa số, cấp dưới phục tùng cấp trên. Tập trung dân chủ được thể hiện trong quá trình tổ chức và xây dựng bộ máy nhà nước.Tuy nhiên khi áp dụng nguyên tắc này cần cân nhắc,xem xét các điều kiện cần và đủ để phát huy tác dụng, hiệu quả tích cực của nguyên tắc này; đặc biệt phải lưu ý đến quyền hạn và trách nhiệm cá nhân trong việc thực hiện công vụ của bộ máy công quyền hiện nay. 5_ Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam có trách nhiệm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, công dân phải làm tròn nghĩa vụ của mình đối với nhà nước và xã hội. Mối quan hệ qua lại giữa nhà nước với công dân, giữa dân chủ với kỉ cương trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam phải do pháp luật quy định và điềi chỉnh. Đây là một đặc điểm quan trọng, xuyên suốt trong toàn bộ quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền hiện nay và phải được thực hiện trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. 6_Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam quản lý xã hội chủ yếu bằng pháp luật, không ngừng tăng cường và đổi mới công tác lập pháp ,hành pháp và tư pháp; đồng thời,thường xuyên quan tâm đến việc tuyên truyền ,giáo dục pháp luật,nâng cao ý thức pháp luật cho nhân dân. 7_Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo nhà Nước và xã hội. Đây là đặc điểm nổi bật của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam được Hiến pháp ghi nhận và nhân dân Việt Nam đồng tình ủng hộ. Đảng lãnh đạo nhà nước thông qua cương lĩnh ,đường lối, chính sách được thể chế bằng pháp luật. Đảng không làm thay Nhà nước và phải hoạt động trong khuôn khổ của Hiến pháp và pháp luật. Đảng không ngừng đổi mới phương thức lãnh đạo của mình nhằm tạo đều kiện cho bộ máy nhà nước hoạt động có hiệu quả, đặc biệt trong điều kiện xây nền dựng kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Mặt khác,Đảng không ngừng đổi mới công tác tổ chức và xây dựng bộ máy để bảo đảm Đảng vẫn giữ được vai trò lãnh đạo nhà nước, nhưng không chồng chéo với các cơ quan chức năng tương ứng trong bộ máy của Quốc hội, Chính phủ và các cơ quan tư pháp. Sự kết hợp giữa các đặc điểm chung trên thế giới với các đặc điểm riêng phù hợp với thực trạng đất nước Việt Nam đã và đang từng bước trên con đường xây dựng Chủ nghĩa xã hội ,với mô hình Nhà nước pháp quyền, nền dân chủ ở Việt Nam đã đảm bảo được những vấn đề cơ bản về quyền con người.Tiêu chí xã hội mang tính nhân văn.Mà trong đó,Pháp luật là thước đo cơ bản, là cách thức, biện pháp cho việc vận hành bộ máy nhà nước. IV_ SỰ KHÁC NHAU GIỮA NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VỚI NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN TƯ SẢN Như chúng ta đã biết, Nhà nước pháp quyền là mô hình nhà nước mang tính dân chủ, đặc biệt hơn, mô hình nhà nước này chỉ tồn tại trong xã hội có tính dân chủ ,đó có thể là dân chủ Tư sản hoặc dân chủ Xã hội chủ nghĩa.Trên cơ sở các tiêu chí chung về Nhà nước pháp quyền ,chúng ta có thể nhận thấy tương đối rõ ràng sự khác nhau giữa Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa với Nhà nước pháp quyền Tư sản: 1_ Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và Nhà nước pháp quyền Tư sản đều phải thừa nhận phương thức tổ chức, xây dựng và vận hành bộ máy nhà nước do Pháp luật quy định. Tuy nhiên, bản chất và nội dung pháp luật về tổ chức, xây dựng và vận hành bộ máy nhà nước đó có nhiều khác nhau cơ bản. Rõ nhất là sự khác nhau trong các quy phạm của Hiến pháp và pháp luật về tổ chức ,cơ cấu nhân sự và việc xây dựng,vận hành bộ máy quyền lực như: Quốc hội và Nghị viện,Tổng thống và Chủ tịch nước,Thủ tướng Chính phủ,Tòa án,Tóa án hiến pháp…Pháp luật trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa thừa nhận tất cả các quyền lực của Nhà nước thuộc về nhân dân, do nhân dân bầu ra các cơ quan quyền lực (Quốc hội,Chính phủ…)chỉ có nhân dân trực tiếp hoặc thông qua các đại biểu của mình là chủ thể duy nhất có quyền tuyên bố ,chấm dứt hoạt động của Quốc hội,Chính phủ hoặc tổ chức ra Quốc hội,Chính phủ nhiệm kì mới.Trong khi đó,Hiến pháp và Pháp luật Tư sản lại thừa nhận quyền lực cá nhân, Tổng thống hoặc cá nhân Thủ tướng có quyền giải tán Nghị viện (Quốc hội) hoặc giải tán Chính phủ… 2_Trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, Nhà nước và công dân đều phải thừa nhận tính tối cao của Pháp luật vì Pháp luật Xã hội chủ nghĩa thể hiện ý chí ,nguyện vọng của toàn thể nhân dân. Trong Nhà nước pháp quyền Tư sản, Nhà nước và công dân cũng phải thừa nhận tính tối cao của Pháp luật,nhưng Pháp luật Tư sản không phải là Pháp luật của toàn dân, nó không thể hiện đầy đủ ý chí, nguyện vọng của toàn dân mà chỉ phản ánh ý chí,nguyện vọng của một bộ phận nhân dân là những người giàu và giai cấp Tư sản. Nói cách khác,luật pháp của Nhà nước pháp quyền Tư sản chỉ bảo vệ lợi ích cho giai cấp Tư sản và gạt ra ngoài lề quyền lợi người lao động.Những người bị áp bức bóc lột. Đây là nội dung khác biệt cơ bản nhất giữa Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và Nhà nước pháp quyền Tư sản. 3_Nhà nước pháp quyền Tư sản coi thuyết “Tam quyền phân lập”là học thuyết cơ bản trong việc thực hiện quyền lực Nhà nước, các cơ quan lập pháp,hành pháp và tư pháp hoàn toàn độc lập với nhau trong việc thực hiện 3 quyền:lập pháp, hành pháp và tư pháp. Nhà nước pháp quyền không chấp nhận việc phân chia quyền lực mà coi quyền lực Nhà nước là thống nhất và thuộc về nhân dân. Trong đó có sự phân công và phối hợp để thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp nhằm đảm bảo cho quyền lực nhà nước thống nhất, được thực hiện với hiệu quả cao nhất. Về hệ thống pháp luật của Nhà nước pháp quyền Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam và Nhà nước pháp quyền tư sản cũng có nhiều điểm khác nhau. Bên cạnh sự khác nhau về tính giai cấp, Nhà nước pháp quyền Xã hội Chủ Nghĩa Việt Nam chỉ công nhận các quy phạm pháp luật khi nó được sự xác lập và thông qua theo một trình tự và thủ tục nhất định ; trong khi đó, Nhà nước pháp quyền tư sản thường coi các loại “ tập quán” như một quy phạm pháp luật “ bất thành văn”. Như vậy, xét về mặt bản chất Nhà nước pháp quyền Xã Hội Chủ Nghĩa và Nhà nước pháp quyền tư sản đều mang tính dân chủ, nhưng Nhà nước pháp quyền Xã Hội Chủ Nghĩa và Nhà nước pháp quyền tư sản không hoàn toàn giống nhau: Nhà nước pháp quyền tư sản còn nhiều hạn chế về quyền dân chủ, vấn đề “ pháp quyền” thiếu đồng bộ vì thế Nhà nước pháp quyền tư sản không thể trở thành mô hình Nhà nước kiểu mẫu. trong khi đó nhà nước pháp quyền Xã Hội Chủ nghĩa thể hiện nhiều nét tích cực hơn, dân chủ và tiến bộ hơn. Tuy nhiên nhà nước pháp quyền vẫn chưa phải là mô hình phổ biến trong giai đoạn hiện nay. Vậy vấn đề được đặt ra là : “ tại sao nhà nước pháp quyền Xã Hội Chủ Nghĩa đó không trở thành hiện tượng phổ biến?” phải khẳng định nhà nước pháp quyền là sản phẩm của nền dân chủ về chính trị, tại đó con người tự do trong việc lựa chọn các khuynh hướng chính trị, khi đó sẽ rất khó khăn cho việc xây dựng một nền dân chủ, mà chắc hẳn nhà nước phi dân chủ thì không thể xây dựng nên nhà nước pháp quyền. Đó là bởi vì những quốc gia này pháp luật không phải là sản phẩm của sự thỏa thuận xã hội mà lại là những kết quả của ngẫu hứng chính trị. Nói cách khác toàn bộ quá trình lập pháp, hành pháp và tư pháp ở những nhà nước phi chính phủ thường bị thao túng bởi lực lượng chính trị nhất định, không rành mạch về nguyên tắc và không hợp pháp về địa vị. rõ ràng, chừng nào pháp luật còn bị xây dựng và sửa đổi dựa trên những nhận thức chính trị chủ quan của những người cầm quyền thì không thể nào tạo ra trạng thái ổn định của quyền lực pháp luật, tức là không thể xây dựng nhà nước pháp quyền theo đúng nghĩa. Kết luận chung Cùng nhìn lại tiến trình phát triển lịch sử nhân loại với sự ra đời và phát triển của nhà nước, tư tưởng về nhà nước pháp quyền đã được hình thành từ rất lâu. Nhà nước pháp quyền là nhà nước dựa trên pháp luật và luôn đảm bảo vấn đề dân chủ. ở Việt Nam, mô hình nhà nước pháp quyền dân chủ đã được Đảng và Chính phủ vận dụng s

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docLDOCS (143).doc
Tài liệu liên quan