Tiểu luận Thẩm quyền của trọng tài thương mại trong việc giải quyết các tranh chấp thương mại theo pháp luật Việt Nam hiện hành

MỤC LỤC

 

LỜI NÓI ĐẦU 1

NỘI DUNG 3

I. Khái quát chung về trọng tài thương mại 3

1. Khái niệm trọng tài thương mại 3

2. Các hình thức trọng tài thương mại: 4

2.1. Trọng tài vụ việc 4

2.2. Trọng tài thường trực 5

3. Các nguyên tắc giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài thương mại 7

3.1. Nguyên tắc thỏa thuận trọng tài 7

3.2. Nguyên tắc trọng tài viên độc lập, vô tư, khách quan 8

3.3. Nguyên tắc trọng tài viên phải căn cứ vào pháp luật 8

3.4. Nguyên tắc trọng tài viên phải tôn trọng sự thỏa thuận của các bên 9

3.5. Nguyên tắc giải quyết một lần 10

II. Thẩm quyền của trọng tài thương mại 10

1. Tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của trọng tài thương mại phải là tranh chấp thương mại giữa các cá nhân, tổ chức kinh doanh 11

2. Giữa các bên tranh chấp phải có thỏa thuận trọng tài hợp lệ 12

2.1. Thỏa thuận trọng tài 12

2.2. Thỏa thuận trọng tài hợp lệ 13

III. Ưu điểm và nhược điểm của trọng tài thương mại so với tòa án trong việc giải quyết các tranh chấp thương mại 18

1. Ưu điểm 18

2. Nhược điểm 19

IV. Thực trạng việc áp dụng hình thức trọng tài thương mại trong việc giải quyết các tranh chấp thương mại ở Việt Nam 19

V. Một số giải pháp chung để hoàn thiện hình thức trọng tài thương mại trong việc giải quyết các tranh chấp thương mại 23

KẾT LUẬN 25

TÀI LIỆU THAM KHẢO 27

 

 

doc28 trang | Chia sẻ: maiphuongdc | Ngày: 22/01/2014 | Lượt xem: 8269 | Lượt tải: 80download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Tiểu luận Thẩm quyền của trọng tài thương mại trong việc giải quyết các tranh chấp thương mại theo pháp luật Việt Nam hiện hành, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ét một vụ tranh chấp bằng hình thức trọng tài thương mại. 3.2. Nguyên tắc trọng tài viên độc lập, vô tư, khách quan Một số tổ chức trọng tài yêu cầu trọng tài viên xác nhận bằng văn bản rằng họ đang và sẽ độc lập với các bên và yêu cầu trọng tài viên trình bày bất kỳ sự kiện hoặc chi tiết nào có thể khiến các bên nghi ngờ về tính độc lập của họ. Điều này cho thấy, việc giải quyết tranh chấp một cách công bằng, tính độc lập của các trọng tài viên đối với các bên là vấn đề được quan tâm đặc biệt. Trọng tài viên phải có đủ cách điều kiện nhất định để đảm bảo rằng họ độc lập, vô tư, khách quan trong việc giải quyết tranh chấp. Để trở thành một trọng tài viên của một trung tâm trọng tài, công dân Việt Nam cần hội tụ đầy đủ những điều kiện quy định tại điều 12 Pháp lệnh trọng tài thương mại. Khi tham gia giải quyết tranh chấp thương mại, trọng tài viên phải thật sự là người thứ ba độc lập, vô tư, không liên quan đến các bên có tranh chấp cũng như không có bất kỳ lợi ích nào dính dáng đến vụ tranh chấp đó. Nếu vi phạm những quy định trên, trọng tài viên phải từ chối giải quyết vụ tranh chấp hoặc các bên có quyền yêu cầu đổi trọng tài viên vụ tranh chấp. Trong quá trình giải quyết tranh chấp, trọng tài viên phải căn cứ vào các tình tiết của vụ tranh chấp, xác mình sự việc nếu thấy cần thiết và phải căn cứ vào các chứng cứ mà mình thu thập được chứ không thể bị chi phố bởi bất kỳ tổ chức, cá nhân nào. Không ai có quyền can thiệp, chỉ đạo vào việc giải quyết tranh chấp của trọng tài viên. Quyết định của trọng tài viên phải đúng với sự thật khách quan. Tại điều 54 Pháp lệnh trọng tài thương mại 2003 còn quy định: Nếu trọng tài viên không vô tư, không khách quan trong việc giải quyết tranh chấp thương mại, vi phạm nghĩa vụ của trọng tài viên thì quyết định của hội đồng trọng tài có trọng tài viên đó sẽ bị hủy bỏ. 3.3. Nguyên tắc trọng tài viên phải căn cứ vào pháp luật Đây được coi là một nguyên tắc rất quan trọng trong mọi thủ tục tố tụng cũng như giải quyết mọi vấn đề của đời sống xã hội trong điều kiện nhà nước pháp quyền. Vì vậy, để giải quyết tranh chấp thương mại một cách công bằng, hợp lý, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của các bên; trọng tài viên – người được các bên có tranh chấp lựa chọn để giải quyết tranh chấp phải căn cứ theo pháp luật. Nếu trọng tài viên không căn cứ vào pháp luật, nhận hối lộ hoặc có hành vi vi phạm đạo đức trọng tài viên thì các bên có quyền yêu cầu thay đổi trọng tài. Tư tưởng chỉ đạo đối với trọng tài viên là pháp luật, chỉ có căn cứ vào pháp luật, trọng tài viên mới giải quyết được các tranh chấp một cách vô tư, khách quan. Có như vậy mới được các nhà kinh doanh tín nhiệm. 3.4. Nguyên tắc trọng tài viên phải tôn trọng sự thỏa thuận của các bên Các bên tranh chấp có quyền thỏa thuận với nhau về nhiều vấn đề liên quan đến thủ tục giải quyết tranh chấp mà trọng tài viên phải tôn trọng, nếu không sẽ dẫn đến hậu quả là quyết định của hội đồng trọng tài sẽ bị tòa án hủy theo yêu cầu của các bên. Có thể thấy rằng, thông qua thỏa thuận trọng tài, quyền hạn của hội đồng trọng tài trong việc giải quyết tranh chấp là do các bên giao cho họ. Cụ thể như: Các bên thỏa thuận chọn trung tâm trọng nào nào, hình thức trọng tài nào thì chỉ có trung tâm trọng tài đó và hình thức trọng tài đó có thẩm quyền giải quyết. Các bên lựa chọn trọng tài viên nào thì trọng tài viên đó có quyền giải quyết. Các bên thỏa thuận vụ tranh chấp do một trọng tài viên duy nhất giải quyết thì chỉ có trọng tài viên duy nhất đó có quyền giải quyết. Các bên có quyền thỏa thuận địa điểm giải quyết vụ tranh chấp. Các bên có quyền thỏa thuận thời hạn thực hiện các thủ tục cần thiết cho việc giải quyết. Các bên có quyền thỏa thuận thời gian mở phiên họp giải quyết vụ tranh chấp. Như vậy, có thể thấy nguyên tắc tôn trọng sự thỏa thuận của các bên tham gia tranh chấp là một trong những nguyên nhắc tiên quyết của việc áp dụng hình thức trọng tài thương mại. Và chỉ có trong tố tụng trọng tài – hình thức giải quyết tranh chấp do các bên lựa chọn, các bên mới có quyền thỏa thuận nhiều vấn đề như vậy và trọng tài viên bắt buộc phải tuân theo. 3.5. Nguyên tắc giải quyết một lần Một trong những mục đích quan trọng nhất của việc giải quyết tranh chấp thương mại là nhanh chóng, tránh dây dưa kéo dài, làm ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp. Chính vì vậy mà ngày nay, để các tranh chấp thương mại giữa các nhà kinh doanh có thể được giải quyết nhanh chóng và dứt điểm, các tổ chức trọng tài phi chính phủ đã ra đời để đáp ứng yêu cầu đó của các nhà kinh doanh. Với tư cách là một tổ chức phi chính phủ, trọng tài thương mại không có cơ quan cấp trên nên phán quyết của trọng tài có giá trị chung thẩm, không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm như bản án sơ thẩm của tòa án, cũng không có thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm. Tố tụng trọng tài chỉ có một trình tự giải quyết, tức là các tranh chấp thương mại chỉ được giải quyết một lần tại trọng tài. Nếu quyết định của trọng tài không bị tòa án hủy bỏ theo đơn yêu cầu của một trong các bên mà bên phải thi hành không tự nguyện thi hành thì sau thời hạn 30 ngày, kể từ ngày hết thời hạn thi hành quyết định trọng tài, bên được thi hành quyết định trọng tài có quyền làm đơn yêu cầu cơ quan thi hành án cấp tỉnh nơi có trụ sở, nơi cư trú hoặc nơi có tài sản của bên phải thi hành, thi hành quyết định trọng tài. II. Thẩm quyền của trọng tài thương mại Trọng tài thương mại được thành lập là để giải quyết các tranh chấp thương mại. Nhưng tranh chấp thương mại cũng chỉ có thể thuộc thẩm quyền giải quyết của trọng tài thương mại nếu các bên có tranh chấp có thỏa thuận trọng tài và thỏa thuận trọng tài này có hiệu lực. Khác với thẩm quyền của tòa án, thẩm quyền của trọng tài chỉ là thẩm quyền vụ việc, nếu được các bên có “vụ việc” lựa chọn đích danh. Các nguyên tắc phân định thẩm quyền theo lãnh thổ, theo trụ sở hoặc chỗ ở của bị đơn và theo sự thỏa thuận của nguyên đơn không được áp dụng trong tố tụng trọng tài. Thẩm quyền của trọng tài không được phân định theo lãnh thổ, vì các bên có tranh chấp có quyền thỏa thuận lựa chọn bất kỳ một tổ chức trọng tài nào để giải quyết tranh chấp cho họ, không phụ thuộc vào nơi ở cũng như trụ sở của nguyên đơn hay bị đơn, cũng không phân định theo cấp xét xử, vì chỉ có một cấp trọng tài và lại càng không phân định theo sự lựa chọn của nguyên đơn, vì trọng tài chỉ có thẩm quyền giải quyết nếu các bên có thỏa thuận trọng tài. Khi các bên đã thỏa thuận đưa vụ tranh chấp ra giải quyết bằng con đường trọng tài, tức là họ đã trao cho hội đồng trọng tài thẩm quyền giải quyết tranh chấp và phủ định thẩm quyền xét xử đó của tòa án trừ khi thỏa thuận trọng tài vô hiệu hoặc các bên hủy thỏa thuận trọng tài. Nói tóm lại, trọng tài thương mại có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp nào được pháp luật quy định là tranh chấp thương mại, tranh chấp này phát sinh trong hoạt động thương mại giữa cá nhân kinh doanh và tổ chức kinh doanh và các bên có thỏa thuận trọng tài. Nếu thiếu 1 trong 2 điều kiện trên, vụ việc sẽ không thuộc thẩm quyền giải quyết của trọng tài thương mại. Sau đây, trên cơ sở Pháp lệnh trọng tài thương mại 2003 và các văn bản pháp luật hiện hành có liên quan, chúng ta sẽ cùng tìm hiểu sâu hơn về thẩm quyền của trọng tài thương mại thông qua 2 điều kiện trên: 1. Tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của trọng tài thương mại phải là tranh chấp thương mại giữa các cá nhân, tổ chức kinh doanh Như ta đã biết, trong hoạt động giao kết hợp đồng giữa 1 bên là thương nhân với một bên là các cá nhân, tổ chức (không phải là thương nhân), nếu có phát sinh tranh chấp thì Luật thương mại 2005 cho phép bên có hoạt động không nhằm mục đích sinh lợi (bên có hành vi dân sự) có thể chọn áp dụng Luật thương mại để giải quyết. Về bản chất, hoạt động không nhằm mục đích sinh lợi của một bên trong giao dịch với thương nhân không phải là hoạt động thương mại thuần túy nhưng bên không nhằm mục đích sinh lợi đã chọn áp dụng Luật thương mại thì quan hệ này trở thành quan hệ pháp luật thương mại và tranh chấp phát sinh từ quan hệ này phải được quan niệm là tranh chấp thương mại. Ví dụ như: tranh chấp giữa công ty với thành viên công ty hay tranh chấp giữa các thành viên công ty với nhau thực chất là tranh chấp thương mại hiểu theo nghĩa rộng vì tranh chấp này phát sinh từ hoạt động đầu tư với mục đích sinh lợi. Tuy nhiên, theo quy định của pháp luật hiện hành, loại tranh chấp nói trên không thuộc thẩm quyền của trọng tài vì không thỏa mãn điều kiện các bên tranh chấp là cá nhân kinh doanh hoặc tổ chức kinh doanh (điều 2 Nghị định số 25/2004/NĐ – CP ngày 15/01/2004 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của pháp lệnh trọng tài thương mại) và cũng không thuộc loại tranh chấp về kinh doanh, thương mại theo điều 29 Bộ luật tố tụng dân sự 2004. Bởi vậy, tranh chấp này theo pháp luật Việt Nam hiện hành thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa dân sự, song bên có hoạt động không nhằm mục đích sinh lợi có thể chọn áp dụng Luật thương mại để giải quyết. Tương tự, các tranh chấp về sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ cũng chỉ thuộc thẩm quyền của trọng tài khi các bên tranh chấp là cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh. Tóm lại, trọng tài thương mại Việt Nam chỉ có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp phát sinh trong hoạt động thương mại giữa các bên là cá nhân kinh doanh hoặc tổ chức kinh doanh. Như vậy, so với pháp luật một số nước trên thế giới, pháp luật Việt Nam ta không mở rộng hoàn toàn thẩm quyền của trọng tài thương mại.1 Pháp luật về trọng tài của Ailen quy định trọng tài có thẩm quyền giải quyết mọi tranh chấp hợp đồng nếu các bên có thoả thuận, trừ hợp đồng lao động. Thậm chí trọng tài còn có thẩm quyền giải quyết đối với những yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. 2. Giữa các bên tranh chấp phải có thỏa thuận trọng tài hợp lệ 2.1. Thỏa thuận trọng tài Trước hết, có thể hiểu thỏa thuận trọng tài là thỏa thuận giữa các bên về việc giải quyết bằng trọng tài các vụ tranh chấp có thể phát sinh hoặc đã phát sinh trong hoạt động thương mại. Như vậy, các bên có thể thỏa thuận trọng tài trước khi có tranh chấp hoặc sau khi có tranh chấp. Khác với việc giải quyết tranh chấp tại tòa án – cơ quan tài phán nhà nước, khi có tranh chấp phát sinh, bên có quyền và lợi ích hợp pháp bị vi phạm có quyền đệ đơn yêu cầu tòa án có thẩm quyền giải quyết mà không cần có sự thỏa thuận trước, việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài đòi hỏi phải có sự thỏa thuận của các bên. Nguyên tắc chung là “không có thỏa thuận giải quyết bằng phương thức trọng tài, không có tố tụng trọng tài”. Thỏa thuận trọng tài có thể là một thỏa thuận riêng hoặc là thỏa thuận trong hợp đồng và phải được lập thành văn bản. Các hình thức thỏa thuận qua thư, điện báo, Telex, Fax, thư điện tử hoặc hình thức văn bản khác thể hiện ý chí của các bên giải quyết vụ tranh chấp bằng trọng tài đều được coi là thỏa thuận trọng tài. Ngay cả khi hợp đồng giữa các bên không được thể hiện bằng văn bản thì thỏa thuận trọng tài vẫn phải lập thành văn bản. Khi nộp đơn kiện cho trung tâm trọng tài, nguyên đơn phải nộp kèm theo thỏa thuận trọng tài. Nếu không có thỏa thuận trọng tài, trung tâm trọng tài sẽ không có thẩm quyền giải quyết. 2.2. Thỏa thuận trọng tài hợp lệ Thỏa thuận trọng tài hợp lệ là thỏa thuận trọng tài đó không bị vô hiệu. Điều này có nghĩa là, ngay cả khi có thỏa thuận trọng tài nhưng nếu thỏa thuận trọng tài đó vô hiệu thì trọng tài cũng không có thẩm quyền giải quyết. Các trường hợp thỏa thuận trọng tài vô hiệu được quy định tại điều 10 Pháp lệnh trọng tài thương mại 2003. Sau đây, trên cơ sở điều 10 Pháp lệnh trọng tài thương mại 2003, chúng ta sẽ cùng tìm hiểu về các trường hợp thỏa thuận trọng tài vô hiệu, từ đó kéo theo việc loại trừ thẩm quyền của trọng tài thương mại để giải quyết tranh chấp trong những trường hợp này: - Thứ nhất, tranh chấp phát sinh không thuộc hoạt động thương mại (ví dụ: tranh chấp hợp đồng dịch vụ pháp lý giữa văn phòng luật sư hoặc công ty luật sư với doanh nghiệp. Pháp luật Việt Nam không quan niệm đây là tranh chấp kinh doanh, thương mại). Với cách quy định này dường như nhà làm luật có sự trùng lặp giữa thỏa thuận trọng tài không có hiệu lực với vụ việc không thuộc thẩm quyền của trọng tài? Bản thân lí do tranh chấp không thuộc hoạt động thương mại đã loại trừ thẩm quyền của trọng tài. Như vậy, quy định thỏa thuận trọng tài bị vô hiệu trong trường hợp này thực sự không có ý nghĩa. - Thứ hai, người kí thỏa thuận trọng tài không có thẩm quyền kí kết. Quy định này cần được hiểu ở hai khía cạnh. Ở khía cạnh thứ nhất, một bên kí thỏa thuận trọng tài không có năng lực chủ thể (ví dụ: chi nhánh, văn phòng đại diện). Ở khía cạnh thứ hai, người kí thỏa thuận trọng tài không phải là người đại diện hợp pháp cho pháp nhân hoặc kí thay cá nhân không được ủy quyền. - Thứ ba, một bên kí thỏa thuận trọng tài không có năng lực hành vi dân sự đầy đủ (người chưa thành niên, mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự). - Thứ tư, thỏa thuận trọng tài không quy định hoặc quy định không rõ về đối tượng tranh chấp hay tổ chức trọng tài có thẩm quyền giải quyết vụ tranh chấp mà sau đó các bên không có thỏa thuận bổ sung. (ví dụ: Điều khoản trọng tài ghi chung chung như “Tranh chấp giữa các bên được giải quyết tại cơ quan trọng tài Việt Nam”). Cốt lõi của thỏa thuận trọng tài là phải thể hiện rõ ý chí và sự thống nhất ý chí của các bên trong việc lựa chọn tổ chức trọng tài có thẩm quyền. Còn những sai sót về mặt kỹ thuật trong soạn thảo điều khoản trọng tài không làm sai lệch ý chí của các bên thì sẽ không không làm cho thỏa thuận trọng tài vô hiệu. (ví dụ: Trong hợp đồng giữa một bên là doanh nghiệp của Việt Nam với một bên là doanh nghiệp nước ngoài có ghi: “Mọi tranh chấp phát sinh giữa các bên được giải quyết tại tòa án trọng tài Việt Nam bên cạnh Phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam”. Thỏa thuận trọng tài này không bị coi là vô hiệu mặc dù khái niệm “tòa án trọng tài” không phù hợp với tên gọi thực của hình thức trọng tài mà các bên hướng tới. Đó là sai sót về mặt kỹ thuật nhưng không làm sai lệch ý chí của các bên trọng việc lựa chọn tổ chức trọng tài, đó là Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam bên canh Phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam. Vì vậy, thỏa thuận này hoàn toàn có hiệu lực. - Thứ năm, thỏa thuận trọng tài không được lập thành văn bản (ví dụ: Các bên thỏa thuận miệng, trao đổi qua điện thoại...) - Thứ sáu, bên kí kết thỏa thuận trọng tài bị lừa dối, bị đe dọa và có yêu cầu tuyên bố thỏa thuận trọng tài đó vô hiệu. Như vậy, thỏa thuận trọng tài bị coi là vô hiệu khi thỏa thuận đó không thể hiện đầy đủ, thể hiện không đúng ý chí của các bên hoặc ý chí của các bên không phù hợp quy định của pháp luật. Thỏa thuận trọng tài vô hiệu không tạo ra thẩm quyền cho trọng tài. Khi đó vụ việc sẽ thuộc thẩm quyền của tòa án. * Những vấn đề cần lưu ý trong việc xác định thẩm quyền của trọng tài thương mại trong hoạt động giải quyết tranh chấp thương mại: Nhằm hướng dẫn nghiệp vụ cho các thẩm phán trong việc phân biệt thẩm quyền giải quyết các vụ tranh chấp phát sinh trong hoạt động thương mại giữa trọng tài và tòa án, từ đó thực hiện các biện pháp hỗ trợ tư pháp đối với hoạt động của trọng tài, Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Nghị quyết số 05/2003/NQ – HĐTP ngày 31/7/2003 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định của Pháp lệnh trọng tài thương mại. Theo đó trong hoạt động thụ lí giải quyết các tranh chấp kinh doanh, thương mại của tòa án, người có thẩm quyền thụ lí cần lưu ý những vấn đề sau trong hoạt động nghiệp vụ: - Thứ nhất, khi có người khởi kiện yêu cầu tòa án giải quyết vụ tranh chấp phát sinh trong hoạt động thương mại, tòa án phải yêu cầu người khởi kiện cho biết trước hoặc sau khi xảy ra tranh chấp các bên có thỏa thuận trọng tài hay không. Đồng thời, tòa án phải kiểm tra, xem xét các tài liệu gửi kèm theo đơn kiện để xác định. Cụ thể, tòa án phải kiểm tra trong hợp đồng có điều khoản trọng tài không hoặc có văn bản nào đó ghi nhận sự thỏa thuận của các bên về việc lựa chọn trọng tài giải quyết tranh chấp không. Thao tác này sẽ giúp cho người thụ lí, ngay từ đầu đã có thể xác định được vụ việc có thỏa thuận trọng tài chưa, tránh trường hợp thụ lí rồi mới phát hiện vụ tranh chấp đã có thỏa thuận trọng tài. - Thứ hai, kiểm tra thỏa thuận trọng tài có bị vô hiệu không. Để kiểm tra thỏa thuận trọng tài bị vô hiệu, người có thẩm quyền thụ lí cần dựa vào điều 10 Pháp lệnh trọng tài thương mại 2003 để xem xét. Tuy nhiên, cần chú ý một số trường hợp sau: ● Thỏa thuận trọng tài do người không có thẩm quyền kí không bị vô hiệu nếu được người có thẩm quyền chấp nhận. Vì vậy, khi phát sinh tranh chấp mà một bên yêu cầu tòa án giải quyết, tòa án cần yêu cầu người có thẩm quyền kí kết thỏa thuận trọng tài cho biết ý kiến bằng văn bản có chấp nhận thỏa thuận trọng tài do người không có thẩm quyền kí kết không. Nếu người có thẩm quyền kí kết đó không chấp nhận thì vụ việc mới thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án. Quy định này được xây dựng trên cơ sở kế thừa Nghị quyết số 04/2003/NQ – HĐTP ngày 27/5/2003 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong việc giải quyết các vụ án kinh tế. Theo Nghị quyết này, hợp đồng do người không có thẩm quyền kí không bị vô hiệu nếu người có thẩm quyền biết và không phản đối. Cũng cần lưu ý đó là sự kế thừa trong xây dựng pháp luật, không phải vì hợp đồng không bị vô hiệu nên hệ quả là điều khoản trọng tài cũng không bị vô hiệu theo. Điều khoản trọng tài tồn tại độc lập với hợp đồng, sự vô hiệu của hợp đồng không ảnh hưởng đến hiệu lực của điều khoản trọng tài. ● Thỏa thuận trọng tài không xác định rõ đối tượng tranh chấp hoặc tổ chức trọng tài cụ thể nào có thẩm quyền cũng không bị vô hiệu nếu sau đó các bên có thỏa thuận bổ sung. Vì vậy, người thụ lí cần kiểm tra giữa các bên có thỏa thuận bổ sung về việc xác định đối tượng tranh chấp hoặc hội đồng trọng tài cụ thể có thẩm quyền giải quyết tranh chấp không. Ví dụ: Trong hợp đồng các bên quy định vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của trọng tài mà không ghi rõ tổ chức trọng tài cụ thể nào có thẩm quyền nhưng sau đó các bên có văn bản thỏa thuận chỉ định rõ tổ chức trọng tài có thẩm quyền là Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam bên cạnh Phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam. Thỏa thuận bổ sung có thể được thể hiện ở một văn bản độc lập như phụ lục hợp đồng, văn bản ghi nhớ giữa hai bên hoặc thể hiện trong công văn, tài liệu trao đổi qua lại trong quá trình thực hiện hợp đồng. - Thứ ba, cần kiểm tra khi được nguyên đơn cho biết bằng văn bản sẽ khởi kiện tại tòa án hoặc khi được tòa án thông báo về việc nguyên đơn đã nộp đơn khởi kiện yêu cầu tòa án giải quyết vụ tranh chấp thì trong thời hạn 7 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản của nguyên đơn hoặc thông báo của tòa án, bị đơn có văn bản phản đối không; có xuất trình được tài liệu chứng minh rằng trước đó các bên đã có thỏa thuận trọng tài không. Sở dĩ như vậy bởi, mặc dù các bên đã có thỏa thuận trọng tài nhưng nếu nguyên đơn kiện ra tòa án mà bị đơn không phải đối thì coi như các bên có thỏa thuận mới là lựa chọn tòa án giải quyết thay cho thỏa thuận trọng tài hoặc bị đơn có phản đối nhưng không chứng minh được giữa các bên đã có thỏa thuận trọng tài thì được coi như là không có thỏa thuận trọng tài. - Thứ tư, cần kiểm tra các bên có thỏa thuận nào khác không, có quyết định của tòa án hủy quyết định trọng tài không. Khi quyết định trọng tài bị hủy thì quyết định trọng tài đó không có giá trị thi hành. Các bên có thể thỏa thuận lại để vụ tranh chấp tiếp tục được giải quyết bởi một hội đồng trọng tài tại trung tâm trọng tài hoặc hội đồng trọng tài do các bên thành lập. Nếu các bên không đạt được sự thỏa thuận thì một bên có thể kiện ra tòa án, khi đó tòa án sẽ có thẩm quyền giải quyết vụ việc này. Tuy nhiên, vấn đề chưa rõ là thời hiệu được xác định như thế nào, thời gian theo kiện tại trọng tài có tính vào thời hiệu khởi kiện hay không? Đây là vấn đề cần được Tòa án nhân dân tối cao có hướng dẫn cụ thể. III. Ưu điểm và nhược điểm của trọng tài thương mại so với tòa án trong việc giải quyết các tranh chấp thương mại 1. Ưu điểm Giải quyết tranh chấp thương mại bằng hình thức trọng tài có một số ưu thế so với giải quyết bằng con đường tòa án, sau đây, chúng ta sẽ cùng tìm hiểu cụ thể về những ưu thế này: - Thứ nhất, trọng tài thương mại là phương thức giải quyết tranh chấp thương mại không mang ý chí quyền lực nhà nước (không nhân danh quyền lực nhà nước như phán quyết của tòa án) mà chủ yếu được giải quyết dựa trên nền tảng ý chí tự định đoạt của các bên tranh chấp hoặc phán quyết của bên thứ ba độc lập (được các bên lựa chọn) theo thủ tục linh hoạt mềm dẻo, từ đó đảm bảo tối đa quyền định đoạt của các bên tranh chấp mà không bị ràng buộc nghiêm ngặt, chặt chẽ bởi thủ tục tố tụng như giải quyết tại tòa án. - Thứ hai, phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mai còn đảm bảo tối đa uy tín cũng như bí mật (xử kín) của các bên tranh chấp, góp phần củng cố và duy trì mối quan hệ hợp tác lâu dài giữa các bên. Điều này là rất quan trọng với các doanh nghiệp vì nó liên quan đến uy tín, thương hiệu của doanh nghiệp. - Thứ ba, các trọng tài viên là những chuyên gia hàng đầu. Ví dụ như Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam có tới 117 trọng tài viên trong nước và 6 trọng tài viên quốc tế là những chuyên gia đầu ngành của hầu hết các ngành trọng yếu. Trình độ của các trọng tài viên thường là tiến sĩ, thấp cũng là cao học và hầu hết đều được đào tạo ở nước ngoài. - Thứ tư, việc xét xử bằng cơ chế trọng tài tuân theo nguyên tắc xét xử một lần nên quyết định của trọng tài thương mại có giá trị chung thẩm. Quyết định của trọng tài thương mại buộc các bên phải thi hành ngay, nếu không sẽ được chuyển sang cơ quan thi hành án dân sự thi hành. Quyết định của trọng tài thương mại không bị kháng cáo kháng nghị. Điều này có nghĩa là ngay sau khi hội đồng trọng tài công bố quyết định trọng tài, các bên phải thi hành quyết định trọng tài, trừ trường hợp một trong các bên làm đơn yêu cầu tòa án hủy quyết định trọng tài đó. 2. Nhược điểm Tuy nhiên, bên cạnh những ưu thế, phương thức giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài thương mại cũng có những khó khăn, trở ngại khó tránh khỏi, đó là: - Thứ nhất, sự thành công của quá trình giải quyết tranh chấp bằng con đường trọng tài thương mại chủ yếu phụ thuộc vào thái độ thiện chí và hợp tác của các bên tranh chấp. Mà các doanh nghiệp ở nước ta hiện nay vẫn chưa thực sự quan tâm nhiều đến việc lường trước các tranh chấp sẽ phát sinh nên vẫn còn tình trạng mơ hồ về hình thức trọng tài thương mại nói riêng, cũng như các phương thức giải quyết tranh chấp khác nói chung. - Thứ hai, việc thực thi các kết quả đã đạt được trong quá trình giải quyết tranh chấp bằng con đường trọng tài phần lớn phụ thuộc vào sự tự nguyện thi hành của bên có nghĩa vụ thi hành mà không có cơ chế pháp lý vững chắc để đảm bảo thi hành và nếu có thì việc thực thi đó thường phức tạp và tốn kém. IV. Thực trạng việc áp dụng hình thức trọng tài thương mại trong việc giải quyết các tranh chấp thương mại ở Việt Nam Trọng tài thương mại là phương thức giải quyết tranh chấp hiệu quả và khá thông dụng trên thế giới, song tại Việt Nam trọng tài thương mại lại rất mờ nhạt. Con đường tài phán này hiện không nhận được sự quan tâm của doanh nghiệp. Điểm qua hoạt động của các trung tâm trọng tài trong thời gian gần đây, ta có thể rút ra được một số thực trạng tiêu biểu về tình hình áp dụng hình thức trọng tài thương mại trong việc giải quyết các tranh chấp ở Việt Nam ta hiện nay, đó là: - Thứ nhất, về phía các trung tâm trọng tài: Theo kết quả nghiên cứu về sự cần thiết và việc sử dụng trọng tài trong giải quyết tranh chấp thương mại Việt Nam do Bộ tư pháp tiến hành mới đây cho thấy có đến 75% ý kiến cho rằng cần thiết thành lập trung tâm trọng tài, tuy nhiên, hiện nay trên cả nước mới có 6 trung tâm trọng tài (3 trung tâm tại Hà Nội, 2 trung tâm tại Thành phố Hồ Chí Minh, 1 trung tâm tại Cần Thơ). Thực ra trước đó cũng có 1 trung tâm trọng tài tại Bắc Giang, tuy nhiên trung tâm này thành lập ra do khó khăn về trụ sở rồi cũng giải tán. Tuy nhiên, ngoài Trung tâm trọng tài Quốc tế Việt Nam (bên cạnh Phòng Thương mại và công nghiệp Việt Nam) là còn có doanh nghiệp gõ cửa, các trung tâm trọng tài khác hầu như “ngồi chơi xơi nước”. Bên cạnh đó, theo thứ trưởng Bộ tư pháp Hoàng Tiến Liên: Trung tâm trọng tài Quốc tế Việt Nam (VIAC) mỗi năm chỉ xử lý được 20 – 25 vụ. Các trung tâm trọng tài khác khoảng 5 đến 7 vụ, thậm chí có trung tâm trọng tài không có vụ nào. Như vậy, trước vận hội mới, khi Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của WTO thì các trung tâm trọng tài thương mại đang đứng trước tình hình “nước sôi lửa bỏng”. Các tổ chức trọng tài thương mại hiện nay thực sự yếu cả về tổ chức, chất lượng cũng như năng lực trọng tài viên. “Nếu không có sự hỗ trợ của Nhà nước, cứ để các trung tâm trọng tài tự “bơi” trong hoạt động như các văn phòng luật sư hoặc các t

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docLDOCS (148).doc
Tài liệu liên quan